Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn l
Trang 1PHÒNG GD&ĐT VIỆT YÊN
ĐỀ DỰ BỊ
ĐỀ THI CHỌN HSG CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2022-2023 MÔN: NGỮ VĂN 9
Thời gian làm bài: 150 phút
Câu 1 (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới:
(1) Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa.
(2) Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ
là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh với mọi người cùng chung sống với mình Vì thế, dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi.
(3) Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người.
(4) Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường đời.
(Trích Tinh hoa xử thế, Lâm Ngữ Đường, Ngữ văn 7, tập 2, NXB Giáo dục, 2015, tr.70 – 71)
a) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên
b) Trong đoạn văn (1), người có tính khiêm tốn có biểu hiện như thế nào?
c) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp liệt kê được sử dụng trong đoạn văn (1)
d) Em có đồng tình với ý kiến của tác giả: dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn
phải học thêm, học mãi mãi? Vì sao?
Câu 2 (5,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về câu nói: Phải biến mình thành một ngọn lửa, ta mới có thể làm bừng lên ánh sáng của thành công (Reggie
Leach)
Câu 3 (10,0 điểm)
Trên trang sách, cuộc sống tuyệt vời biết bao nhưng cũng bi thảm biết bao Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời.
(Theo Nguyễn Văn Thạc - Mãi mãi tuổi 20)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng rõ ý kiến trên qua tác phẩm
“Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ (SGK Ngữ văn 9 - tập 1,
NXBGD 2017).
-Hết -Họ và tên thí sinh: ……….……….Số báo danh………
Trang 2PHÒNG GD&ĐT VIỆT YÊN HƯỚNG DẪN CHẤM THI HSG CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2022-2023 MÔN: NGỮ VĂN 9
a Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên: nghị luận 0,5
b - Người có tính khiêm tốn có biểu hiện:
+ Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa
+ Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa
1,0
c - Biện pháp liệt kê: tự cho mình là kém, phải phấn đấu thêm, trau
dồi thêm, học hỏi thêm.
- Tác dụng: Diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những biểu hiện của lòng khiêm tốn
1,5
d - Đồng tình với quan điểm trên:
+ Tài năng là cái vốn có, nó chỉ thực sự phát huy khi ta có kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn
+ Kiến thức là đại dương, không chỉ vậy mỗi ngày lượng kiến thức mới lại có thêm Bởi vậy chúng ta cần liên tục trau dồi để làm phong phú tri thức của bản thân
2,0
- Học sinh biết viết một bài nghị luận
Bài viết có sự liên kết chặt chẽ, làm nổi bật được vấn đề theo quan điểm của mình
- Văn phong trong sáng; lập luận chặt chẽ, sáng tạo
Thí sinh có thể viết bài theo nhiều cách Dưới đây là một số gợi ý định hướng:
a Giải thích:
- Hình ảnh “ngọn lửa” biểu tượng cho lòng nhiệt huyết, sự đam mê
cũng như nỗ lực không ngừng của con người trong cuộc sống để
đi đến thành công rực rỡ
- Ánh sáng của thành công: biểu tượng cho niềm tin, những thành
quả tốt đẹp mà ta đạt được sau quá trình nỗ lực không ngừng đó
1,0
Trang 3=> Câu nói muốn gửi gắm đến mỗi người thông điệp: Muốn thành công thì phải là kết quả của cả quá trình cố gắng, phấn đấu, không ngừng học hỏi của bản thân chứ không phải do người khác mang lại
b Bàn luận:
- Câu nói có thể xem là một chân lý trong cuộc sống: Thành công không tự nhiên mà có, mà phải trải qua một quá trình học hỏi, rèn luyện cùng với lòng nhiệt huyết đam mê mới có được
- Tuy nhiên, cố gắng chăm chỉ thôi chưa đủ, chúng ta phải biến mình thành những ngọn lửa của niềm tin, hy vọng và lòng đam mê, nhiệt huyết mới có thể thổi bùng lên ánh sáng của thành công
- Trong quá trình nỗ lực đến thành công, mỗi người có thể có được
sự giúp dỡ của nhiều người xung quanh, nhưng quan trọng nhất vẫn là sự cố gắng của chính bản thân mình
- Thực tế cuộc sống cho thấy, có rất nhiều người bằng đam mê, nhiệt huyết, nỗ lực của bản thân mà thành công như lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhà bác học Thomas Edison,…
(Học sinh lấy dẫn chứng trong cuộc sống, văn học để làm sáng tỏ).
2,5
c Mở rộng: Phê phán những người sống thiếu ý chí, nghị lực, đam
mê; không dám nghĩ, dám làm, chưa làm đã sợ khó khăn, thất bại Họ mãi mãi chỉ là những “đốm lửa” nhỏ nhoi trước cuộc đời
0,5
d Bài học:
Bài học nhận thức và hành động: Rút ra bài học phù hợp cho bản
thân
0,5
3- Lưu ý:
- Sáng tạo: Có ý tưởng sáng tạo trong cách diễn đạt
- Chính tả: Chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt
0,5
- Biết viết bài văn nghị luận văn học
- Xác định đúng vấn đề nghị luận, có hệ thống luận điểm làm nổi bật vấn đề nghị luận Hành văn, diễn đạt lưu loát, mạch lạc, sáng sủa,
Mở
bài
Giới thiệu vấn đề nghị luận: dẫn dắt trích dẫn nhận định, khái quát giới hạn vấn đề nghị luận.
0,5
Thân
bài
- Cuộc sống được đề cập trong văn học luôn có hai mặt: vừa có
những hạnh phúc tuyệt vời vừa có những đau khổ bất tận, vừa có nụ cười trong sáng vừa có giọt nước mắt cay đắng Vì phản ánh đời sống bằng hình tượng là bản chất, nhiệm vụ của văn học Qua bàn tay, khối óc của người nghệ sĩ, hiện thực cuộc đời đi vào trang văn
Trang 4một cách tự nhiên, sống động, chân thực Mối quan hệ giữa đời
sống và văn học là mối quan hệ máu thịt, cuộc đời là nơi xuất phát,
cũng là đích đến của văn chương
- Đời sống xã hội vốn bộn bề phức tạp nên việc phản ánh hiện thực
ấycũng không thể phiến diện, một chiều, đơn điệu Nhà văn chân
chính phải có cái nhìn đa diện về cuộc đời và số phận con người Đó
là lí do cuộc sống hiện diện trên trang sách “tuyệt vời biết bao nhưng
cũng bi thảm biết bao, cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn, cái nên
thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời”
- Trên trang sách, cái tuyệt vời, cái đẹp và cái nên thơ của cuộc sống
chính là vẻ đẹp thiên nhiên, con người hay những giá trị tốt đẹp,
những phẩm chất cao quý của con người như đức hy sinh, tình yêu
thương, lòng vị tha nhân hậu Cuộc sống bi thảm, niềm sầu muộn
và giọt nước mắt chính là những hạn chế, tiêu cực của con người và
xã hội Đó là cái ác, cái xấu, những mặt trái của cuộc đời, cái khốc
liệt của chiến tranh, nỗi đau khổ hay sự nghèo đói,
=> Hai mặt đối lập này không tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà nhiều
khi ở trong nhau, đấu tranh giằng xé và loại trừ nhau
2 Làm sáng rõ qua tác phẩm “Chuyện Người con gái Nam
Xương” của Nguyễn Dữ.
5,5
Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Nguyễn Dữ, người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện,
tỉnh Hải Dương Ông sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà Lê
đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn Lê, Mạc, Trịnh tranh giành
quyền bính
- Truyện Chuyện người con gái Nam Xương là thiên 16 trong số 20
truyện của Truyền kì mạn lục Có nguồn gốc từ truyện cổ tích “Vợ
chàng Trương” Tác đã phẩm đề cập đến:
*Luận điểm 1: Cái đẹp, cái nên thơ, cái tuyệt vời của cuộc sống
được thể hiện trong tác phẩm qua cái nhìn sâu sắc tinh tường của nhà
văn đã khám phá ra vẻ đẹp của một người phụ nữ bình dân ẩn giấu
trong thân phận âm thầm, nhạt nhòa trong xã hội phong kiến xưa để
trân trọng ngợi ca
a Nhân vật Vũ Nương được đặt vào các mối quan hệ gia đình khi
nàng sống cuộc đời trần gian ngắn ngủi để ta thấy vẻ đẹp tâm hồn
của người vợ nhân hậu, hiền thục, thủy chung, nghĩa tình; người mẹ
thương con; người con dâu hiếu thảo
- Trong cuộc sống gia đình, Vũ Nương là người vợ hiền thục, thủy
chung: luôn biết “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ
chồng phải đến thất hòa”.
- Khi tiễn chồng đi lính: Lời lẽ dịu dàng của Vũ Nương buổi tiễn
chồng đi lính, cho thấy nàng: Coi trọng hạnh phúc gia đình, xem
thường mọi công danh phù phiếm; cảm thông trước những nỗi vất
Trang 5vả, gian lao của chồng; bày tỏ nỗi khắc khoải, nhớ nhung của mình.
- Trong những năm tháng xa chồng: Là người vợ thủy chung, yêu
chồng tha thiết Những hình ảnh ước lệ “bướm lượn đầy vườn” (chỉ cảnh mùa xuân tươi vui), “mây che kín núi” (chỉ cảnh mùa đông ảm
đạm) -> diễn tả dòng chảy của thời gian, nỗi buồn của Vũ Nương cứ trải dài theo năm tháng, cho thấy khát khao hạnh phúc gia đình mà
sau này nàng cũng phải thừa nhận mình có cái “thú vui nghi gia nghi thất”.
- Là người mẹ hiền, dâu thảo:
+ Với con, nàng là người mẹ dịu dàng, giàu tình thương yêu (chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát
từ tấm lòng của người mẹ: để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha)
+ Với mẹ chồng, nàng đã làm tròn bổn phận của người con dâu hiếu thảo (thay chồng chăm sóc, động viên khi mẹ buồn, thuốc thang khi
mẹ ốm, lo ma chay chu đáo khi mẹ qua đời)
b Nhà văn đặt Vũ Nương vào sự nghiệt ngã, éo le của số phận khi bị chồng nghi ngờ oan ức để ta thấy được một con người đầy lòng tự trọng, biết kiên trì đấu tranh để bảo vệ danh dự trong sạch của mình + Không nông nổi bồng bột mà hành động thiếu suy nghĩ trong nóng
giận như nàng Vũ Thị như trong truyện cổ Vợ chàng Trương “Chạy một mạch ra bờ sông, gieo mình xuống nước tự vẫn” nàng đã có một
chuổi các hành động để bảo vệ nhân phẩm của mình Nàng phân trần với chồng cho mình được minh oan, nàng tìm sự ủng hộ của những người hàng xóm để có tiếng nói khách quan bênh vực Nàng lấy cả nỗi niềm thân phận “ thiếp vốn con kẻ khó, nương tựa nhà giàu” và bày tỏ những dự cảm chia lìa để Trương Sinh nghĩ lại,
+ Chọn cái chết gieo mình nơi dòng sông lạnh lẽo là hành động đấu tranh cuối cùng để bảo vệ nhân cách trong sạch khi đã bị dồn vào bước đường cùng
- Vẻ đẹp nhân cách ấy không chỉ bộc lộ khi nàng sống nơi trần gian mà còn ở dưới thủy cung Dù ôm một mối hận bị chồng ruồng rẫy nhưng nghe nhắc đến “tiên nhân” là nàng “ứa nước mắt” xót thương Giọt nước mắt hóa giải những giận hờn Người phụ nữ ấy bao dung
vị tha biết bao
*Luận điểm 2: Nỗi bi thảm, sầu muộn và nước mắt ở đời đó là hiện
thực xã hội lúc bấy giời đầy bất nhân oan trái được phản ánh trong tác phẩm.Chính chiến tranh loạn lạc, chính xã hội bất công đã gây nên bi kịch về cuộc đời Vũ Nương
a Ngày chồng trở về cứ tưởng mọi sự đền bù sau bao ngày tháng nhớ nhung được đền đáp như thế đó lại là bi kịch của cuộc đời nàng diễn ra
- Vì thói “gia trưởng nam quyền”, Trương Sinh đã gạt ngoài những
Trang 6lời biện bạch của vợ Đó là sự bất công nghiệt ngã của xã hội phong kiến Quyền sống, quyền tự do của người phụ nữ không được tôn trọng Trương Sinh vì lý do ghen tuông – thói “gia trưởng” mà
không nghe lời biện bạch của vợ dẫn đến cái chết đầy oan khốc của
Vũ Nương (phân tích dẫn chứng)
- Đồng thời, câu chuyện cũng lên án chiến tranh tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến đã gây nên cảnh chia lìa đôi lứa, gián tiếp gây ra cái chết của Vũ Nương
b Nguyễn Dữ phản ánh hiện thực xã hội đương thời đầy bất công oan trái kia đã đẩy bao con người nhất là phụ nữ vào những con đường không lối thoát
- Một nàng Vũ Nương vì nỗi oan không được giải bày đã nhờ sông Hoàng Giang rửa sạch oan tình, Tất cả là đều do cái xã hội phong kiến nghiệt ngã kia đã tạo ra
- Cái kết thúc tưởng là có hậu hoá ra cũng chỉ đậm tô thêm tính chất
bi kịch trong thân phậnVũ Nương (HS phân tích các chi tiết cuối tác phẩm)
d Đánh giá và mở rộng ý kiến.
- Văn học không phản ánh cuộc sống một cách đơn điệu, một chiều mà ở góc nhìn đa chiều Trong mặt tốt, tích cực có cái tiêu cực, hạn chế
- Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật
Cuộc đời là nơi bắt đầu và là nơi đi tới của văn chương Nhà văn đã ngụp lặn vào đời sống để phản ánh cuộc sống đầy đủ, chân thực đa chiều Đến với những tác phẩm văn chương chân chính sẽ vươn tới những giá trị chân – thiện – mĩ
Kết
bài
- Tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương ca ngợi phẩm chất
cao đẹp của người vợ hiền đảm đang, chung thủy, người con dâu người mẹ tuyệt vời Đồng thời đem đến cho ta những xúc cảm về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ
- Đấy là những giá trị mà tác phẩm văn học đem đến cho người đọc
“Trên trang sách, cuộc sống tuyệt vời biết bao nhưng cũng bi thảm biết bao Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời.”
0,5
- Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng
- Chính tả: đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, dùng từ, đặt câu
LƯU Ý KHI CHẤM BÀI:
Trang 7- Trên đây là những hướng dẫn cơ bản về kiến thức và kỹ năng Trong quá trình chấm bài, giám khảo cần linh hoạt trong việc vận dụng hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc
- Cần khuyến khích những bài làm có tính sáng tạo, nội dung bài viết có thể không trùng với yêu cầu trong hướng dẫn chấm nhưng lập luận thuyết phục, văn phong sáng rõ
- Với những bài văn chỉ đơn thuần phân tích tác phẩm, không nêu luận điểm, không gắn với ý kiến thì điểm tối đa là: 5.0 điểm.
- Ưu tiên cho bài văn biết bàn luận, đánh giá, nâng cao vấn đề.