Yêu cầu về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ của mình theo nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lý, có sức thuyết phục và cần tập trung làm rõ những nội dung cơ bản sau: - “G
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HẢI DƯƠNG
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 12 THPT CẤP TỈNH NĂM HỌC 2022 - 2023
Môn thi: NGỮ VĂN Ngày thi: 19/10/2022
Thời gian làm bài: 180 phút, không tính thời gian phát đề
Đề thi gồm 02 câu, 01 trang
Câu 1 (4,0 điểm)
“Giọt nước chỉ hòa mình vào biển cả mới không cạn mà thôi.”
(Lời Phật dạy) Anh/ Chị có suy nghĩ gì về lời dạy trên?
Câu 2 (6,0 điểm)
“Nội dung tư tưởng của một tác phẩm văn học không bao giờ chỉ là sự lí giải dửng dưng, lạnh lùng mà gắn liền với cảm xúc mãnh liệt”.
(Dẫn theo Lí luận văn học, Phương Lựu chủ biên, NXB Giáo dục, tr 268)
Anh/ Chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Hãy làm sáng tỏ quan niệm đó qua
truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao
-H T -
ẾT -Họ và tên thí sinh Số báo danh: Chữ kí giám thị coi thi số 1: Chữ kí giám thị coi thi số 2:
ĐỀ CHÍNH THỨC
Trang 2HẢI DƯƠNG
DỰ THẢO
THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 THPT
NĂM HỌC 2022 – 2023 MÔN THI: NGỮ VĂN (Đáp án gồm 02 câu, 06 trang)
A YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh, tránh đếm ý
cho điểm Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức độ điểm một cách hợp lí,
khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của
đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm
- Điểm bài thi có thể cho lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn
B YÊU CẦU CỤ THỂ Câu 1 (4,0 điểm)
a Yêu cầu về kĩ năng:
- Thí sinh nắm vững và biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội
- Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận… dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc, lí lẽ thuyết phục
- Bố cục rõ ràng, mạch lạc, hành văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu
b Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ của mình theo nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lý,
có sức thuyết phục và cần tập trung làm rõ những nội dung cơ bản sau:
- “Giọt nước”: là những cái nhỏ bé, ít ỏi, dễ mất đi, dễ tan biến, để chỉ con
người cá nhân
- “biển cả”: là những cái lớn lao, cái chung, biểu tượng cho tập thể.
- “hòa”: chỉ hành động tự nguyện hòa nhập, dâng hiến
Lời dạy trên khẳng định: Những thứ nhỏ bé, ít ỏi sẽ dễ dàng mất đi, dễ
dàng tan biến nếu chỉ tồn tại riêng lẻ một mình Để có sức sống lâu bền, phải
biết hiến dâng, hòa nhập mình vào cái chung Con người ở đời cũng vậy, cần
phải tự nguyện hòa nhập với tập thể để có thể làm được những điều lớn lao,
để có cuộc sống thực sự ý nghĩa
(Học sinh có thể rút ra những thông điệp khác, miễn là hợp lí và có lí giải
thuyết phục)
* Tại sao con người phải biết sống hòa nhập và dâng hiến?
- Sự tự nguyện hòa nhập và dâng hiến sẽ giúp chúng ta có được niềm vui,
hạnh phúc; chúng ta trở nên chín chắn, trưởng thành trong cảm xúc, suy
nghĩ, hành động
- Giúp cá nhân khẳng định được vai trò của bản thân, có thể lưu giữ được
những giá trị sáng tạo của mình cho đến ngày sau Bởi tập thể có thể lưu giữ
và phát triển những giá trị sáng tạo của cá nhân, tạo ra môi trường cho cá
nhân hoạt động và bộc lộ khả năng
- Sống hòa mình là lối sống đẹp, khi có lối sống ấy, con người đã tự vượt lên
2,0
Trang 3chính mình, đồng thời cũng sẽ được mọi người yêu quí, tôn trọng và cảm
phục
- Sự hòa nhập và dâng hiến của cá nhân vào tập thể sẽ giúp tập thể có một
sức mạnh to lớn, làm nên những biến đổi trong lịch sử, thúc đẩy lịch sử phát
triển
* Đánh giá, mở rộng vấn đề:
- Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề
- Nếu cá nhân không chủ động hòa nhập và dâng hiến hết mình vào môi
trường chung của tập thể, thì cá nhân đó không thể phát huy hết được năng
lực của mình, cuộc sống sẽ cô độc, lẻ loi và bế tắc Phê phán những cách
sống không đúng đắn, ích kỉ, cô lập chỉ biết đến lợi ích cá nhân, mà không
quan tâm đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội
- Tuy nhiên, hòa mình vào tập thể không có nghĩa là đánh mất cái tôi, con
người vẫn có thể khẳng định dấu ấn riêng và cá tính của mình
(Trong quá trình phân tích, bàn luận, học sinh đưa ra những dẫn chứng phù
hợp để chứng minh)
0,5
- Nhận thức được mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể Cá nhân chỉ có sức
mạnh, chỉ tồn tại và khẳng định được mình khi sống trong tập thể Tập thể
chỉ mạnh khi có những nhân tố, cá nhân xuất sắc, mạnh mẽ
- Liên hệ bản thân
0,25 0,25
Câu 2 (6,0 điểm)
a.Về kỹ năng:
- Thí sinh tạo lập được một bài văn nghị luận văn học, vận dụng tốt các thao tác lập luận
- Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
- Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
b Về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý cơ bản sau:
- “Nội dung tư tưởng của một tác phẩm văn học”: là toàn bộ những hiện
tượng thẩm mĩ độc đáo được phản ánh bằng hình tượng thông qua sự lựa
chọn, đánh giá chủ quan của người nghệ sĩ, bao gồm những cảm xúc, tâm
trạng, lí tưởng, khát vọng của tác giả về hiện thực đó
- “Sự lí giải dửng dưng, lạnh lùng”: Là biểu hiện của sự khách quan, lí trí
của nhà văn được thể hiện trong quá trình sáng tạo tác phẩm
- “Cảm xúc mãnh liệt”: Là tình cảm chân thành, sâu sắc của nhà văn được
bộc lộ trong tác phẩm
=> Ý kiến khẳng định: Mọi tác phẩm văn học không chỉ phản ánh, lí giải đời
sống một cách khách quan, lí trí mà luôn thể hiện những tình cảm mãnh liệt,
sâu sắc của người viết
- Văn học phản ánh và lí giải hiện thực cuộc sống, xã hội và con người Một
trong những yêu cầu quan trọng của sự phản ánh và lí giải là đảm bảo tính
khách quan, trung thực Tuy nhiên điều đó không đồng nhất với sự sao chép
Trang 4hiện thực một cách nguyên si, máy móc, lạnh lùng, dửng dưng, vô cảm.
- Đằng sau bức tranh hiện thực đời sống thể hiện một tư tưởng, một quan
niệm riêng của người sáng tác về chân lí đời sống, về cái thiện, cái ác, cái
đẹp, cái xấu trong các quan hệ giữa người với người Vì vậy, một tác phẩm
văn học bao giờ cũng có một khuynh hướng tư tưởng
- Tuy nhiên, văn học không phản ánh đời sống và tư tưởng của nhà văn một
cách bàng quan, lãnh đạm mà đều phải trải qua biết bao dằn vặt, trăn trở,
đau đớn, hi vọng, biết bao tình cảm mãnh liệt của người nghệ sĩ Tình cảm
là động lực thúc đẩy quá trình sáng tác, cũng là yếu tố góp phần tạo nên một
phương diện nội dung cho tác phẩm
- Một tác phẩm văn học có giá trị cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa nội
dung tư tưởng sâu sắc và tình cảm phong phú mãnh liệt
- Nội dung tư tưởng của tác phẩm:
+ Qua truyện ngắn, Nam Cao khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn
Việt Nam trước Cách mạng: một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị
đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa Đồng thời phơi bày bộ mặt tàn bạo bất nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến
+ Truyện cũng phản ánh mâu thuẫn không thể điều hòa giữa giai cấp nông
dân và địa chủ ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng
- Tình cảm của tác giả:
+ Bộc lộ niềm thương cảm xót xa cho số phận bất hạnh của những người nông dân lao động trong xã hội cũ
+ Kết án đanh thép xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và tâm hồn con người
+ Trân trọng, ngợi ca bản chất lương thiện, tốt đẹp của người nông dân ngay
trong khi họ bị vùi dập cả nhân hình, nhân tính; đồng thời ngợi ca ước mơ khát vọng hạnh phúc của con người
1,0
0,75
0,25
2,0
0,5
0,5 1,0
- “Chí Phèo” thể hiện tài năng truyện ngắn bậc thầy của Nam Cao: xây
dựng nhân vật điển hình bất hủ; nghệ thuật trần thuật linh hoạt, tự nhiên mà
vẫn nhất quán; ngôn ngữ nghệ thuật đặc sắc; giọng điệu buồn thương chua
chát, dửng dưng lạnh lùng mà đầy thương cảm, đằm thắm yêu thương
- Ý kiến cũng đã đưa ra được những yêu cầu đối với tác giả và những định
hướng cảm nhận đối với người đọc
+ Đối với người sáng tác: khi viết luôn phải có ý thức tôn trọng hiện thực, tác phẩm phải có tư tưởng đúng đắn, sâu sắc Điều căn bản nhất vẫn là tình
cảm phong phú, mãnh liệt, có tính nhân văn, hướng đến con người, vì con
người
+ Đối với người đọc: Hãy sống cùng tác phẩm để cảm thụ tác phẩm bằng tất
cả tư tưởng, tâm hồn mình, thấy được giá trị nội dung tư tưởng và những
cung bậc tình cảm phong phú, mãnh liệt của tác giả
0,25
0,5