1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI TẬP NHÓM LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2

26 8 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá bất cập quy định của pháp luật về đặt cọc Minh chứng bằng các vụ việc cụ thể
Trường học Trường Đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Bài tập nhóm luật dân sự Việt Nam
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 909,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO E LEARNING BÀI TẬP NHÓM LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2 (EL13) Đề 16 Đánh giá bất cập quy định của pháp luật về đặt cọc Minh chứng bằng các vụ việc cụ thể Họ và tên s.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO E-LEARNING

BÀI TẬP NHÓM LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2 (EL13)

Đề 16 Đánh giá bất cập quy định của pháp luật về đặt cọc

Trang 2

MỤC LỤC

I ĐÁNH GIÁ BẤT CẬP QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẶT CỌC 1

Về hình thức của đặt cọc: 2

Về tài sản đặt cọc: 2

Về giá trị tài sản đặt cọc trong mối quan hệ với giá trị của hợp đồng 4

Về mức phạt cọc 5

Về giá trị tài sản khi phạt cọc 6

II MINH CHỨNG CÁC VỤ KIỆN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC 7

1 Bản án 07/2018/DS-ST ngày 04/10/2018 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc và phạt cọc (Bản án chi tiết được trình bày tại phần Phụ lục) 7

2 Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 214/2021/DS-PT ngày 10/12/2021 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc (Bản án chi tiết được trình bày tại phần Phụ lục) 8

III PHỤ LỤC

1 Hình ảnh thảo luận nhóm trên diễn đàn

2 Các bản án chi tiết minh chứng

Trang 3

Đề bài:

Đánh giá bất cập quy định của pháp luật về đặt cọc Minh chứng bằng các vụ việc thực tế.

Bài làm:

I ĐÁNH GIÁ BẤT CẬP QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẶT CỌC

Trong quan hệ nghĩa vụ, để nghĩa vụ được thực hiện một cách tận tâm vàthiện chí đòi hỏi rất nhiều ở ý chí tự giác của các bên, tuy nhiên không phải lúc nàocác bên cũng thực hiện nghĩa vụ một cách đầy đủ và tận tâm, do đó để bảo đảmnghĩa vụ được thực hiện một cách thiện chí, pháp luật đưa ra các biện pháp bảo

đảm thực hiện nghĩa vụ trong đó có đặt cọc Đặt cọc là một trong những biện pháp

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, tuy nhiên quy định về đặt cọc vẫn còn một số hạn chếnhất định ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên trong giao lưu dân sự

Hợp đồng là một trong những căn cứ phát sinh ra nghĩa vụ, trên phương diệnpháp lý nghĩa vụ là một mối liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó một người làtrái chủ, một người là phụ trái phải thi hành một cung khoản có thể trị giá bằngtiền Có thể nói, nghĩa vụ được thực hiện hay không dựa trên ý chí của các bên đốiước, tuy nhiên có những trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ mà mình đãcam kết do đó để ràng buộc các bên trong quan hệ nghĩa vụ phải thực hiện những gì

đã thoả thuận, đã cam kết, pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ lànhững biện pháp pháp lý do các bên thoả thuận hoặc luật quy định để bảo đảm choviệc thực hiện nghĩa vụ Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) quy định 09 biện pháp bảo

đảm tại Điều 292 bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký

quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản Trong đó, “đặt

cọc” là biện pháp nhằm bảo đảm cho các bên trong việc giao kết và thực hiện hợpđồng và thực tế biện pháp này rất phổ biến trong quá trình các bên xác lập và thựchiện giao dịch dân sự, đặc biệt là những giao dịch có giá trị lớn như mua bán nhà ở,chuyển nhượng quyền sử dụng đất…

Trang 4

“Đặt cọc” là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một bên giao cho bên kiamột khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý, vật có giá trị khác trong một thời hạnnhằm để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng BLDS 2015 và gần đây làNghị định 21/2021/NĐ-CP quy định cụ thể về đặt cọc cũng như một số quy định

về việc xử lý tài sản đặt cọc nhưng chưa có quy định cụ thể về hình thức của đặtcọc, về tài sản đặt cọc, về phạt cọc khi có vi phạm…dẫn đến khó khăn và rủi ropháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự và cơ quan Nhà nước trong việc quản

lý, giải quyết tranh chấp

Về hình thức của đặt cọc:

Điều 328 BLDS 2015 không quy định hình thức bắt buộc của đặt cọc nên cácbên có thể tự do tự thoả thuận về hình thức Tuy nhiên, cần xác định rõ hình thứcbắt buộc đối với đặt cọc Hình thức phổ biến nhất hiện nay đó là văn bản, các bên

có thể lập hợp đồng đặt cọc bằng văn bản độc lập hoặc đưa vào nội dung của hợpđồng chính, miễn là việc đặt cọc được văn bản hoá Việc xác lập giao dịch đặt cọcthành văn bản để xác định rõ ràng quyền, nghĩa vụ của mỗi bên trong giao dịch đặtcọc (quyền, nghĩa vụ của các bên trong đặt cọc đã được quy định tại Điều 38 Nghịđịnh 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành BLDS vềbảo đảm thực hiện nghĩa vụ) Mặt khác, đó còn là bằng chứng mang tính pháp lýgiúp Toà án giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các vụ tranh chấp phát sinh từ đặt

cọc Do đó, cần xây dựng một quy định riêng về hình thức của đặt cọc bằng văn

bản và có thể xác lập một hợp đồng riêng hoặc có thể ghi vào hợp đồng chính màcác bên xác lập

Về tài sản đặt cọc:

Điều 328 BLDS 2015 quy định rõ những tài sản được xem là tài sản đặt cọc,bao gồm một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác Theokhoản 1, 2 Điều 3 Thông tư 17/2014/TT-NHNN ngày 01/8/2014 của Ngân hàngNhà nước Việt Nam quy định về phân loại, đóng gói, giao nhận kim khí quý, đá

Trang 5

quý, kim khí quý bao gồm vàng, bạc, bạch kim và các loại kim loại quý khác; đáquý bao gồm kim cương (hạt xoàn), ruby (hồng ngọc), emorot (lục bảo ngọc),saphia (bích ngọc), ngọc trai (trân châu) và các loại đá quý khác BLDS 2015 quyđịnh tài sản đặt cọc còn có thể là “vật có giá trị khác”; tuy nhiên “giá trị” mà BLDS

2015 đề cập lại chưa được làm rõ, liệu đó là giá trị sử dụng (thể hiện qua công dụng

mà tài sản đem lại cho người sử dụng) hay giá trị của tài sản dùng để đặt cọc?

Vật có giá trị khác “phải là vật được phép lưu thông dân sự, có thể xác địnhđược giá trị bằng một khoản tiền nhất định” Tuy nhiên, BLDS 2015 không cóhướng dẫn cụ thể, liệu có thể xác định giá trị của vật có giá trị khác bằng một tàisản khác, chẳng hạn như ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, quyền tài sản hay một tàisản theo sự thoả thuận tự do của các bên được không? BLDS 2015 cần quy định chi

tiết về “giá trị” của vật có giá trị khác dùng để đặt cọc này Đồng thời, khái niệm

về “vật” trong BLDS 2015 cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, nên việc xác định “vật có giá trị khác” là tài sản đặt cọc càng gặp nhiều khó khăn.

Ở Điều 328 BLDS 2015 về đặt cọc giới hạn tài sản đặt cọc ở tiền, kim khíquý, đá quý và vật có giá trị khác, thì Điều 295 BLDS 2015 quy định chung về tàisản bảo đảm và Điều 8 Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn Điều 295 BLDS

2015 lại không đưa ra bất cứ giới hạn nào về loại tài sản được phép dùng để bảođảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó có tài sản dùng để đặt cọc, mà cho phép tài sảnđặt cọc là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai Nếu căn cứ theoquy định này, các chủ thể trong đặt cọc không bị giới hạn trong việc lựa chọn loạitài sản để đặt cọc; trong khi đó họ đồng thời bị giới hạn bởi loại tài sản chỉ là tiền,kim khí quý, đá quý như Điều 328 BLDS quy định Có thể thấy rằng quy định

chung về tài sản bảo đảm trong phần “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” và quy định cụ

thể về biện pháp đặt cọc của BLDS hiện hành có sự mâu thuẫn, gây khó khăn chocác chủ thể trong giao lưu dân sự

Trang 6

Điều 328 BLDS 2015 thể hiện phạm vi tài sản đặt cọc chưa tạo ra sự tự dotrong việc định đoạt tài sản của chủ sở hữu là bên đặt cọc, chưa thể hiện đầy đủnguyên tắc tự do thoả thuận trong pháp luật dân sự (thoả thuận không được viphạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không được xâm phạm đến lợiích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác) Các loại tài sản được đặt cọc cần được mở rộng hơn theo quy định tại Điều

295 BLDS 2015 là không giới hạn loại tài sản mà chỉ cần là tài sản hiện có để cácbên trong đặt cọc có sự thuận tiện trong giao dịch Đối với tài sản hình thành trongtương lai, loại tài sản này không thể dùng làm tài sản đặt cọc vì bản chất của đặtcọc là việc bên nhận đặt cọc “nắm giữ” – tức là có sự chi phối về vật lý đối với tàisản, đồng thời sự hiện có, hữu hình của tài sản đặt cọc mới bảo đảm được việc cấntrừ để thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp có thoả thuận

Việc lựa chọn tài sản đặt cọc cũng cần có sự cân nhắc của các bên nhằm tạothuận lợi cho việc xác lập và thực hiện, nhất là trong trường hợp đặt cọc để bảođảm thực hiện hợp đồng và các bên thoả thuận cấn trừ tài sản đặt cọc để thực hiệnhợp đồng đó (chẳng hạn đặt cọc bằng kim khí quý để bảo đảm hợp đồng mua bánnhà ở và các bên thoả thuận khi đến hạn bàn giao nhà và thanh toán, kim khí quý sẽđược quy đổi thành tiền và trừ vào giá trị căn nhà, thì giá trị của kim khí quý ở thờiđiểm đặt cọc và thời điểm bàn giao có thể chênh lệch, như vậy là không bảo đảmđược quyền lợi của các bên) Giá trị của tài sản đặt cọc, theo khoản 4 Điều 295BLDS 2015, có thể nhỏ hơn hoặc bằng hoặc lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm

và việc xác định giá trị của tài sản bảo đảm so với giá trị của nghĩa vụ hoàn toàn docác bên thoả thuận Do đó, việc mở rộng phạm vi đối tượng tài sản đặt cọc là rấtcần thiết nhằm tạo sự đồng bộ giữa các ngành luật về biện pháp bảo đảm

Về giá trị tài sản đặt cọc trong mối quan hệ với giá trị của hợp đồng

Thực tế việc xử lý tài sản đặt cọc khi có vi phạm đôi khi không được thực hiệnđúng pháp luật Chẳng hạn, lợi dụng kẽ hở của BLDS không quy định cụ thể giá trị

Trang 7

tài sản đặt cọc (cùng với việc Luật Kinh doanh bất động sản 2014 không quy địnhviệc đặt cọc khi mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai), tronglĩnh vực mua bán bất động sản phổ biến trường hợp chủ đầu tư hoặc bên môi giớiđứng ra thực hiện “đặt cọc” với người mua, trong khi sản phẩm chưa đủ điều kiện

mở bán, thực chất là “gom tiền” để thực hiện dự án đầu tư “Một số chủ đầu tư cótiềm lực yếu thông qua hình thức lách luật đặt cọc, giữ chỗ, đặt mua… mà bản bảnchất là huy động vốn khách hàng để triển khai dự án nhưng khi gặp phải bất lợi thìkhông thể tiếp tục và rủi ro được đẩy hoàn toàn về phía khách hàng”, người muamất trắng số “tiền cọc” vì thời điểm đó tiền cọc đã do phía bên kia nắm giữ, ngườimua chỉ còn cách khởi kiện ra Toà án để bảo vệ quyền lợi mà khả năng đòi lại toàn

bộ khoản đặt cọc cũng không còn chắc chắn vì bên kia nhiều khả năng đã rơi vàotình trạng khánh kiệt Trong thực tiễn xét xử cũng đã xảy ra trường hợp tương tự,

“Bà H đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng để mua căn hộ thuộc dự án căn hộ cao

cấp do Công ty cổ phần Y làm chủ đầu tư với giá 2.381.383.428 đồng; Nhận thấy Biên bản đặt cọc có nhiều nội dung không rõ ràng như: Công ty Y không phải là chủ đầu tư mà chỉ là bên xúc tiến, môi giới, Công ty Y không có tư cách pháp lý để nhận tiền cọc, người đại diện của Công ty Y không có thẩm quyền giao kết biên bản đặt cọc… nên bà H đã trực tiếp đến Công ty Y để đòi lại số tiền đã đặt cọc Tuy nhiên, phía Công ty Y không đồng ý Toà phúc thẩm xét thấy, Tòa sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ và chứng minh theo quy định tại Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được Do đó, yêu cầu kháng cáo của bà H là có căn cứ để chấp nhận.”

Do đó, BLDS cần quy định, trong một số trường hợp cụ thể, giá trị của tàisản đặt cọc trong mối quan hệ với giá trị hợp đồng ở một mức nhất định và có thểdẫn chiếu sang luật liên quan (chẳng hạn như Luật Kinh doanh bất động sản sau khi

bổ sung quy định về mức đặt cọc đối với mua bán, thuê mua bất động sản hình

Trang 8

thành trong tương lai), chẳng hạn đối với giao dịch mua bán tài sản hình thànhtrong tương lai mức cọc không quá 40.000.000 đồng

Về mức phạt cọc

Các bên trong quan hệ đặt cọc thường tự thoả thuận về mức phạt cọc, do đócác bên có thể thoả thuận mức phạt cọc cao hoặc thấp Hơn nữa, trong quan hệ đặtcọc, lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp luật của một bên, bên còn lại cố tình thoảthuận mức phạt cọc cao nhằm để trục lợi Do đó, cần quy định mức phạt cọc ở mộtngưỡng nhất định sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệđặt cọc Trong thực tiễn xét xử cũng đã có trường hợp mức phạt cọc gấp 10 lần cụ

thể: “Vào ngày 04/01/2019 giữa ông Hồ Trọng T, bà Lương Thị Kim O và ông

Nguyễn Ngọc Th lập hợp đồng đặt cọc bằng hình thức văn bản thỏa thuận đặt cọc như sau: “mua bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất tại địa chỉ 105B đường NDC,

P H, TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, gồm GCNQSDD số AP 695109 thửa đất số 175A tờ bản đồ số 07 cấp ngày 18/9/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 00019-vp và GCNQSDD số AP 695110 thửa đất số 199 tờ bản đồ số

07 cấp ngày 18/09/2009 Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, hồ

sơ gốc số 5128 QĐ-UBND16 – GCNQSDD số AP 695110, ngày 18/09/2009 thửa đất 199 tờ 07 cấp ngày 01/12/2009 và 291m2 đất nằm ngoài sổ nhưng đã có trong khuôn viên đất của khu nghỉ dưỡng EverGreen resort Ngoài ra trong hợp đồng cũng thể hiện rõ bên B (tức bên ông Th, bà Đ) có nghĩa vụ trả lại số tiền đặt cọc và một khoản tiền bằng 10 lần số tiền đặt cọc cho bên A (tức bên ông T, bà O) trong trường hợp bên B từ chối việc giao kết hoặc thực hiện nghĩa vụ dân sự đã thỏa thuận và theo Toà án việc 2 bên thỏa thuận phạt cọc gấp 10 lần là vi phạm Điều luật đã viện dẫn Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền phạt cọc gấp 10 lần tiền cọc là không có căn cứ để chấp nhận.”.

Về giá trị tài sản khi phạt cọc

Trang 9

Hiện nay nếu như theo quy định tại BLDS 2015 thì tài sản đặt cọc bao gồm:một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác Theo Thông tư17/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại,đóng gói, giao nhận kim khí quí, đá quí tại Điều 3 khoản 1 quy định kim khí quíbao gồm vàng, bạc, bạch kim và các loại kim loại quí khác, còn đá quý theo khoản

2 Điều 3 Thông tư được hiểu là bao gồm kim cương (hạt xoàn), ruby (hồng ngọc),emorot (lục bảo ngọc), saphia (bích ngọc), ngọc trai (trân châu) và các loại đá quýkhác Có thể thấy, đây là những loại tài sản có giá trị biến động lên xuống thấtthường, do đó đề xuất khi phạt cọc nếu như bên đặt cọc đưa tài sản đặt cọc để bảođảm thực hiện nghĩ vụ là kim khí quý hay đá quý thì nên xác định giá trị tài sản tạithời điểm phạt cọc, bởi lẽ phạt cọc chỉ xảy ra khi một bên trong quan hệ đặt cọckhông thực hiện đúng nghĩa vụ, do đó xác định giá trị tài sản đặt cọc (kim khí quý,

đá quý, vật có giá trị khác) tại thời điểm phạt cọc là hợp lý đảm bảo quyền và lợiích hợp pháp cho các bên

Xã hội phải được quản lý bằng pháp luật thì mới có thể vận hành và pháttriển một cách ổn định, bền vững và công bằng Từ đó, đòi hỏi các nhà lập pháp,đặc biệt là pháp luật về dân sự phải luôn đổi mới, hoàn thiện pháp luật nhằm bảođảm quyền lợi của người dân, tạo thuận lợi trong giao lưu dân sự Đặt cọc, với tưcách là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch

sử pháp lý, càng chứng tỏ vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống dân sự Việckhắc phục được những bất cập còn tồn đọng của biện pháp này không những mang

ý nghĩa to lớn đối với bản thân các chủ thể trong quan hệ dân sự mà còn đối vớinền khoa học pháp lý quốc gia trong bối cảnh nước ta đang trên con đường thựchiện cải cách tư pháp

II MINH CHỨNG CÁC VỤ KIỆN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC

Trang 10

1 Bản án 07/2018/DS-ST ngày 04/10/2018 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

và phạt cọc (Bản án chi tiết được trình bày tại phần Phụ lục)

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

- Trích dẫn nội dung: “Theo nội dung thỏa thuận trong “Giấy bán nhà” vàcác Hợp đồng đặt cọc cũng như qua lời khai của nguyên đơn ông Đào Duy Đ, bịđơn là anh Từ Anh D thì vợ chồng anh Từ Anh D – chị Trương Thị T đã nhận đủ

số tiền đặt cọc là 300.000.000đ nhưng không thực hiện việc chuyển nhượng86.63m2 đất thuộc thửa số 174, tờ bản đồ QH Ba Bồn cho vợ chồng ông Đào Duy

Đ - bà Trần Thị Xuân T do hiện nay thửa đất này vợ chồng anh D – chị T đãchuyển nhượng cho người khác Như vậy lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu hoàn toànthuộc về bên bị đơn là anh D – chị T Tại khoản 2 điều 358 của Bộ luật Dân sự năm

2005 quy định “ … Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết thực hiện hợp đồngdân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đươnggiá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”… Vì vậy, Hội đồng xét

xử căn cứ khoản 2 điều 358 của Bộ luật Dân sự năm 2005, chấp nhận yêu cầu khởikiện của ông Đào Duy Đ đối với vợ chồng chị Trương Thị T – anh Từ Anh D.Buộc vợ chồng chị T – anh D phải trả cho ông Đào Duy Đ và bà Trần Thị Xuân T

số tiền đặt cọc là 300.000.000đ và tiền phạt cọc là 300.000.000đ.”

2 Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 214/2021/DS-PT ngày 10/12/2021 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc (Bản án chi tiết được trình bày tại phần Phụ lục)

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh

- Trích dẫn nội dung: “Ngày 28-10-2020 chị M và anh K đã thỏa thuận nếuhợp đồng có chuyện gì thì bên bán phải chịu bồi thường cho bên mua gấp đôi sốtiền đặt cọc Người đại diện của nguyên đơn cho rằng ngày 01-11-2020, hai bên

Trang 11

thỏa thêm “Nếu anh K sai sẽ chịu phạt gấp 05 lần tiền đặt cọc” Anh K không thừa

nhận và cho rằng ngày 01-11-2020 anh có nhận thêm của chị M 30.000.000 đồngtiền đặt cọc, tổng cộng là 40.000.000 đồng, ngoài ra không có thỏa thuận nào khác.Trong giấy giao nhận tiền ngày 01-11-2020 không thể hiện là hai bên thỏa thuận lạikhoản tiền phạt cọc hoặc thỏa thuận phạt cọc thêm gấp 05 lần Mặt khác, chị M vàanh K thừa nhận rằng hợp đồng chỉ lập 01 bản do chị M giữ Anh K cho rằng chị M

viết thêm câu cuối cùng trong giấy tay giao nhận tiền ngày 01-11-2020 “Nếu tôi sai

sẽ chịu phạt gấp 05 lần tiền đặt cọc” là có cơ sở.”

Trang 12

PHỤ LỤC I.HÌNH ẢNH THẢO LUẬN NHÓM

Trang 13

- Nguyên đơn: Ông Đào Duy Đ, sinh năm: 1960 (có mặt).

Địa chỉ: Số 399 đường 21/8, khu phố X, phường P thành phố P, tỉnh NinhThuận

- Bị đơn: Chị Trương Thị T, sinh năm: 1988 và anh Từ Anh D, sinhnăm: 1987 (Có mặt anh D, vắng mặt chị T)

Hộ khẩu thường trú: Khu phố Khánh H, thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải,tỉnh Ninh Thuận

Địa chỉ: Thôn Gò Đền, xã Tân H, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Xuân T, sinhnăm: 1964

Địa chỉ: Số 399 đường 21/8, khu phố X, phường Ph, thành phố P, tỉnh NinhThuận (Bà T ủy quyền cho ông Đào Duy Đ tham gia tố tụng)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn đồngthời cũng là người đại diện được ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liênquan là ông Đào Duy Đ trình bày yêu cầu khởi kiện như sau: Vào ngày 14/3/2016

Ngày đăng: 27/12/2022, 15:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w