1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập lớn môn KINH tế CHÍNH TRỊ MARX LENIN đề bài thực trạng CNH hđh ở việt nam hiện nay

24 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng CNH-HĐH ở Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hiếu
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 282,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay,công nghiệp hóa đã được thực hiện thành công ở một số quốc gia, nhưng cũng có nhiều quốc giakhác mà công nghiệp hóa vẫn đang trong quá trình hoàn thiện trong với những trình

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

–––––––***–––––––

BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MARX–LENIN

ĐỀ BÀI: Thực trạng CNH-HĐH ở Việt Nam hiện nay

Họ và tên SV: Nguyễn An Quỳnh Lớp tín chỉ: Phân tích Kinh doanh K63

Mã SV: 11215084

PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hiếu

HÀ NỘI, THÁNG 04 NĂM 2022

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

I Có sở lý thuyết 1

1 Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa 1

2 Tính tất yếu và khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 2

3 Đặc điểm CNH-HĐH ở Việt Nam 4

II Liên hệ thực tiễn 4

1 Thành tựu CNH-HĐH của Việt Nam 4

1.2 Tăng trưởng về kinh tế 6

1.3 Vị thế của Việt Nam dần được khẳng định trên bản đồ kinh tế thế giới 11

2 Những mặt hạn chế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta hiện nay 11

3 Một số giải pháp với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của Việt Nam 14

3.1 Giáp pháp vĩ mô 14

3.2 Trách nhiệm và vai trò của thanh niên trong công cuộc CNH-HĐH đất nước 17

KẾT LUẬN 18

NGUỒN THAM KHẢO 19

Trang 5

I Có sở lý thuyết

1 Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa

Mốc đánh dấu sự khởi đầu của Cách mạng Công nghiệp thế giới là vào giữa thế kỷ 18, khi nhiềuquốc gia phương Tây, trong đó có Vương quốc Anh, tiến hành Cách mạng Công nghiệp, chuyểnnội dung của nó từ thủ công sang cơ khí Ở một số quốc gia, chẳng hạn như Hoa Kỳ và NhậtBản, đã có một thế hệ công nghiệp hóa sau Cách mạng Công nghiệp Anh, nhưng phải đến thế kỷ

19, cách mạng công nghiệp mới được thay thế bằng thuật ngữ công nghiệp hóa Cho đến nay,công nghiệp hóa đã được thực hiện thành công ở một số quốc gia, nhưng cũng có nhiều quốc giakhác mà công nghiệp hóa vẫn đang trong quá trình hoàn thiện trong với những trình độ phát triểnkhác nhau, từ đó dẫn đến sự khác nhau trong cách định nghĩa công nghiệp hóa của từng quốc gia.Khái niệm đơn giản nhất về công nghiệp hóa được các học giả phương Tây đưa ra dựa trên cáinhìn tổng quan về lịch sử hình thành công nghiệp hóa ở Tây Âu và Bắc Mỹ, rằng công nghiệp

hóa là “là việc đưa các đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, mà thực chất là trang bị các nhà máy cho một vùng, hay một nước ” Tuy nhiên, tầm nhìn công nghiệp hóa này vẫn chưa bao

hàm mục tiêu, cột mốc và tính lịch sử của quá trình công nghiệp hóa

Sách giáo khoa kinh tế chính trị của Liên Xô được dịch sang tiếng Việt Nam 1958, cũng đã địnhnghĩa “ công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sựphát triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến.”

Ý kiến cho rằng công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp nặng trước hếtcủa các nhà kinh tế Liên Xô đã được chúng ta tiếp cận nhưng không có những phân tích cụ vềđiều kiện, tình hình nước ta lúc bấy giờ, dẫn đến một số sai lầm trong những năm đầu thực hiệncông cuộc CNH-HĐH ở nước ta

Khái niệm về công nghiệp hóa cũng được đưa ra bởi Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên

hợp quốc (UNIDO) như sau “Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên phát triển một cơ cấu kinh tế nhiều ngành với kỹ thuật hiện đại” Khái niệm này coi công nghiệp hoá là

một quá trình bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên nó phù hợp với cácnước phát triển có điều kiện ứng dụng các thành tựu hiện đại của khoa học và công nghệ

Trên cơ sở các quan niệm đó, trong cuốn giáo trình kinh tế chính trị Mác Leenin đã khái quát lạicông nghiệp hóa là “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh,dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một

Trang 6

cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên

sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, nhằm tạo ra năng suất lao động

xã hội cao”

Liên hệ đến Việt Nam, trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam

(1960), Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Công nghiệp hóa là quá trình thực hiện cách mạng

kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao động xã hội và là quá trình tích lũy xã hội chủ nghĩa

để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng” Khái niệm này thể hiện rõ tổng thể nội dung,

mục tiêu và lịch sử của quá trình công nghiệp hóa; và nó được coi là quan niệm chính thống vềcông nghiệp hóa vào thời điểm đó Vấn đề duy nhất của khái niệm này là nó dường như đồngnhất công nghiệp hóa với cuộc cách mạng kỹ thuật

Phải đến Hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ VII khoá VI và đại hội đại biểu toàn quốcthứ VII Đảng cộng sản Việt Nam thì khái niệm Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa mới được đưa ralần đầu tiên Đảng ta cho rằng “Hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là làm cho kĩ thuật và côngnghệ sản xuất, cơ cấu kĩ thuật đạt được trình độ tiên tiến của thời đại”, “CNH, HĐH là quá trìnhchuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất và kinh doanh ,dịch vụ và quản lý kinh tế

xã hội từ sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phươngpháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo

ra năng xuất lao động xã hội cao ” Khái niệm công nghiệp hoá như vậy Đảng ta đã xác định rộnghơn những quan điểm trước đó bao gồm tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ vàquản lý kinh tế xã hội được sử dụng bằng các phương tiện tiên tiến hiện đại cùng với kĩ thuật vàcông nghệ cao Như vậy tư tưởng CNH không bó hẹp trong phạm vi các trình độ lực lượng sảnxuất đơn thuần, kĩ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quanniệm trước đây

2 Tính tất yếu và khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Một là, lý luận và thực tiễn cho thấy, công nghiệp hóa là quy luật phổ biến của sự phát triển lựclượng sản xuất xã hội mà mọi quốc gia đều trải qua dù ở các quốc gia phát triển sớm hay cácquốc gia đi sau

Công nghiệp hóa là quá trình tạo ra động lực mạnh mẽ cho nền kinh tê, là đòn bẩy quan trọngtạo sự phát triển đột biến trong các lĩnh vực hoạt động của con người Thông qua công nghiệphóa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân được trang bị những tư liệu sản xuất, kỹ

Trang 7

thuật công nghệ ngày càng hiện đại, từ đó nâng cao năng suất lao động, tạo ra nhiêu của cải vậtchất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của con người.

Mỗi phương thức sản xuất có một cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng Cơ sở vật chất - kỹ thuậtcủa một phương thức sản xuất là hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phùhợp với trình độ kỹ thuật mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để tiến hành quá trình lao độngsản xuất Cơ sở vật chất - kỹ thuật được xem là tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hiện đại của mộtnền kinh tế, nó cũng là điều kiện quyết định để xã hội có thể đạt được một năng suất lao độngnào đó Bất kỳ quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hộiphải là nền kinh tế hiện đại: có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độkhoa học và công nghệ hiện

Hai là, đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội như nước ta,xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải thực hiện từ đầu thông qua côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một bướctăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất

và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đó từng bước nâng dầntrình độ văn minh của xã hội

Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam, trước hết là nhằm xây dựng cơ sở vật chất

-kỹ thuật cho nền kinh tế dựa trên những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại Mỗibước tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là một bước tăng cường cơ sở vật chất -

kỹ thuật của CNXH, đồng thời củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, làm cho nền sảnxuất xã hội không ngừng phát triển, đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân khôngngừng được nâng cao

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển lực lượng sản xuất, nhằm khai thác, phát huy và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, nâng cao dần tính độc lập, tự chủ của nềnkinh tế Đồng thời, thúc đẩy sự liên kết, hợp tác giữa các ngành, các vùng trong nước và mở rộngquan hệ kinh tế quốc tế, tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày cànghiệu quả

Quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm cho khối liên minh công nhân, nông dân

và trí thức ngày càng được tăng cường, củng cố, đồng thời nâng cao vai trò lãnh đạo của giai cấpcông nhân

Trang 8

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá được thực hiện cũng sẽ tăng cường tiềm lực cho an ninh, quốcphòng, góp phần nâng cao sức mạnh của an ninh, quốc phòng, đồng thời tạo điều kiện vật chất

và tinh thần để xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa

Như vậy, có thể nói công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhân tố quyết định sự thắng lợi của conđường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn

3 Đặc điểm CNH-HĐH ở Việt Nam

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu "dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và Việt Nam đang tích cực,chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

1 Thành tựu CNH-HĐH của Việt Nam

Trong những năm qua quá trình CNH-HĐH diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thu được rấtnhiều thành tựu to lớn Nhìn vào một số chỉ tiêu cơ bản, có thể chỉ ra rằng rằng công nghiệp hóa

đã có bước phát triển đáng kể, đưa nước ta từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trởthành nước có thu nhập trung bình thấp và hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế khu vực vàthế giới; bên cạnh đó cải thiện Đời sống nhân dân, vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc

tế

1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế những năm gần đây theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ năm 1990, tỷtrọng nông, lâm, ngư nghiệp cao nhất trong ba khu vực, nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, ưutiên số một là lương thực Công nghiệp và dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ

Trang 9

Figure 1: Cơ cấu kinh tế qua một số mốc thời gian

Sau năm 1991, khi Việt Nam từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và bắt đầu ổnđịnh, an ninh lương thực được đảm bảo thì trên thế giới, nông nghiệp đã có điều kiện phát triểntương đối hoàn thiện; Đồng thời, thông qua đổi mới và mở cửa hội nhập đã thúc đẩy tốc độ tăngtrưởng công nghiệp và dịch vụ, từ đó tăng tỷ trọng công nghiệp, làm là chuyển đổi cơ cấu nềnkinh tế nước ta

Theo báo cáo của tổng cục thống kê, năm 2021, tỷ trọng nông , lâm, ngư nghiệp còn chiếm12,36%; công nghiệp và xây dựng chiếm 37,86%; dịch vụ chiếm 40,95%; 8,83% còn lại là thuếsản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm

Cơ cấu kinh tế thay đổi dẫn đến cơ cấu lực lượng lao động cũng có sự thay đổi tích cực Cơ cấuhàng hóa xuất khẩu được cải thiện đáng kể Kim ngạch xuất khẩu tăng đều với tốc độ hai con số,

37.86%

12.36%

40.95%

8.83%

Figure 2: Cơ cấu kinh tế Việt Nam 2021

Công nghiệp và xây dựng Nông, lâm, ngư nghiệp

Trang 10

giai đoạn 2011-2015 tăng 18% / năm Xuất khẩu theo hướng tăng dần tỷ trọng hàng công nghiệp

và giảm dần tỷ trọng hàng nông sản và nguyên liệu

1.2 Tăng trưởng về kinh tế

Kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc Từ năm 1986 đến 1990 với mứctăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4%, nhưng 20 năm sau đó nền kinh tế Việt Nam

đã trải qua gai đoạn phát triển rất ấn tượng Từ năm 1991 đến 1995, GDP bình quân tăng8,2%/năm gấp đôi so với 5 năm trước; giai đoạn 5 năm thứ 2, GDP vẫn duy trì tốc độ tăng bìnhquân 7,6% / năm mặc dù bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực; từ 2001 đến

2005, GDP tăng bình quân 7,34%; 5 năm kế tiếp (2006-2010), mặc dù suy giảm kinh tế toàn cầu,Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,32% / năm Trong những năm tiếp theo,

do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ côngnăm 2010, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2011-2015 tuy có chậm lại nhưngvẫn đạt 5,9% / năm là trì, được xem là mức của khu vực và thế giới

GDP/đầu người ở Việt Nam mới chỉ đạt 471 USD/năm vào năm 2003, thì chỉ 12 năm sau, năm

2015, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt gần2.300 USD Cả về số lượng và chất lượng của lực lượng sản xuất đều đạt nhiều tiến bộ Chấtlượng tăng trưởng hiện nay đã được cải thiện, trình độ công nghệ sản xuất từng bước được nânglên Tỷ trọng đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2001-2005chỉ đạt 21,4%, giai đoạn 2006-2010 là 17,2%, giai đoạn 2011-2015 là 28,94% Kinh tế vĩ mô cơbản ổn định, lạm phát được kiểm soát

a) Tăng trưởng ngành công nghiệp

Công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành kinh tế cả nước với mứcđóng góp bình quân giai đoạn 2006-2017 lên tới khoảng 30% GDP vào GDP của cả nước và trởthành ngành chủ lực trong sản xuất của cả nước Năm 2006, khu vực công nghiệp và xây dựngchiếm 41,52% GDP, tốc độ tăng giá trị gia tăng khu vực công nghiệp và dịch vụ là 10,37%,trong đó công nghiệp là 10,18% Giá trị sản xuất toàn ngành năm 2006 là 409,819 tỷ đồng, tăng17% Tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng liên tục trong giai đoạn 2006 - 2017, giá trị gia tăngcông nghiệp tăng bình quân 6,79% / năm Năm 2018, trong mức tăng trưởng chung của toàn nềnkinh tế, khu vực công nghiệp tăng trưởng 8,79%, đóng góp 2,85% vào tốc độ tăng tổng giá trị giatăng của toàn nền kinh tế Một số ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp tiên tiến theo định

Trang 11

hướng chiến lược của nước ta đã trở thành ngành công nghiệp lớn nhất cả nước, với sự dẫn dắtcủa một số doanh nghiệp công nghiệp lớn như điện tử, dệt may, da giày đã đưa nước ta về cơbản đã tích hợp thành công vào chuỗi giá trị toàn cầu Trong tổng số 32 mặt hàng xuất khẩu đạtkim ngạch trên 1 tỷ USD năm 2019, nhóm hàng công nghiệp chiếm 29/32 mặt hàng và 5/5 mặthàng có kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD (điện tử, dệt may, da giày ), giày dép, đồ gỗ, máymóc , Trang thiết bị) Một số ngành công nghiệp hiện đã chiếm thế mạnh trên thị trường thế giớinhư dệt may (đứng thứ 7 về xuất khẩu), da giày (thứ 3 về sản xuất và thứ 2 về xuất khẩu), điện tử(thứ 3 về xuất khẩu và thứ 2 về xuất khẩu) xuất khẩu, trong đó điện thoại di động đứng thứ 2 vềxuất khẩu và đồ nội thất (thứ 5 về xuất khẩu) Theo xếp hạng doanh nghiệp lớn nhất Việt Namnăm 2019, trong số 10 doanh nghiệp lớn nhất thì có tới 8/10 doanh nghiệp trong lĩnh vực côngnghiệp, trong đó 7/10 doanh nghiệp nội địa ; chiếm 5/10 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất cả nước Các doanh nghiệp công nghiệp lớn của Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực dầu khí, điện,khoáng sản, ô tô, thép, sữa và thực phẩm.

Theo Bảng xếp hạng các doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2019, trong 10 doanh nghiệp lớnnhất có 8/10 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp, trong đó có 7/10 doanh nghiệp trongnước; đại diện cho 5/10 công ty tư nhân lớn nhất cả nước Các công ty công nghiệp lớn của ViệtNam chủ yếu tập trung vào dầu khí, điện, khoáng sản, ô tô, thép, sữa và thực phẩm Cơ cấu côngnghiệp nước ta chuyển dịch theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Năm 2006,kinh tế nhà nước là 31,8%, giảm 2,3% so với năm 2005; kinh tế ngoài quốc doanh là 30%, tăng1,7% so với năm 2005; vốn đầu tư nước ngoài chiếm 38,2% tổng giá trị sản xuất Nhiều sảnphẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu tăng trong năm 2006 nhưđiện tăng 13,4%, apatit tăng 21,4%, than tăng 18%, thép tăng 25% Cơ cấu ngành công nghiệpphát triển theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai khoáng (từ 36,47% năm 2011 xuống25,61% năm 2019) và tăng tỷ trọng công nghiệp khai khoáng (từ 49,82% năm 2011 lên 54,57%năm 2019) và trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành (ước tính tăng trưởng

VA đạt 10,99% giai đoạn 2011-2020 và 12,64% giai đoạn 2016-2020) Cơ cấu công nghệ củangành đã có nhiều thay đổi theo hướng công nghệ tiên tiến, hiện đại hơn với sự chuyển dịchmạnh mẽ từ các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày sang các ngành công nghệnhư máy tính, điện tử, điện thoại Cho đến khoảng năm 2005, các sản phẩm công nghiệp nhẹnhư quần áo, giày dép và các sản phẩm gỗ chế biến đóng vai trò chủ đạo trong xuất khẩu, nhưng

Trang 12

sau đó máy móc các loại như điện tử, máy in và chất nổ chiếm dần lợi ích Các loại máy móc nàychỉ chiếm 8% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2000, nhưng đã tăng lên 32% vào năm 2014(trong đó ngành chế tạo thay đổi ở mức 24%) Quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam đangdiễn ra nhanh hơn nhiều nước trên thế giới Từ năm 1997 đến năm 2014, giá trị nội tại của sảnxuất công nghiệp Việt Nam tăng bình quân 7,7% / năm, so với mức bình quân 2,2% của thế giới.Con số tương ứng của các nước ASEAN khác là 4-6%, do đó tỷ trọng của chúng tôi trong tổngsản xuất công nghiệp toàn cầu đã giảm từ 0,03% năm 1991 xuống 0,2% năm 2014.

b) Tăng trưởng ngành nông lâm ngư nghiệp

Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và đánh bắt thủy sản đang phát triển với tốc độ nhanh Từ năm

1986 đến năm 2016, nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng nhanh và ổn định trong thời gian dài, cơcấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực Nước ta từ chỗ tự túc lương thực, phải nhậpkhẩu trở thành nước xuất khẩu nông sản đứng thứ hai thế giới Lương thực bình quân 360 kg /người từ 1995 đến 2000 là 444 kg / người Năm 2006, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đạt5,4% Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, mặc dù kinh tế vĩ mô gặp nhiều thách thứcnhưng nông nghiệp vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá ổn định, đem lại sự cân bằng cho nền kinh

tế Việt Nam có 10 mặt hàng đạt kim ngạch hơn một tỷ đô la, bao gồm: gạo, cà phê, cao su, hạtđiều, hạt tiêu, sắn, rau quả, tôm, cá tra và lâm sản Trong khi các ngành kinh tế khác vẫn chịu tácđộng mạnh của suy giảm kinh tế, thì ngành nông nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt kết quảkhá toàn diện và phát triển với tốc độ khá cao Năm 2014, ngành nông nghiệp đạt mức tăngtrưởng 3,3% so với 2,6% (2012 2013) Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt3,13%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đề ra (2,6 3%) Chất lượng tăng trưởngtiếp tục được cải thiện, tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất toàn ngành tăng từ 57%(2010) lên 64,7% (2013); 67,8% (2014) và xấp xỉ 68% (2015); năng suất lao động xã hội của laođộng nông, lâm, ngư nghiệp tăng gần gấp đôi từ 16,3 triệu đồng năm 2010 lên khoảng 31 triệuđồng năm 2015 Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất canh tác tăng từ 54,6 triệu đồng / ha năm

2010 lên 79,3 triệu đồng / ha năm 2014 và xấp xỉ 82,83 triệu đồng / ha năm 2015; mỗi ha mặtnước nuôi trồng thủy sản tăng từ 103,8 triệu đồng / ha (2013) lên 177,4 triệu đồng / ha (2014) vàkhoảng 183 triệu đồng / ha (2015) Thu nhập của người dân nông thôn năm 2015 tăng khoảng 2lần so với năm 2010 (đạt mục tiêu nghị quyết Đại hội XI của Đảng) Năm 2014, kim ngạch xuấtkhẩu nông lâm thủy sản đạt 30,8 tỷ USD, mức cao nhất từng được ghi nhận Mặc dù năng suấtlao động thấp và sức cạnh tranh thấp, nhưng nông nghiệp là ngành duy nhất xuất siêu, giúp Việt

Ngày đăng: 28/12/2022, 08:58

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w