1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vốn con người, một vốn đặc biệt

15 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vốn con người, một vốn đặc biệt
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Chicago
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1964
Thành phố Chicago
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 415,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một thời gian dài bị xem nhẹ vì những lí do ý th ức hệ, vốn con người đã được lí thuyết kinh tế công nhận, rồi dần dần đi vào ngôn ngữ thông thường, kể từ lần xuất bản đầu tiên tác phẩm

Trang 1

ĐỀ TÀI VỐN CON NGƯỜI, MỘT VỐN ĐẶC BIỆT

Vốn con ngư ời là toàn b ộ những năng lực lâu dài mà vi ệc sở đắc và sở hữu khiến con người có năng su ất hơn trong nh ững hoạt động khác nhau c ủa mình Những năng l ực này, một phần là bẩm sinh và một phần là sở đắc nhờ những đầu tư c ủa con ngư ời để tự nguyện huy động những nỗ lực và phí tổn cá nhân B ản chất những đầu tư con ngư ời này là vô cùng đa d ạng

và bao gồm kiến thức, kĩ năng, sức khỏe, sự dịch chuyển và động cơ của các tác nhân Một thời gian dài bị xem nhẹ vì những lí do ý th ức hệ, vốn con người đã được lí thuyết kinh tế công nhận, rồi dần dần đi vào ngôn ngữ

thông thường, kể từ lần xuất bản đầu tiên tác phẩm của Becker: Human Capital [Vốn con người] (1964)

Gary Stanley Becker được 34 tuổi vào lúc tác phẩm này được xuất bản, từ

đó quyển sách được tái bản hai lần, năm 1975 và 1993, và m ỗi lần đều có

bổ sung Bảy năm trước đó, ông đã thể hiện mối quan tâm đối với những vấn đề “xã hội”, thoát ra kh ỏi một quan niệm hạn hẹp về phạm vi c ủa phân tích kinh tế do truy ền thống áp đặt khi cho xu ất bản luận văn tiến sĩ của

mình, The Economics of Discrimination [Kinh tế học về sự phân biệt đối

xử] (1957) Trong su ốt sự nghiệp của mình, phong cách r ất dễ nhận diện

Trang 2

của Gary Becker mang m ột dấu ấn kép: ông không ngừng

mở rộng trư ờng của phân tích kinh t ế và tuân th ủ nghiêm ngặt những

nguyên lí kinh t ế của học thuyết chính th ống về tính duy lí c ủa các tác nhân và v ề sự cân bằng của các thị trường Đặc biệt, ta gặp lại phong cách

này trong tác ph ẩm chủ yếu thứ hai của ông là A Treatise on the

Family [Chuyên lu ận về gia đình] (1981)

Khi Gary Becker b ắt đầu sự nghiệp hàn lâm thì tổng hợp tân c ổ điển đã hoàn tất Các lí thuyết về tư bản, tăng trư ởng kinh tế đã khá phát triển Nhưng lí thuyết tân cổ điển vẫn còn nhiều bí ẩn trong nhiều lĩnh vực khác nhau như các lí thuyết về tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập hay thương mại quốc tế mà khái niệm vốn con người dường như có khả năng giải quyết Do đó vào cu ối những năm 1950, v ốn con người hiện ra như một khái ni ệm đầy hứa hẹn có khả năng trám một khoảng trống trong kiến trúc tân c ổ điển Tại đại học Chicago, The odore W Schultz (1961) kh ởi xướng một chương trình nghiên cứu rộng lớn về những đầu tư vào vốn con người bao phủ tất cả những khía cạnh của hiện tượng: giáo dục, đào tạo trên thực địa, y tế, di dân Gary Becker tham gia chương trình này và s ẽ là kiến trúc sư của sự tổng hợp (về vốn con ngư ời – ND)

Trang 3

Theodore Schultz (1902 -1998)

Vốn con ngư ời, một vốn đặc biệt

Vốn xã hội là một khái niệm bao trùm mà nguyên m ẫu đư ợc Becker chọn trong phần lớn trình bày c ủa ông là sự đào tạo qua thực hành Học sinh đang học tập, nhân viên tham dự một khóa đào tạo chịu những chi phí và hi sinh trong su ốt thời kì đào tạo nhằm có đư ợc những lợi thế trong tương lai cho suốt cuộc đời còn lại Một phần lớn những lợi thế này đư ợc cấu thành

từ sự gia tăng thù lao mong đ ợi trong su ốt cuộc đời lao động Do đó đào tạo quả thật là một đầu tư kinh tế Đối với rất nhiều cuộc đầu tư vào con người, thời gian bỏ ra cho điều này là một phần quan trọng của tổng chi phí Đó là một chi phí cơ hội được đo bằng, ví dụ, thu nhập bị hy sinh để theo đuổi học tập thêm một năm nữa

Nếu Yt là những thu hoạch của thời kì t và C t là tổng chi phí của sự đào tạo nhận đư ợc trong th ời kì này thì l ợi tức của đầu tư con ngư ời nhận đư ợc vào thời điểm t+1 là:

(1) Yt + 1 - Yt = rt Ct

Chắc chắn nhân t ố quan tr ọng nhất của cầu đầu tư là tỉ suất lợi tức rt

Trong lúc người tiêu dùng bị của cải của mình ràng buộc và chịu ảnh

hưởng của thị hiếu bản thân thì người đi học và đi thực tập, trên nguyên

Trang 4

tắc, có thể tài trợ cho vi ệc đào tạo bằng tín d ụng và, n ếu tín dụng dành cho

sự tài trợ đào tạo không bị hạn mức, và họ chỉ còn nhạy cảm với tỉ suất sinh lời của sự đào tạo

Tuy nhiên, vốn con ngư ời khác với vốn hữu hình hay v ốn tài chính ở việc

nó hiện thân vào m ột cá nhân Ví d ụ, kiến thức và bí quyết thu nhận được qua một sự đào tạo hay thực tập trên hi ện trư ờng được nhập thân vào nhân viên sở đắc sự đào tạo ấy Người sử dụng lao động chỉ hưởng được đầu tư này trong chừng mực là ngư ời lao động đư ợc đào tạo tiếp tục làm việc cho mình Trong h ệ thống nô l ệ, người sử dụng lao động sở hữu hoàn toàn những người nô lệ làm vi ệc cho mình và qu ản lí vốn con người “của mình” theo như cách quản lí những trang thiết bị có ích khác Nhưng, trong m ột

xã hội tự do, mỗi cá nhân sở hữu vốn con ngư ời của bản thân, và chỉ của bản thân thôi Ngư ời sử dụng lao đ ộng không có b ất kì quyền sở hữu nào trên người làm công và phải tính đến sự cơ động có thể ít nhiều tốn kém cho bên này cũng như bên kia, tùy theo b ản chất của sự đào tạo

Becker đối lập hai kiểu đào tạo: đào tạo tổng quát, có thể chuyển nhượng cho tất cả các doanh nghiệp mà không mất mát, và đào tạo đặc thù làm

tăng hơn nữa – tới giới hạn, chỉ làm tăng độc nhất – doanh nghiệp tổ chức việc đào tạo ấy Một ngư ời sử dụng lao động cung cấp đào tạo tổng quát cho nhân viên bi ết rằng mình s ẽ không hư ởng được những lợi tức tương lai

vì các doanh nghi ệp cạnh tranh s ẵn sàng tr ả cho nhân viên đư ợc mình đào tạo một mức lương bằng với năng suất mới của nhân viên này mà không phải tốn kém gì Do đó, ngư ời sử dụng lao đ ộng đầu tiên s ẽ không muốn gánh chịu chi phí c ủa việc đào tạo tổng quát Chi phí này s ẽ do nhân viên, người nhận hết những lợi tức của việc đào tạo gánh chịu Ngược lại, người

sử dụng lao động khi cung c ấp một đào t ạo đặc thù cho nhân viên ch ấp nhận gánh chịu một hay toàn phần chi phí do tính cơ đ ộng bị hạn chế mà việc đào tạo này gây nên cho phép ngư ời sử dụng lao đ ộng hi v ọng thu hồi

Trang 5

một phần tương ứng trong những lợi tức tương lai Tóm l ại, lương tr ả cho nhân viên không tính đến chi phí của sự đào tạo thông thường do người này gánh chịu, tức là:

(2) Wt = Yt - aCt

với a = 1 nếu đào tạo có tính t ổng quát và 0 <= a < 1 nếu đào t ạo có tính đặc thù Chi phí của những đầu tư con người nói chung không thể được khấu hao su ốt thời gian tồn tại của chúng, như cách th ực hành k ế toán đối với những đầu tư hữu hình, vì công ti không th ể thu hồi lại vốn con ngư ời Toàn bộ đầu tư con ngư ời phải được tức thì khấu trừ khỏi thu nhập Tương

tự như thế đối với sự hao mòn tự nhiên của vốn con ngư ời

Sử dụng các phương trình (1) và (2), Becker cho th ấy bằng cách nào có th ể ước lượng, chỉ từ việc quan sát các thu hoạch không thôi, tổng chi phí con người thuộc đủ loại (được xác định một cách thích hợp) lẫn tỉ suất lợi tức trung bình của chúng Trong l ần xuất bản thứ nhất của tác phẩm, chính ông

tiến hành tính t ỉ suất lợi tức nội tại của giáo dục ở các cấp trung h ọc (high school) và đại học (college) Ví d ụ, có thể tính đơn giản tỉ suất lợi tức nội

tại của giáo d ục trung học r bằng cách làm b ằng nhau giá trị hiện tại của những thu ho ạch, được đo từ tuổi giáo dục bắt buộc, của những ngư ời hoạt động có trình độ tiểu học với giá trị hiện tại của những thu hoạch của

những người hoạt động có trình đ ộ trung học:

Nhiều bài học đư ợc rút ra từ phép tính các t ỉ suất lợi tức nội tại của giáo dục Mức thường cao c ủa những tỉ suất này (cao hơn 10% theo giá th ực tế) minh chứng cho kh ả năng sinh l ời của giáo dục so với những đầu tư hữu hình và phản ảnh đúng c ầu rất mạnh của giáo d ục trong thế kỉ XX Những

Trang 6

khác biệt về tỉ suất giữa ngư ời có bằng và không có b ằng, nam gi ới và nữ giới, ngư ời da trắng và ngư ời (Mĩ) da đen, hay gi ữa các cấp học cung cấp nhiều chỉ dẫn quý báu về những khác biệt về cơ hội hay năng lực (Becker, 1967) và về những phân bi ệt đối xử có thể giữa các nhóm Phương pháp t ỉ suất lợi tức nội tại được Lévy-Garboua và Mingat (1979) v ận dụng vào các

dữ liệu của Pháp

Nhưng Becker không dừng lại ở việc khai thác sự tương đồng có thể có giữa đầu tư con ngư ời và đầu tư phi con ngư ời Thật vậy, ông nh ận thấy rằng vốn con ngư ời có những đặc điểm thiết yếu do vi ệc nó hóa thân vào con người và phải viết lại một phần lí thuyết tư bản để thích nghi nó với vốn đặc biệt này Xin li ệt kê bốn ví dụ

• Nếu những lợi tức cận biên c ủa đầu tư vào giáo d ục giảm kể từ một

độ tuổi nhất định thì sẽ là kinh tế khi dành toàn bộ thời gian cho học tập vào đ ầu cuộc đời Chính vì th ế mà trư ớc tiên trẻ em đi h ọc Trong đời sống lao động, vẫn còn những đầu tư về đào tạo nhưng theo một nhịp độ giảm dần Ben Porath (1967) đã trình bày m ột cách ch ặt chẽ vấn đề tích lũy vốn con ngư ời trong su ốt vòng đ ời

• Biến thiên của tỉ suất lương tùy theo tu ổi phản ảnh ít nhi ều chu kì tích lũy vốn con người Tỉ suất lương tăng khi đầu tư thuần về vốn con người là dương và giảm trong trường hợp ngược lại Thế mà đầu

tư có xu hướng giảm với tuổi tác, một mặt vì chi phí thời gian của đầu tư tăng khi lương còn tăng, và mặt khác, một cách tự nhiên, số năm còn lại để có thể thụ hưởng lợi tức giảm với tuổi tác Hơn nữa, vượt qua một tuổi nhất định, sự mất giá của vốn con người có xu hướng tăng tốc Do đó, đầu tư thuần, vốn phụ thuộc vào diễn tiến của đầu tư gộp và sự mất giá, giảm khi tuổi càng cao Hình dáng cặp

“tuổi-thu hoạch” có dạng lõm rất đặc trưng và có thể giảm khi vượt một ngư ỡng tu ổi

Trang 7

• Việc cá nhân hóa v ốn con ngư ời là một sự bảo vệ tự nhiên phòng ngừa nguy cơ b ị kẻ khác chiếm đoạt Sự bảo vệ này, tất nhiên không phải là tuyệt đối (cf chế độ nô lệ) củng cố đáng kể việc khuyến

khích đầu tư vào vốn con người Nhưng, mặt khác do mọi huy chương đều có mặt trái, tính không thích h ợp của vốn con người là một

chướng ngại vật cho tín dụng để tài trợ việc tích lũy này vì ngư ời cho vay không có gì b ảo đảm cho khả năng chi trả của người đi vay Hệ quả là thị trường tín d ụng để tài trợ vốn con người tất nhiên không hoàn hảo bằng thị trường tín dụng dành cho việc tài trợ vốn phi con người Hạn mức tín dụng cho giáo dục ảnh hưởng nhiều đến con em các tầng lớp dưới hơn là con em thu ộc các tầng lớp khác trong ch ừng mực là các con em này không th ể trông chờ vào sự hỗ trợ cao về mặt tài chính của cha m ẹ Như vậy tất cả diễn ra như thể là, với một số tiền nhất định, đối với ngư ời nghèo đầu tư vào giáo d ục là tốn kém hơn là đối với người giàu Tính không hoàn hảo của tín dụng dành cho việc tài trợ giáo dục là nguyên nhân chính c ủa những bất bình đẳng về cơ hội

• Việc vốn con ngư ời nhập thân vào nhà đ ầu tư giới hạn những khả năng tích lũy của người này do khả năng ấy phụ thuộc vào năng lực thể chất và của bộ não của anh/chị ta Nói cách khác, ở cấp độ cá nhân, lợi tức cận biên của đầu tư phải giảm khi nỗ lực tăng d ần Đây

là hiện tư ợng đặc thù của riêng v ốn con ngư ời vì một nhà đầu tư

thường có thể đầu tư bao nhiêu tiền mình muốn theo lãi suất thị

trường (sau khi đã loại trừ rủi ro) Cho nên một cá nhân tích lũy vốn con người cho đến khi nào lợi tức cận biên của mình còn vượt mức lãi suất thị trường Vượt qua ngưỡng này, cá nhân s ẽ chỉ còn tích lũy vốn phi con ngư ời Do đó nhà “tư b ản” công nghiệp hay tài chính có

Trang 8

thể gia tăng s ản nghiệp của mình gần như không gi ới hạn trong lúc con người có văn hóa thì không làm đư ợc như thế

Một lí thuy ết mở rộng về những nguồn lực con người

Lí thuyết vốn con người tức thì có ti ếng vang vì những lí do lí thuy ết lẫn thực nghiệm

Trên bình diện lí thuyết, lí thuyết vốn con ngư ời đư ợc cảm nhận như phần còn thiếu của lí thuyết tư bản mà việc bổ sung này cho phép mô t ả một tập rộng lớn những hiện tượng chưa được giải thích Xin nêu ba ví d ụ:

• Khi tìm cách gi ải thích tăng trư ởng kinh tế dài hạn chỉ bằng những lượng lao động và những lượng tư bản, Denison tìm ra một một phần

dư thừa vừa quan trọng vừa bất ngờ Một phần có ý nghĩa của sự dư thừa này đư ợc quy cho những tiến bộ to lớn của giáo d ục, đào t ạo, y

tế, kiến thức khoa h ọc và kĩ thu ật dư ới mọi hình thức

• Sự phân bổ thu nhập và lương là khá “b ất công” – dồn về bên phải, với một thu nhập trung bình vư ợt hẳn thu nh ập trung v ị và xấp xỉ có dạng log-chuẩn Phải chăng các thiên hư ớng và năng lực tự nhiên được phân phối không đều và tập trung vào một thiểu số của tổng thể thống kê? Mincer (1958) bác b ỏ kết luận này bằng cách chỉ ra là tính log-chuẩn của thu nhập rất có thể là do m ột phân b ố chuẩn của những cấp độ học vấn

• Ở Hoa Kì lao động được giả định là nhân tố khan hiếm, và tư bản là nhân tố dồi dào Tuy nhiê n, các khu v ực sử dụng tương đ ối cao lao động của nước này lại xuất khẩu nhiều và các khu vực sử dụng tương đối cao tư bản lại nhập khẩu nhiều Quan trắc này là một nghịch lí cho lí thuy ết thương mại quốc tế của Hechkscher-Ohlin Đặc biệt, Léontief (1956) đề xuất một giải thích nghịch lí này – từ nay mang tên ông – bằng cách đưa thêm vào m ột nhân t ố thứ ba, vốn con người

Trang 9

và khẳng định rằng Hoa Kì vẫn tương đ ối dồi dào về vốn con ngư ời hơn là về tư bản hữu hình

Jacob Mincer (1922 -2006)

Ngày nay chúng ta khó hình dung đâu là nh ững đổi mới của phân tích kinh

tế là kết quả của lí thuyết vốn con ngư ời ngay sau khi lí thuy ết này xuất hiện Nhờ lí thuyết này mà có m ột sự phát triển kì diệu của kinh tế học lao động, hơn nữa được hỗ trợ bởi việc tiếp cận những cơ sở lớn về dữ liệu cá nhân Thật vậy, nguyên lí nh ững khác biệt bù trừ nhau đư ợc Adam Smith phát biểu tìm th ấy một ứng dụng hoàn hảo trong phương trình (1) B ằng cách giả định rằng thêm một thời kì đào t ạo làm tăng vĩnh vi ễn mức thu hoạch, có th ể sử dụng lí thuyết này để so sánh mức (bất biến) của lương trước và sau sự đào tạo ấy Chênh lệch về lương mà vế bên trái của phương trình (1) cho th ấy phải không thấp hơn lợi tức mà người lao đ ộng cận biên đòi hỏi để “bù đắp” cho nỗ lực đầu tư con người bỏ ra nhằm có được việc làm chuyên môn cao nh ất có thể Sự cạnh tranh trên th ị trường lao đ ộng sẽ khiến cho chênh lệch lương này bằng đúng v ới sự khác biệt bù trừ Cũng giống như trong lí thuy ết cổ điển về lương, chính nh ững điều kiện của cung lao động ấn định tỉ suất lương thông qua việc sản xuất vốn con người

Jacob Mincer (1974) có l ẽ là người đã khai thác tri ệt để trực giác này khi

đề xuất một dạng kinh trắc của hàm thu nhập cực kì đơn giản:

(4) log Yt = log Y 0 + rSt + bXt + et

Trang 10

với et là số hạng sai s ố Phương trình này th ể hiện việc là loga tự nhiên của lương là một hàm afin của thời lượng học tập St và của những biến kinh nghiệm nghề nghiệp Xt Hệ số tương quan c ủa thời lượng học tập không gì khác hơn là tỉ suất lợi tức trung bình của những năm tháng học tập này Phiên bản đư ợc ước lư ợng nhiều nhất của hàm thu ho ạch này là m ột hàm cấp hai của kinh nghiệp nghề nghiệp Kiểu hàm thu ho ạch này đã đư ợc ước lượng vô số lần vì nó chỉ vận dụng những biến dễ thích hợp (mức học vấn

và tuổi, từ đó có th ể suy ra một giá trị xấp xỉ của kinh nghiệm) và m ột phương pháp sơ đẳng (bình phương bé nhất) Đặc biệt, nó đã cho phép tính những tỉ suất lợi tức của giáo d ục (Psacharopoulos, 1994) trên m ột số lớn quốc gia Các kết quả được đánh giá là tương đ ối vững bền mặc dù còn nhiều vấn đề kinh trắc đư ợc nêu lên đối với phép tính này (Griliches,

1977)

Zvi Griliches (1930 -1999)

Khỏi cần phải nói r ằng lí thuy ết vốn con ngư ời đã cung c ấp một cơ sở quan niệm cho tới lúc bấy giờ vẫn còn thiếu để nghiên c ứu kinh tế giáo dục, y tế (trong một chừng mực ít hơn), các cuộc di chuyển hay tính cơ đ ộng nghề nghiệp Lí thuyết này cũng ảnh hư ởng đến lí thuy ết thông tin, đ ặc biệt thông qua sự xuất hiện của lí thuyết tín hi ệu (Spence, 1973) Th ật vậy, lí

Ngày đăng: 30/12/2022, 07:22