1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

goi y hoc tap mo dun 3 mon ngu van thpt

39 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô đun 3 môn Ngữ Văn Thpt
Trường học Trường đại học hoặc trung học phổ thông không rõ tên
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Tài liệu học tập
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 716,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, đánh giá năng lựckhông hoàn toàn phảidựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kỹ năng, bởi năng lực làtổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình

Trang 1

Đáp án tham khảo Mô đun 3 môn Ngữ Văn Trình bày các khái niệm: đo lường, đánh giá, kiểm tra

- Đo lường: Là việc so sánh một sự vật, hiện tượng với một thước đo hay chuẩn mực ,

có khả năng trình bày kết quả dưới dạng thông tin định lượng Nói cách khác, đo lườngliên quan tới việc sử dụng những con số vào quá trình lượng hóa các sự kiện, hiệntượng hay thuộc tính

Trong lĩnh vực giáo dục, thuóc đo trên đây của đo lường thường là tiêu chuẩn hoặc tiêuchí Tham chiếu theo tiêu chuẩn là đối chiếu kết quả cần đạt của người này với ngườikhác Ứng với tham chiếu này là các đề thi chuẩn hóa (Ví dụ như IELTS, SAT, ).Tham chiếu theo tiêu chí là đối chiếu kết quả đạt được của HS với các mục tiêu, yêucầu cần đạt của bài học, của hoạt động giáo dục

- Đánh giá:

+ Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp và diễn giải thông tin về

đối tượng cần đánh giá (Ví dụ như kiến thức, kĩ năng, năng lực của HS, kế hoạch dạyhọc, chính sách giáo dục) Qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết vềđối tượng

+ Đánh giá trong lớp học là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin liên quanđến hoạt động học tập và trải nghiệm của học sinh nhằm xác định những gì HS biết haychưa biết, hiểu hay chưa hiểu làm được hay chưa làm được Từ đó đưa ra quyết địnhphù hợp tiếp theo trong quá trình giáo dục HS

Trang 2

+ Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về kết quả học tập của HS vàđược diễn giải bằng điểm số/ chữ hoặc nhận biết của GV, từ đó biết được mức độ đạtđược của HS trong biểu điểm đang sử dụng hoặc trong tiêu chí đánh giá trong nhận xétcủa GV.

- Kiểm tra:

Kiểm tra là một cách tổ chức đánh giá (hoặc định giá), do đó nó có ý nghĩa như đánhgiá (hoặc định giá) Việc kiểm tra chú ý nhiều đến việc xây dựng công cụ đánh giá nhưcâu hỏi, bài tập, đề kiểm tra Các công cụ này được xây dựng trên một căn cứ xác định,chẳng hạn như đường phát triển năng lực hoặc các rubic trình bày các tiêu chí đánh giá

Thầy cô hãy cho ý kiến nhận xét của mình về sơ đồ hình sau:

Trang 3

*Quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực

HS thể hiện như sau: Đánh giá vì học tập, đánh giá là học tập, đánh giá kết quả học tập

- Đánh giá vì học tập:

Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học để GV phát hiện sự tiến bộcủa HS từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạy học Mục đích của đánh giá nhằm cungcấp thông tin để GV và Hs cải thiện chất lượng dạy học Kết quả của đánh giá

này không nhằm so sánh giữa các HS với nhau mà để làm nổi bật những điểm mạnh vàđiểm yếu của mỗi HS và cung cấp cho HS thông tin phản hồi để HS đó tiếp tục việc họccủa mình ở các giai đoạn tiếp theo Với đánh giá này, GV giữ vai trò chủ đạo

nhưng HS cũng được tham gia vào quá trình đánh giá HS có thể tự đánh giá hoặc đánhgiá lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của GV , qua đó học tự đánh giá được khả năng học tậpcủa mình để điều chỉnh hoạt động học tập được tốt hơn

- Đánh giá là học tập:

Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học(đánh giá quá trình) trong đó

GV tổ chức để HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, coi đó là một hoạt động họctập

để HS thấy được sự tiến bộ của mình so với yêu cầu cần đạt của bài học/môn học, từ đó

HS điều chỉnh việc học Với đánh giá này, HS giữ vai trò chủ đạo trong quá trình đánhgiá, HS tự giám sát hoặc theo dõi quá trình học tập của mình theo nhữngtiêu chí do GVcung cấp Kết quả này không được ghi vào học bạ mà chỉ có vai trò

như một nguồn thông tin phản hồi để người đọc tự ý thức khả năng học tập của mình ởmức độ nào từ đó thiết lập mục tiêu học tập cá nhân và lên kế hoạch học tập tiếp theo

Trang 4

- Đánh giá kết quả học tập : là đánh giá những gì HS đạt được tại thời điểm cuối mộtgiai đoạn giáo dục và được đối chiếu với chuẩn đầu ra nhằm xác nhận kết quả đó so vớiyêu cầu cần đạt của bài/môn học/ cấp học GV là trung tâm trong quá trình đánh giá vàngười học không được tham gia vào các khâu của quá trình đánh giá.

- - > Từ đó ta thấy quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩmchất, năng lực HS khác với quan điểm truyền thống về kiểm tra đánh giá về kĩ thuậtđánh giá, quá trình và đối tượng tham gia đánh giá

Sự khác biệt giữa mục đích chủ yếu của đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức,

kĩ năng là gì?

Về bản chất thì không có mâu thuẫn giữa đánh giá năng lực và đánh giá kiến thứckỹnăng, mà đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giákiếnthức, kỹ năng Để chứng minh HS có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơhội choHS được giải quyết vấn đề trong tình huống mang tính thực tiễn Khi đó HS vừaphải vậndụng những kiến thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa phải dùngnhững kinhnghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường(gia đình, cộngđồng và xã hội) Như vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụtrong bối cảnh thực,người ta có thể đồng thời đánh giá được cả kỹ năng nhận thức, kỹnăng thực hiện vànhững giá trị, tình cảm của người học Mặt khác, đánh giá năng lựckhông hoàn toàn phảidựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức,

kỹ năng, bởi năng lực làtổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị,chuẩn mực đạo đức,…được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tựnhiên về mặt xã hội củamột con người.Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơbản giữa đánh giá năng lực người học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người họcnhư sau:

Trang 5

Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực người học vàđánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:

1 Mục đích chủ

yếu nhất

- Đánh giá khả năng HS vận dụngcác kiến thức, kỹ năng đã học vàogiải quyết vấn đề thực tiễn của cuộcsống

- Vì sự tiến bộ của người học so vớichính họ

- Xác định việc đạt kiến thức,

kỹ năng theo mục tiêu củachương trình giáo dục

- Đánh giá, xếp hạng giữanhững người học với nhau

2 Ngữ cảnh đánh

giá

Gắn với ngữ cảnh học tập và thựctiễn cuộc sống của HS

Gắn với nội dung học tập(những kiến thức, kỹ năng, tháiđộ) được học trong nhà trường

3 Nội dung đánh

giá

- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ

ở nhiều môn học, nhiều hoạt độnggiáo dục và những trải nghiệm củabản thân HS trong cuộc sống xã hội(tập trung vào năng lực thực hiện)

- Quy chuẩn theo các mức độ pháttriển năng lực của người học

- Những kiến thức, kỹ năng, thái

độ ở một môn học

- Quy chuẩn theo việc ngườihọc có đạt được hay không mộtnội dung đã được học

Trang 6

5 Thời điểm

đánh giá

Đánh giá mọi thời điểm của quátrình dạy học, chú trọng đến đánhgiá trong khi học

Thường diễn ra ở những thờiđiểm nhất định trong quá trìnhdạy học, đặc biệt là trước và saukhi dạy

đánhgiá

- Năng lực người học phụ thuộc vào

độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập

đã hoàn thành

- Thực hiện được nhiệm vụ càngkhó, càng phức tạp hơn sẽ được coi

là có năng lực cao hơn

- Năng lực người học phụ thuộcvào số lượng câu hỏi, nhiệm vụhay bài tập đã hoàn thành

- Càng đạt được nhiều đơn vịkiến thức, kỹ năng thì càngđược coi là có năng lực cao hơn

Nêu tên các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

Các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh:

- Đảm bảo tình toàn diện và tính linh hoạt: Đánh giá phẩm chất, năng lực của HS làđánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ và sự vận dụng chúng để giải quyết thành công cáctình hướng thực tiễn Do vậy cần sử dụng đa dạng, linh hoạt các phương pháp nhằmmục đích mô tả hoàn chỉnh, chính xác và toàn diện năng lực HS

Trang 7

- Đảm bảo tình phát triển: Nguyên tác này đòi hỏi trong quá trình kiểm tra, đánh giá, cóthể phát hiện sự tiến bộ của HS , chỉ ra những điều kiện để cá nhân đạt kết quả tốt hơn

về phẩm chất vfa năng lực; phát huy khả năng tự cải thiện của Hstrong hoạt động dạyhọc và giáo dục

- Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn: Để chứng minh người học có phẩm chấtvfa năng lực ở mức độ nào đó, phải tạo cơ hội để họ được qỉai quyết vấn đề trong tìnhhuống, bối cảnh mang tính thực tiễn Vì vậy, kiểm tra đánh giá theo hướng phát triểnphẩm chất, năng lực HS chú trọng xây dựng những tình huống, bối cảnh thực tiễn để

HS được trải nghiệm và thể hiện mình

- Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học: Mỗi môn học đều có yêu cầu riêng về nănglực đặc thù được hình thành cho HS, vì vậy, việc kiểm tra đánh giá cũng phải đảm bảotính đặc thù của môn học nhằm định hướng cho GV lựa chọn và sử dụng các PP,công

cụ đánh giá phù hợp với mục tiêu và yêu cầu cần đạt của môn học

Tại sao có thể nói quy trình 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh tạo nên vòng tròn khép kín?

- 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh tạo nên vòng tròn khép kín vì kiểm tra,đánh giá là một phần không thể thiếu được của quá trình dạy học nhằm giúp HS tiến bộ.Kiểm tra, đánh giá vì sự tiến bộ nghĩa là quá trình kiểm tra, đánh giá phải cung cấpnhững thông tin phản hồi giúp HS biết mình tiến bộ đến đâu, những mảng kiến thức/kĩnăng nào có sự tiến bộ, mảng kiến thức/kĩ năng nào còn yếu để điều chỉnh quá trình dạy

và học Không chỉ GV biết cách thức, các kĩ thuật đánh giá HS mà quan trọng khôngkém là HS phải học được cách đánh giá của GV, phải biết đánh giá lẫn nhau và biết tựđánh giá kết quả học tập rèn luyện của chính mình Có như vậy, HS mới tự phản hồi với

Trang 8

bản thân xem kết quả học tập, rèn luyện của mình đạt mức nào/đến đâu so với yêu cầu,tốt hay chưa tốt như thế nào Với cách hiểu đánh giá ấy mới giúp hình thành năng lựccủa HS, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp HS nhận ra sự tiến bộcủa mình, khuyến khích động viên việc học tập.

- Kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS được thực hiệntheo quy trình 7 bước Quy trình này được thể hiện cụ thể:Xác định mục đích đánh giá

và lựa chọn năng lực cần đánh giá Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh

giá Xác định các tiêu chí/kĩ năng thể hiện của năng lực Xây dựng bảng kiểm đánh giámức độ đạt được cho mỗi kĩ năng Lựa chọn công cụ để đánh giá kĩ năng Thiết kế công

cụ đánh giá.Thẩm định và hoàn thiện công cụ Do đó đánhgiá năng lực người học làmột khâu then chốt trong dạy học Để đánh giá đúng năng lực người học, cần phải xácđịnh được hệ thống năng lực chung và năng lực chuyên ngành, xác định được các thành

tố cấu thành năng lực và lựa chọn được những

công cụ phù hợp để đánh giá, sao cho có thể đo được tối đa các mức độ thể hiện củanăng lực

Thầy, cô hiểu thế nào là đánh giá thường xuyên?

ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

*KHÁI NIỆM: Đánh giá thường xuyên là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trìnhthực hiện dạy học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS nhằm mục tiêu cải thiệnhoạt động dạy học Đánh giá thường xuyên được xem là đánh giá vì quá trình họctậphoawcj vì sự tiến bộ của người học

Trang 9

*MỤC ĐÍCH:

- Thu thập minh chứng liên quan đến kết quả học tập của HS để cung cấp những phjarnhồi cho GV và HS biết những gì họ làm được và chưa làm được so với yêu cầu để điềuchỉnh hạt động dạy và học, đồng thời khuyến nghị để HS làm tốt hơn trong thời điểmtiếp theo

- Tiên đoán hoặc dự báo những bài học hoặc chương trình tiếp theo được xây dựng nhưthế nào cho phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí của HS

- Đối tượng tham gia đánh giá thường xuyên rất đa dạng: GV đánh giá, HS đánh giá,

HS đánh giá chéo, phụ huynh đánh giá vfa đoàn thể đồng đánh giá

Trang 10

- Phương pháp kiểm tra đánh gí thường xuyên là: phương pháp kiểm tra viết, phươngpháp hỏi- đáp, phương pháp quan sát, đánh giá qua hồ sơ và sản phẩm học tập.

- Công cụ đánh giá thường xuyên có thể dùng là : Thang đánh giá, bảng điểm, phiếuđánh giátheo tiêu chí, câu hỏi, hồ sơ học tập

*CÁC YÊU CẦU:

- Cần xác định rõ mục tiêu để lựa chọn PP, công cụ đánh giá phù hợp

- Nhấn mạnh đến tự đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của bải học và phương hướngcải thiện để đáp ứng tốt hơn nữa

- Tập trung cung cấp thông tin phản hồi chỉ ra các nội dung cần chỉnh sửa đồng thời đưa

ra lời khuyên cho hành động tiếp theo

- Không so sánh HS này với HS khác, hạn chế những nhận xét tiêu cực

- Chú trọng đến đánh giá các phẩm chất, năng lực trên nền tản cảm xúc, niềm tin tíchcực

- Giảm thiểu sự trừng phạt, đe dọa, chê bai, tăng sự ngợi khen, độn viên HS

*VẬN DỤNG HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN TRONG MÔN NGỮVĂN:

- Đánh giá thường xuyên được tiến hành trong suốt quá trình dạy học và tích hợp vớiquá trình này

Thầy, cô hiểu như thế nào là đánh giá định kì?

Trang 11

*KHÁI NIỆM: Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của học sinh sau một giai

đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của họcsinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục phổ thôngcấp tiểu học và sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất học sinh

*MỤC ĐÍCH:

Nhằmthu thập thông tin từ HS để đánh giá kết quả học tập và giá dục sau một giai đoạnhọc tập nhất định Kết quả này dùng để xác định thành tích của HS, xếp loại HS và đưa

ra kết luận giáo dục cuối cùng

*NỘI DUNG,THỜI ĐIỂM NGƯỜI THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ

- Nội dung đánh giá định kì là đánh giá mức độ thành thạo của HS ở các yêu cầu cầnđạt về phẩm chất, năng lực sau một giai đoạn học tập (giữa kì, cuối kì)

- Đánh giá định kì thường được tiến hành sau khi kết thưc một giai đoạn học tập (giữa

kì, cuối kì)

- Người thực hiện (giữa kì, cuối kì)định kì có thể là: GV đánh giá, nhà trường đánh giá

và các tổ chức kiểm định các cấp đánh giá

*PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ:

- Phương pháp: có thể là kiểm tra trên giấy, thự chành, vấn đáp, đánh giá thông qua sảnphẩm học tập và thông qua hồ sơ học tập

- Công cụ: có thể là câu hỏi, bài kiểm tra, dự án học tập, sản phẩm học tập

*YÊU CẦU:

Trang 12

- Đa dạng hóa trong sử dụng các phương pháp và công cụ đánh giá.

- Chú trọng các phương pháp, công cụ đánh giá được những biểu hiện cụ thể về thái độ,hành vi, kết quả, sản phẩm học tập của HS gắn với các chủ đề học tập và hoạt động trảinghiệm theo hướng phát triển phẩm chất năng lực của HS

- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá trên máy để nângcao năng lực tự học cho HS,

*VẬN DỤNG HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ TRONG MÔN NGỮ VĂN:

- Dạy học trong môn ngữ văn đánh giá định kì được thự chiện ở thời điểm gần cuốihoặc cuối một giai đoạn học tập, do cơ sở giáo dục tổ chức Đánh giá định kì thườngthông qua các đề kiểm tra, các đề thi viết với hình thức tự luận hoặc kết hợp hình thứctrắc nghiệm khách quan và hình thức tự luận

- Có thể sử dụng hình thức kiểm tra vấn đáp (đánh giá nói và nghe ) nếu thấy cần thiết

Trang 13

+ Câu hỏi tự luận mở rộng: là loại câu hỏi có phậm vi mở rộng và khát quát, HS tự dobiểu đạt tư tưởng vfa kiến thức.

+ Câu hỏi tự luận giới hạn: là loại câu hỏi được diến đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi đượcnêu rõ để HS biết được độ dài ước chừng của câu trả lời

*Dạng trắc nghiệm khách quan:

- Mỗi bài trắc nghiệm khách quan bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi thường được trảlời bằng cách tự chọn một phương án cho trước

- Có 4 loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan"

+ Loại câu nhiều lựa chọn

+ Loại câu đúng sai

+ Loại câu điền vào chỗ trống

+ Loại câu ghép đôi

Thầy/ cô hãy đưa ra một ví dụ về phương pháp quan sát trong dạy học Ngữ văn.

Ví dụ về phương pháp quan sát trong dạy học Ngữ văn:

Trước tiên ta cần xác định rõ quan sát có hai dạng:

Trang 14

- Quan sát tiến hành chính thức và định trước: Ví dụ như GV đánh giá HS khi các

em đọc bài hay trình bày báo cáo trước lớp GV quan sát một tập hợp các hành vi của

HS như HS phát âm có rõ ràng không, có thể hiện sựt tự tin, hiểu sâu bài không

- Quan sát không định sẵn và không chính thức: Ví dụ như GV thấy HS nói chuyện

thay vì thảo luận bài học, thấy một HS bồn chồn không yên và nhìn ra cửa sổ trong suốtgiờ học hoặc một em HS có biểu hiện bị tổn thương khi bị bạn trong lớp trêu chọc vềquần áo của mình

Thầy/ cô hãy lấy một ví dụ về hỏi - đáp gợi mở và hỏi - đáp tổng kết trong dạy học một bài học Ngữ văn cụ thể.

- Hỏi đáp gợi mở: là hình thức GV đặt những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt HS rút ra nhữngnhận xét, những kết luận cần thiết từ những sự kiện đã quan sát được hoặc những tàiliệu đã học, được sử dụng khi cung cấp tri thức mới Ví dụ như GV hỏi HS những dạngcâu hỏi: từ những chi tiết đã phân tích, em rút ra kết luận gì về tính cách của nhân vật? ,

em có cảm nhận gì về tâm tình của nhà thơ qua các câu thơ vừa phân tích?

- Hỏi đáp tổng kết: Là dạng hỏi - đáp được sử dụng khi cần dẫn dắt HS khái quát hóa,

hệ thống hóa những tri thức đã học sau một vấn đề, một phần, một chương hay mộtmôn học nhất định Phương pháp này giúp HS phát triển năng lực khái quát hóa, hệthống hóa tránh nắm bắt những đơn vị tri thức rời rạc, giúp các em phát huy tính mềndeo của tu duy Ví dụ như GV có thể đặ các câu hỏi sau khi kết thúc tác phẩm thơ: Emhãy tổng kết lại mạch cảm xúc của nhân vật trữ trình được thể hiện trong bài thơ, hoặc

GV có thể đặt câu hỏi sau khi dạy xong về một nhân vật trong tác phẩm văn xuôi: Em

có cảm nhận gì về nhân vật này?

Trang 15

Bài giảng “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu):

Khi dạy phần: Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh

Tôi sử dụng câu hỏi sau để đưa học sinh đi từ đơn giản đến phức tạp, đến tình huống cóvấn đề

Hỏi - đáp gợi mở : Phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ nhiếp ảnh tại vùng biển nọ là

“một cảnh đắt trời cho” Anh (chị) hiểu một “cảnh đắt trời cho” ở đây nghĩa là thế nào?

Và vì sao người nghệ sĩ lại gọi cái cảnh tượng ấy như vậy?

Hỏi - đáp tổng kết: Trong phần Tiểu dẫn của bài học, tác giả Sách giáo khoa giới thiệu:

Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” kể lại chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời Qua bài học, anh (chị) đã hiểu điều đó như thế nào?

Trong thực tế dạy học, thầy/ cô đã sử dụng phương pháp đánh giá hồ sơ học tập cho học sinh như thế nào?

àHồ sơ học tập của học sinh là một bộ sưu tập có mục đích và có tổ chức những công

việc của học sinh, được tích lũy trong suốt một thời gian và thể hiện sự nỗ lực, tiến trìnhcủa học sinh và những gì các em đạt được Tôi đã sử dụng các pp đánh giá hồ sơ quahai loại

Trang 16

Hồ sơ đọc: Đọc hiểu văn bản theo loại thể là một yêu cầu cơ bản đối với việc dạy đọc

hiểu văn bản cho học sinh Ở bậc THPT, học sinh được tiếp cận một số thể loại cơ bảnnhư thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, kịch, với một số tiết nhất định theo quyđịnh.Hồ sơ đọc này có thể là một hồ sơ lưu trữ tất cả tài liệu đọc độc lập của học sinh;được học sinh dùng để chuẩn bị bài mới, ghi chép lại nhận xét của mình về từng bài họctrong sách giáo khoa; hoặc ở mức độ cao hơn là đọc những tác phẩm bên ngoài sáchkhoa (theo gợi ý của giáo viên hoặc theo sở thích cá nhân của học sinh)

Hồ sơ bài viết: Một học kì, theo quy định học sinh THPT phải viết tử 4 - 5 bài viết một

hồ sơ theo dõi sát sao quá trình tạo lập các loại văn bản được dạy trong sách giáo khoacũng như sự tiến bộ của chính người học trong suốt học kì hoặc cả năm học là việc cầnthiết Vào đầu học kì, giáo viên thông báo cho học sinh biết số lượng bài viết cần thựchiện trong suốt học kì Căn cứ vào đó học sinh sẽ biết số lượng bài viết tối thiểu mìnhcần thực hiện trong hồ sơ bài viết

Sau đó, trước mỗi bài viết (trước đây là bài kiểm tra) giáo viên cần xác định rõ yêu cầucủa bài viết, tiêu chuẩn đánh giá để làm căn cứ thực hiện cho học sinh

Sau khi học sinh thực hiện bài viết đầu tiên, giáo viên có thể xem xét và ghi lại lời đánhgiá cho học sinh Lời nhận xét này cần bao gồm hai phần: Phần ưu điểm cần phát huy

và phần nhược điểm cần khắc phục trong những bài viết sau thật ngắn gọn và rõ ràng

Ở giai đoạn này giáo viên có thể cho điểm để học sinh dễ dàng biết được mức độ nănglực của mình hoặc không cho điểm tùy theo mục đích riêng

Trang 17

Ở bài viết thứ hai, giáo viên cũng tiến hành thao tác nhận xét tương tự Tuy nhiên ởbước này giáo viên cần so sánh bài viết này với bài viết trước để học sinh nhận ra sựtiến bộ (hoặc giảm sút) của mình qua từng bài viết.

Lần lượt như thế suốt cả học kì, giáo viên sẽ có phần tổng kết nhận xét sự tiến bộ củahọc sinh qua từng bài viết Tự bản thân mỗi học sinh cũng sẽ đánh giá được năng lựccủa mình

1.Theo thầy/cô, sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm có thể đánh giá được năng lực chung và phẩm chất của học sinh không?

Sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm có thể đánh giá được năng lực chung và phẩmchất của học sinh nhưng tùy vào ngữ cảnh cụ thể

- Đối với sản phẩm giới hạn ở những kĩ năng thực hiện trong phạm vi hẹp như : cắt hình,xếp hình, hát một bài sẽ chỉ đánh giá được kĩ năng của HS

- Đối với sản phẩm đòi hỏi người học phải kết hợp nhiều nguồn thông tin, các kĩ năng

có tính phức tạp hơn và mất nhiều thời gian hơn có thể đánh giá được năng lực chung

và phẩm chất của HS bởi vì phải huy động nhiều kiến thức, kĩ năng, thái độ để đáp ứngđược yêu cầu đã đưa ra và tốn thời gian để hoàn thành sản phẩm, vì thế trong quá trìnhhợp tác với các thành viên khác, GV có thể quan sát thái độ và kĩ năng của từng HS chođến khi sản phẩm được hoàn thành

4.Theo thầy/cô, trong dạy học Ngữ văn, có những dạng sản phẩm học tập nào?

Trang 18

1.Trình bày định hướng đánh giá kết quả giáo dục theo Chương trình giáo dục phổ thông (2018).

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tiếp cận năng lực tập trungvào các định hướng sau:

- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học (đánh giá tổngkết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại hình thức đánh giáthường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích phản hồiđiều chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá trình);

- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực của người học.Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức, … sang đánh giánăng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giácác năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo;

- Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học sang việctích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một phương pháp dạy học;

Trang 19

- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sử dụng các phầnmềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độgiá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá.

- Căn cứ đánh giá: Căn cứ đánh giá kết quả giáo dục trong môn ngữ văn là yêu cầu cầnđạt về phẩm chất, năng lực dối với HS mỗi lớp học, cấp học quy định trong chươngtrình

- Nội dung đánh giá: trong môn ngữ văn, Gv đánh giá phẩm chất, năng lực chung, nănglực đặc thù và sự tiến bộ của HS qua các hoạt động học (Viết, nói, nghe)

- Cách thức đánh giá: đánh giá trong môn ngữ văn được thực hiện bằng hai cách : Đánhgiá thường xuyên và đánh giá định kì

Thầy / cô hãy chia sẻ kinh nghiệm của mình về việc xây dựng đề kiểm tra.

Ngày đăng: 01/01/2023, 07:11

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w