Luận văn : Đánh giá tác động môi trường
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nhà máy thủy điện Sơn La là nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á hiện đangtrong thời gian thi công Theo kế hoạch được Thủ tướng phê duyệt sẽ phát điện tổ máy đầutiên vào năm 2015 Tuy nhiên, theo Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và Tổng Công ty SôngĐà(đơn vị làm tổng thầu) , đến năm 2010 nhà máy sẽ phát điện tổ máy đầu tiên, trước khihoàn thành và đưa vào sử dụng tất cả 6 tổ máy vào năm 2013 Nhà máy được đặt tại xã ÍtOng, huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Nhà máy thủy điện Sơn La là công trình trọng điểm quốc gia, do Quốc hội giám sát.Công trình ra đời nhằm cung cấp điện năng, nâng cấp tần suất chống lũ (từ 150 lên 200 năm)
và góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lào Cai cũng nhưmột số tỉnh Tây Bắc Mặc dù đa có rất nhiều nhà máy điện ở Việt Nam, tuy nhiên nhu cầu tiêudùng điện vẫn còn tăng lên rất nhiều mà tình trạng cắt điện luân phiên vào những ngày caođiểm còn rất trầm trọng Đây là vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nói riêng vàtoàn bộ nền kinh tế nói chung Sông Đà nổi tiếng với sự hung hãn nhưng lại chứa đựng rấtnhiều tiềm năng về thủy điện Hiện nay trên sông Đà đã có tới 4 nhà máy thủy điện đang hoạtđộng là nhà máy thủy điện Hòa Bình, nhà máy thủy điện Lại Châu, nhà máy thủy điện HuộiQuảng và nhà máy thủy điện Bản Chát Cùng với các nhà máy nhiệt điện và thủy điện khác,nhà máy thủy điện Sơn La được xây dựng trên con sông Đà hung dữ này sẽ cung cấp cho lướiđiện quốc gia điện lượng bình quân hàng năm 9.429 tỉ kWh Ngoài việc cung cấp điện cholưới điện cả nước phục vụ phát triển Công nghiệp, Nhà máy thủy điện Sơn La còn là nơi điềuhòa nguồn nước quan trọng phục vụ phát triển nông nghiệp, công nghiệp cho các tỉnh phíaBắc
Mặc dù lợi ích của sự ra đời Nhà máy thủy điện Sơn La là vô cùng to lớn và không thểphủ nhận Tuy nhiên, dự án này cũng tạo ra rất nhiều sự lo âu Kể từ khi dự án xây dựng Nhàmáy thủy điện Sơn La được công bố, giới khoa học trong và ngoài nước đã cùng lên tiếngcảnh báo liên tục về những thảm họa lớn và những tác động của nó tới kinh tế,văn hóa, xã hộicũng như tương lai của Việt Nam trong đó đặc biệt là vấn đề về môi trường Vậy vì sao mà dự
án vẫn được Chính phủ thông qua? Những vấn đề về môi trường đó như thế nào? Chính phủ
có những biện pháp nào để giải quyết những vấn đề đó? Những câu hỏi này rất nhiều ngườimuốn biết Đó là lý do vì sao tôi quyết định chọn đây làm đề tài nghiên cứu cho đề án củamình Một đề tài tôi cho là rất thiết thực, rất hấp dẫn và cũng có vai trò hết sức quan trọng
Nội dung bài được tìm hiểu theo theo bốn nội dung chính:
Trang 2 Những vấn đề lý luận chung về đánh giá tác động môi trường.
Tổng quan về dự án và thực trạng môi trường khi tiến hành dự án
Đánh giá những tác động tiềm tàng về môi trường do dự án gây ra
Những kết luận chung nhất về môi trường khi tiến hành dự án
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã cố gắng thu thập thật nhiều thông tin có giátrị Đồng thời phân tích và đánh giá cũng như tham khảo những phân tích của các chuyên giamột cách tổng hợp nhất Tuy nhiên, bài có thể còn rất nhiều thiếu sót về mặt thông tin cũngnhư chưa đầy đủ về mặt kiến thức, rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Nội dung.
I Những vấn đề lý luận chung về đánh giá tác động môi trường.
1 Một số khái niệm chung.
Để có thể nắm bắt và hiểu rõ những vấn đề của dự án Nhà máy thủy điện Sơn La,chúng ta cần hiểu rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến những vấn đề này Một số kháiniệm dưới đây nhằm giúp mọi người hiểu sâu hơn về những vấn đề sẽ được trình bày sau đócũng như cho mọi người thấy được những quan điểm khác nhau về nó Tuy nhiên, về mặt bảnchất nó là như nhau
Khái niệm về môi trường.
- Theo Điều 1, luật bảo vệ môi trường của Việt Nam: Môi trường bao gồm các yếu tố
tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnhhưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên
- Để tiện nghiên cứu, chúng ta sẽ xét khái niệm môi trường theo nghĩa rộng và nghĩahep:
+ Môi trường theo nghĩa rộng: Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tựnhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiênnhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
+ Môi trường theo nghĩa hẹp: Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyênthiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượngcuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè,nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội nhưĐoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thànhvăn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấpvới luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
- Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu, cơ quan quản trị của Cộng đồng Châu Âu(EC): Môi trường là tổ hợp của các yếu tố mà quan hệ qua lại phức tạp của chúng tạo ra cáckhông gian bao quanh, bối cảnh và điều kiện cuộc sống của cá nhân và của cả xã hội, nhưchúng đang tồn tại hay được cảm nhận thấy
Các khái niệm trên đều đặt lợi ích của con người lên hàng đầu Và môi trường được xem xét ởtrên đều được truy nguyên trong mối quan hệ của con người Nghiên cứu tác động môi trườngnhằm mục đích xem xét những ảnh hưởng của nó tới điều kiện sống của con người Trongmối quan hệ với đánh giá tác động môi trường trong dự án xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn
Trang 4La này, chúng ta xem xét môi trường dưới góc độ của khái niệm môi trường theo nghĩa rộng,hay đó cũng chính là theo khái niệm của Ủy ban Châu Âu.
Khái niệm của động từ “ Tác động”.
- “ Tác động” đó là hiệu ứng của một sự vật lên sự vật khác Cùng với ý nghĩa của từ
“Tác động” như trên, trong đánh giá tác động môi trường thì đó là tác động của sự thay đổimôi trường lên điều kiện sống của những người sống trong phạm vi chịu ảnh hưởng của dựán
- Đi kèm với từ “Tác động” chúng ta hay nghe tới cụm từ “Có tác động đáng kể” Vậy
từ “Đáng kể” ở đây được hiểu như thế nào? Theo định nghĩa chung trong từ điển thì nó đượchiểu là “có ý nghĩa”, “quan trọng” hay “đáng chú ý” Đây đề là những cách hiểu, những cáchđịnh nghĩa mang tính chủ quan Một số từ điển chuyên môn thì cho rằng nó có hàm ý là một
sự vật ngoài các giới hạn chấp nhận được Để thống nhất với các nhận định trong bài đánh giánày thì chúng ta hiểu từ “đáng kể” ở đây trong nghĩa là một phán quyết tập thể của các cán bộ,những người được bầu và quần chúng cho rằng nó tác động lên sự vật ngoài giới hạn chấpnhận được
Khái niệm về phát triển bền vững:
- Theo quan niệm đầu tiên về phát triển bền vững của Ngân hàng thế giới (WB) thì:Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đếnkhả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai
- Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững được tổ chức ở Johanesbug(Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sựkết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cảithiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá phát triển bền vững là sựtăng trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội, khai thác hợp lý, sửdụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sống.Hai khái niệm trên đều có sự đồng nhất về mặt ý nghĩa Khái niệm sau làm rõ nghĩ hơn chokhái niệm trước( của ngân hàng Thế giới) Hiểu rõ khái niệm trên ta sẽ hiểu rõ hơn về mặt ýnghĩa của đánh giá tác động môi trường
Khái niệm về đánh giá tác động môi trường:
- Từ tiếng Anh của cụm từ “đánh giá tác động môi trường” là EVIRONMENTALIMPACT ASSESSMENT và được viết tắt là EIA
-Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đếnmôi trường của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh
Trang 5doanh, công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và cáccông trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường.
(Luật bảo vệ Môi trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 10/1/1994,Điều 2, Mục 11)
2 Mục đích của việc đánh giá tác động môi trường đối với xã hội:
“Đó là đặt môi trường vào đúng vị trí cần có của nó trong quá trình hoạch định chính sách bằng cách đánh giá một cách rõ ràng các hậu quả về môi trường của một hoạt động được đề xuất trước khi tiến hành Khái niệm này đã được chấp nhận trong hầu hết các hoạt động phát triển vì phát triển bền vững phụ thuộc vào việc bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên,
cơ sở của sự phát triển tiếp theo”.
( Ủy ban kinh tế Châu Âu của Liên hợp quốc- UNECE- năm 1987)
3 Sự cần thiết phải đánh giá tác động môi trường.
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Nó bao gồm
sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chấtlượng cuộc sống Trong suốt thời gian dài phát triển của lịch sử xã hội loài người, phát triểnluông là mục tiêu phấn đấu cuả bất kỳ một xã hội nào Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dàingười ta đã không phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa “tăng trưởng” và “phát triển”
“Tăng trưởng” chỉ là một chỉ tiêu quan trọng trong các chỉ tiêu để có thể đánh giá đâu là mộtnền kinh tế phát triển Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhậpbình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi
về lượng của nền kinh tế Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nóbao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xãhội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai,tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện vềmọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhấtđịnh nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn Môi trường làmột yếu tố hết sức quan trọng Với khái niệm môi trường theo nghĩa rộng như trên thì conngười luôn bị đặt trong sự tác động một cách mạnh mẽ của môi trường Con người sống trongmôi trường Bất kể một sự thay đổi dù nhỏ nhất của môi trường nó cũng đều ảnh hưởng đếnsức khỏe của con người, cuộc sống của con người Các nước trên thế giới đều hướng mục tiêucủa mình vào phát triển kinh tế chứ không đơn thuần là tăng trưởng kinh tế Trước Keynes,kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rành mạch tăng trưởng kinh tế với pháttriển kinh tế Chính vì vậy mà tới tận những năm 70 của thế ký 20, môi trường mới trở thành
Trang 6một thực thể được đề cập tới trong các hội nghị quốc tế, chỉ đạo các bộ phận pháp chế củaquốc gia và đã được phân bổ một nguồn lực tài chính tương xứng với vai trò của nó trong khuvực công cộng và cả khu vực tư nhân Bởi vì một sự thật căn bản là mô hình phát triển chỉ tậptrung vào khía cạnh tăng trưởng kinh tế đã có một mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tăng trưởngkinh tế và suy thoái môi trường Mối quan hệ theo dạng chữ U ngược được thể hiện ở hình vẽdưới đây Mối quan hệ này thường xuất hiện vào những giai đọan đầu của tăng trưởng kinh tế.Khi mà các nước chưa vươn tới được mức cường thịnh về kinh tế, họ chưa đủ khả năng quantâm đến nhiều vấn đề khác Và họ đặt nhu cầu sinh sống tối thiểu lên hang đầu Về mặt thực
tế cũng như logic thì quan điểm này rất hợp lý Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm chỉ trích chorằng họ các nước thu nhập thấp không cần lãng phí di sản môi trường của mình để đổi lấy sựthịnh vượng kinh tế Điều đó đòi hỏi phải có công tác kế hoạch hóa thông minh hơn và có tầmnhìn xa hơn Điều đó giúp cho các nước hướng tới sự phát triển bền vững một cách đúng đắnnhất Và lợi ích của nó đã được chứng minh ở các nước phát triển đi trước khi mà so vớinhững năm 70, bằng sự quan tâm tới môi trường một cách đúng đắn của mình thì môi trườngsống ngày càng tốt hơn rất nhiều mà kinh tế cũng không ngừng tăng trưởng Một sự phát triểnkinh tế bền vững, một chất lượng cuộc sống còn hơn cả nằm mơ vào những thập niên trước.Những nước như Thụy Sỹ, Na Uy, Thụy Điển là những ví dụ điển hình
Quan hệ giữa ô nhiễm và tăng trưởng
Trang 7P
Vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống không phải là một côngcuộc một sớm một chiều và nó là một mục tiêu đòi hỏi đầu tư cho nó một nguồn ngân sáchđáng kể Đối với những nước phát triển, so với những nước đang phát triển thì họ đã đi trướchàng thế kỷ Tuy nhiên không phải nước phát triển nào cũng có sự quan tâm đặc biệt đến môitrường mà Hoa Kỳ là một ví dụ điển hình Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải gây hiệuứng nhà kính đã từ lâu vẫn chưa được Hoa Kỳ chấp nhận ký kết Một điều hết sức rõ ràng làvấn đề này ảnh hưởng rất nhiều đến việc lập và đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việc đó cóthể lý giải cho việc tại sao các nước đang phát triển nhiều khi chấp nhận đánh đổi môi trườngvới tăng trưởng kinh tế Vì vậy mà , ở các nước đang phát triển có những nguy hại phổ biến
về môi trường mà ta có thể thấy đó là điểm chung rất giống nhau ở các nước đang phát triểnnhư Việt Nam, Lào hay Campuchia Đó là những vấn đề như:
- Phá rừng: đây là tài nguyên môi trường bị đặt báo động hàng đầu đối với những
nước đang phát triển có rừng khi mà cón sức ép về đô thị hóa nhanh và khai thác tài nguyên
Trang 8phục vụ cho tăng trưởng kinh tế Một vấn đề ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống, với sự biếnđổi khí hậu khi tầm quan trọng của rừng không được xem trọng.
- Sự suy thoái nguồn thủy sản, một hậu quả của việc khai thác quá mức, bất hợp lý vì
mục tiêu tăng trưởng ở những nước dựa vào nguồn thủy sản
- Suy thoái đất đai: xảy ra khi áp lực hơn nữa về nhu cầu thực phẩm cho xuất khẩu
nông sản Điều này làm giảm chất lượng đất, thoái hóa đất, xói mòn và sẽ ảnh hưởng nghiêmtrọng đến việc khai thác đất trồng trong tương lai
- Khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước Nước ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của
cộng đồng Rác thải của quá trình đô thị hóa không đúng múc, rác thải công nghiệp và các giađình đều lạm dụng khả năng hấp thụ phế thải của nguồn nước mà không tính đến việc mọi thứ
đề có giới hạn của nó
- Ô nhiễm không khí là vấn đề của những thành phố có thu nhập thấp, hệ thống giao
thông quá tải và công nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu
- Ô nhiễm chất thải rắn khi mà khối lượng chất thải rắn thì càng tăng trong khi xử lý
không hợp lý
-Rủi ro về môi trường do các chất thải và vật liệu độc hại nguy hiểm gây ra do việc sử
dụng bất hợp lý các phụ phẩm công nghiệp và tiêu dung nó
- Mất dần đa dạng sinh học do phá rừng, đất đai bị đô thị hóa và khai thác quá mức
các loài sinh vật gây ra
- Thay đổi bầu khí quyển, một vấn đề toàn cầu.
Đó là những vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm và là lý do vì sao cần phải cầnphải đánh giá tác động môi trường
Riêng đối với hoạt động sản xuất, đặc biệt trong những dự án của tư nhân, vấn đề
“môi trường” đặc biệt bị xem nhẹ Bởi chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề lợi nhuận của
họ Mà việc theo đuổi lợi nhuận là điều được đặt lên hàng đầu đối với tất cả những dự án kinhdoanh Việc chạy theo lợi nhuận đó đã khiến họ tìm mọi cách trốn tránh trách nhiệm của họvới môi trường, với thế hệ tương lai, để tìm mọi cách giảm thiểu chi phí Việc đánh giá tác
Trang 9động môi trường nhằm gắn trách nhiệm của họ với môi trường, ngăn chặn sớm nhất nhữngảnh hưởng về môi trường từ việc tiến hành các hoạt động sản xuất đó Nếu bắt buộc tiến hành
vì ý nghĩa xã hội nào đó thì việc đánh giá cũng đưa ra được lời cảnh báo và biện pháp phòngtránh có thể để tránh bất ngờ
Trước những nguy cơ do các hoạt động sản xuất và đời sống hàng ngày gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến môi trường, tạo ra những hậu quả to lớn cản trở sự phát triển, mỗiQuốc gia và các tổ chức tài trợ dự án đã có nhận thức về sự cần thiết phải đánh giá nghiêm túc
và thận trọng về tác động môi trường của mọi hành vi can thiệp vào tự nhiên của chính mìnhthông qua việc triển khai các dự án Điều đó sẽ được đảm bảo bằng sức mạnh của pháp luật vàcác quy định của chính phủ, yêu cầu bắt buộc của các tổ chức tài chính Đồng thời hỗ trợ chonhững người ra quyết định ở các cấp thích hợp Việc đánh giá tác động môi trường này là cơhội để công chúng đưa ra tiếng nói của mình, bảo vệ quyền lợi của chính họ và của toàn xãhội để cùng đưa ra những biện pháp giải quyết
4 Những vấn đề “môi trường” cần đề cập trong đánh giá tác động môi trường.
Hầu hết trong hệ thống pháp luật hiện nay của các Quốc gia đều có một phần lớn vềluật môi trường Với góc độ là môi trường theo nghĩa rộng, thành phần của “môi trường”cũng như là những vấn đề “môi trường” cần đề cập trong đánh giá tác động môi trường đó là:
- Tất cả các mặt của khu vực bao quanh con người có thể ảnh hưởng tới từng cá nhânhay theo nhóm xã hôi
- Các tài nguyên thiên nhiên bị ảnh hưởng bao gồm đất, nước, không khí
- Các hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học
- Hệ động thực vật trong môi trường
- Gồm có cả các bối cảnh xã hội, kinh tế và văn hóa
- Cơ sở hạ tầng và các thiết bị liên quan đến đời sống của con người
- Bất kỳ chất rắn, chất lỏng , chất khí, mùi, nhiệt, tiếng động, rung động hay búc xạ làkết quả trực tiếp hay gián tiếp được sinh ra từ các hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạt trongcuộc sống thường ngày của con người
- Các tài sản tự nhiên đã được công nhận là những thắng cảnh, danh lam và các tuyếnđường đẹp tự nhiên
- Các tài sản và di sản lịch sử đã được công nhận
- Các tài sản mang tính thẩm mỹ cao, có giá trị nghệ thuật cao
Trang 10- Các đặc trưng riêng có về y tế.
- Vấn đề quy hoạch môi trường, bảo vệ môi trường, quản lý môi trường, kiểm soát ônhiễm, bảo tồn thiên nhiên cùng các biện pháp giảm thiểu tác động khác Trong đó, vấn đềquy hoạch được coi là cánh tay chiến lược để xử lý các vấn đề môi trường và hỗ trợ việc đánhgiá các dự án riêng lẻ
Để có thể đánh giá môi trường theo những nội dung trên là một quá trình tương đốiphức tạp Có những đánh giá đặc biệt xem trọng nội dung này nhưng cũng có những đánh giáđặc biệt quan tâm đến nội dung khác tùy thuộc vào loại tác động chủ yếu mà hoạt động cầnđánh giá của con người gây lên Để dễ dàng theo dõi cũng như để dơn giản hóa việc phân chiathành các nội dung lớn, thế giới thường chia những tác động hay ảnh hưởng về môi trườngtheo bốn nội dung lớn
Ô nhiễm và sinh thái: Đó là những ảnh hưởng lên không khí, nước, tiếng ồn, và
mức độ rung, mức độ phóng xạ, hệ động thực vật, sinh thái, đa dạng sinh học, mức độ nhiễmbẩn, sức khỏe, các vùng cảnh đẹp tự nhiên nổi bật, phong cảnh tự nhiên và nhân tạo, di sảnvăn hóa lịch sử, môi trường và thẩm mỹ thị giác, quản lý giao thông, xói mòn đất và suy thoáiđất, vấn đề tiêu và thoát nước, không gian thoáng, quản lý các chất thải vào môi trường và vấn
đề khí hậu
Tài nguyên thiên nhiên: Những tác động tới đất Nông nghiệp, tài nguyên rừng, cấp
nước (kể cả với nước ngầm), khoáng sản và hải sản, tài nguyên năng lượng, vật liệu xây dựng,đất ngập nước, rừng ngập măn, san hô, rừng mưa nhiệt đới hoang dã và cây bụi
Xã hội: Những ảnh hưởng về dạng định cư, việc làm, sử dụng đất, nhà ở, cuộc sống
xã hội, phúc lợi, phương tiện nghỉ ngơi, trang bị và dịch vụ cộng đồng, an toàn, các cộng đồngbản xứ, các nhóm thiểu số, ảnh hưởng tới thanh niên, vấn đề thất nghiệp, người già, người tàntật, phụ nữ và bình diện kinh tế xã hội bị ảnh hưởng
Kinh tế: Đó là những ảnh hưởng về cơ hội công ăn việc làm khả năng tiếp cận đến
các trang bị dịch vụ, và các cơ hội có việc làm, các hạ tầng cơ sở đô thị, khả năng lựa chọn vàkhả năng hợp lý về giá cả của hàng hóa dịch vụ, mặt bằng giá của địa phương, các chi phí hạtầng cơ sở và các khoản đóng góp, thu nhập thực tế, giá đất và hiệu ứng số nhân có thể xảy ra
5 Quy trình tiến hành đánh giá tác động môi trường.
Tiến hành đánh giá tác động môi trường rất tốn kém, tuy nhiên đối với tất cả các dự ánnếu không hoàn tất thủ tục này thì dự án đều không được thông qua Các bước tiến hành đánhgiá tác động môi trường có thể chia làm ba giai đoạn chính:
- Giai đoạn trước khi nghiên cứu đánh giá tác động môi trường :
Trang 11+ Sàng lọc dự án: xác định xem có cần thiết phải tiến hành đánh giá tác động môitrường không và sẽ tiến hành đánh giá ở mức độ như thế nào Để thực hiện bước này người ta
sử dụng những phương pháp chủ yếu là:
Sử dụng những tiêu chuẩn đơn giản
Dựa vào danh mục những dự án được miễn đánh giá tác động môi trường
Sử dụng những câu hỏi kiểm chứng sàng lọc
Sử dụng phân tích sàng lọc
+ Đánh giá sơ bộ tác động môi trường: bao gồm việc xác định, mô tả và đánh giá bướcđầu những tác động môi trường có thể xảy ra từ dự án
- Giai đoạn nghiên cứu đánh giá tác động môi trường chi tiết:
+ Xác định phạm vi nghiên cứu chi tiết
+ Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường chi tiết:
Mô tả tình trạng môi trường gốc – khi không có dự án
Liệt kê các hoạt động của dự án có liên quan kể cả giai đoạn xây dựng, vận hành
và bảo dưỡng
Xác định và dự đoán tác động của dự án và so sánh chúng với những dự báo về
sự thay đổi môi trường ngay cả khi không có dự án
Đánh giá mức độ thay đổi môi trường, mức độ rủi ro và sự chia sẻ tác động môitrường
Xác định các phương pháp phòng tránh hoặc giảm thiểu tác động môi trường
So sánh các phương án lựa chọn
Trình bày các kết quả đánh giá đã đạt được
- Giai đoạn sau khi nghiên cứu chi tiết đánh giá tác động môi trường
+ Tổng kết
+ Ra quyết định
+ Giám sát và kiểm soát tác động môi trường
(Sơ đồ quy trình đánh giá tác động môi trường được trình bày ở danh mục bảng biểu)
6 Các nguyên tắc và các yếu tố quyết định sự thành công của đánh giá tác động môi trường.
a Các nguyên tắc đánh giá tác động môi trường.
Hầu hết tác động môi trường đề diễn ra ngay tại chỗ, vì thế những cộng đồng sở tạithường là người phải chịu tác động trực tiếp những hậu quả môi trường tai hại của dự án.Trước đây, lợi ích của cộng đồng sở tại thường bị coi nhẹ và thực chất đã phải chịu hậu quả
Trang 12của những dự án phát triển Ngày nay, trong công tác thẩm định dự án đã coi trọng quyền lợicủa cộng đồng sở tại và đã phải đưa ra những nguyên tắc mang tính chất biện pháp bắt buộc
để đảm bảo cộng đồng sở tại được bảo vệ, đảm bảo ý nghĩa của việc đánh giá tác động môitrường Đó là:
- Yêu cầu sử dụng phương pháp có sự tham gia của cộng đồng* trong đánh giá tácđộng môi trường Đây là phương pháp dùng trong chuẩn bị đánh giá tác động môi trường màtrong đó, những cộng đồng sẽ chịu ảnh hưởng của tác động môi trường có thể thấy trước của
dự án (gồm cả cộng đồng trong và ngoài vùng dự án) đều được tham khảo ý kiến đầy đủ vàphải được phép tham gia đánh giá tác động môi trường
- Sự chấp nhận của xã hội đối với rủi ro môi trường Khó có thể có dự án nào khônggây tác động môi trường nào Tuy nhiên, yêu cầu này muốn nói rằng phải có sự thống nhấtchung giữa các thành viên cộng đồng sở tại về việc chấp nhận rủi ro môi trường do dự án gây
ra sau khi dự án được phê chuẩn và có những biện pháp khắc phục cũng như hạn chế nhữngrủi ro
- Có quỹ bảo vệ môi trường để đảm bảo ngân sách đền bù những ảnh hưởng cho cộngđồng sở tại mà dự án gây ra trong tương lai
- Luôn có hệ thống giám sát, kiểm toán và đánh giá môi trường để đảm bảo vấn đềmôi trường được thực thi một cách có hiệu quả
b Các yếu tố quyết định sự thành công của hệ thống đánh giá tác động môi trường.
- Khung pháp lý và thể chế bắt buộc
- Trình độ chuyên môn cao và không ngừng hoàn thiện Chuẩn bị đánh giá tác độngmôi trường là một công tác đòi hỏi kiến thức khoa hoc cao và tổng hợp cũng như cần cónhững hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực Vì vậy mà cán bộ của chính phủ và các giới khoahọc môi trường, những người chuyên môn phải tích cực hoàn thiện và nâng cao trình độchuyên môn của mình để có những đánh giá chính xác nhất
- Có sự tham gia sâu rộng của công chúng Điều này quyết định rất lớn đến thành côngcủa việc đánh giá tác động môi trường Nếu thiếu đi sự tích cực của công chung sẽ dẫn đếnviệc cấu kết của những nhóm lợi ích hẹp và đưa ra những đánh giá thiếu tính khách quan, gâyảnh hưởng lớn đến môi trường trong tương lai mà chưa có những biện pháp để khắc phục
II Dự án Nhà máy thủy điện Sơn La và thực trạng môi trường của dự án.
1.Tổng quan về dự án Nhà máy thủy điện Sơn La
Dự án Nhà máy thủy điện Sơn La được Nhà nước ta đặt ra từ những năm 60 và đượcđẩy mạnh nghiên cứu vào những năm 80 của thế kỷ XX, ngay khi xây dựng nhà máy thủyđiện Hòa Bình, năm 1978, báo cáo tổng quan khai thác thủy điện sông Đà đã được Nhà nước
Trang 13phê duyệt với nội dung sẽ xây dựng hai đập thủy điện là Hòa Bình(thuộc tỉnh Hòa Bình) và
Tạ Bú(thuộc tỉnh Sơn La) Sau nhiều năm nghiên cứu, chủ trương xây dựng nhà máy thủyđiện Sơn La đã được sự thống nhất cao của Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ về việc xâydựng Nhà máy thủy điện Sơn La theo phương án “Ba bậc” trên sông Đà Tại kỳ họp thứ 9,Quốc hội khóa X, ra nghị quyết số 44/2001-QH10 ngày 29/6/2001 quyết định chủ trương xâydựng Dự án Nhà máy thủy điện Sơn La Lễ khởi công xây dựng Nhà máy và ngăn sông Đàđợt I diễn ra vào ngày 2/12/2005
Công trình thủy điện Sơn La được Chính phủ quyết định xây dựng tại tuyến Pá Vinh
II, xã Ít Ong, huyện Mường La tỉnh Sơn La, trên sông Đà là hệ thống phụ lưu lớn nhất trên hệthống sông Hồng, bắt nguồn từ vùng núi Ngụy Sơn – Vân Nam, Trung Quốc, tổng chiều dàisông Đà 980 km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam là 540km
Nhà máy thủy điện Sơ La được xây dựng theo phương án quy hoạch thủy điện trênsông Đà gồm ba bậc: Hòa Bình – Sơn La thấp và Lai Châu( Nậm Nhùn); quy mô công trình ởmực nước dâng bình thường trong khoảng 210-215m (độ cao tùy thuộc vào nghiên cứu thiết
kế kỹ thuật, nhưng tối đa không vượt quá 215m) Phương án di dân tái định cư theo phươngthức chủ yếu là tập trung và ở trong địa bàn hai tỉnh Sơn La, Lai Châu
Nhà máy thủy điện Sơn La là nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á Đây là côngtrình trọng điểm Quốc gia do Quốc hội giám sát Công trình thủy điện Sơn La là công trìnhđạt được nhiều mục tiêu, có hiệu ích tổng hợp,có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc phảttriển kinh tế - xã hội của cả nước, của vùng Tây Bắc và đặc biệt là của ba tỉnh Sợ La, ĐiệnBiên, Lai Châu
- Cung cấp điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp Công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
- Góp phần chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước về mùa kiệt cho đồng bằng Bắc
bộ Nâng cấp tần suất chống lũ từ 150 năm lên 200 năm
- Góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội cho vùng Tây Bắc Đặc biệt sẽ góp phần xóa đóigiảm nghèo cho người dân ba tỉnh Sơn La , Điện Biên, Lai Châu
Nhà máy thủy điện Sơn La theo kế hoạch được Thủ tướng phê duyệt sẽ phát điện tổmáy đầu tiên vào năm 2015 Tuy nhiên, ông Dương Khánh Toàn - Tổng giám đốc Tổng Công
ty xây dựng Sông Đà đã thay mặt 13 nhà thầu hứa với Chính Phủ sẽ hoàn thành dự án trước
Trang 14thời hạn 2 năm Tức là sẽ hoàn thành dự án và đưa vào sử dụng 6 tổ máy vào năm 2013 dođẩy nhanh tiến độ thi công và sử dụng công nghệ đầm lăn tiên tiến Hoàn thành dự án sớmnhưng vẫn đảm bảo tốt chất lượng công trình Và dự kiến sau khi đi vào hoạt động, tần suấtphát điện hàng năm của nhà máy là 1,2 tỷ Kw/giờ Công suất lắp máy dự kiến của nhà máy là2400MW sẽ được đấu nối vào hệ thống điện Quốc gia bằng đường dây 500KV Sơn La-HòaBình, Sơn La – Nho Quan, Sơn La - Việt Trì và Sơn La – Sóc Sơn Trạm 500KV Sơn La dựkiến đặt tại khu vực Pi Toong, cách nhà máy này từ khoảng 3 đến 4km.
Nhà máy thuỷ điện Sơn La sẽ được xây dựng với hình thức Tổng thầu xây lắp do TCtySông Đà đứng đầu Danh sách 13 DN tham gia liên danh đã được thống nhất Thông số kỹthuật của Nhà máy thủy điện Sơn La là:
Diện tích hồ chứa: 224km2 Dung tích toàn bộ hồ chứa: 9,26 tỉ mét khối nước
Công suất lắp máy: 2.400 MW, gồm 6 tổ máy
Điện lượng bình quân hằng năm: 9,429 tỉ kWh
Cấp công trình: Cấp đặc biệt
Tổng vốn đầu tư: 42.476,9 tỉ đồng (bao gồm vốn đầu tư ban đầu là 36,97 tỉ đồng và lãivay trong thời gian xây dựng là 5.708 tỉ đồng)
Chủ đầu tư: Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN)
Tổng số hộ dân phải di chuyển: 17.996 hộ tại 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên
(Các chỉ tiêu thông số chính của hồ được đưa vào danh mục bảng biểu)
2.Thực trạng về môi trường trước khi có dự án thủy điện Sơn La.
Tình hình ô nhiễm và sinh thái.
Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, có diện tích tự nhiên 14.125 km2chiếm 4,27% tổng diện tích cả nước, đứng thứ 3 trong số 64 tỉnh thành phố trong cả nước.Toạ độ địa lý: 20039’ - 22002’ vĩ độ Bắc và 103011’ - 105002’ kinh độ Đông Phía bắc giápcác tỉnh Yên Bái, Lai Châu; phía đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình; phía tây giáp vớitỉnh Điện Biên; phía nam giáp với tỉnh Thanh Hoá và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào;
có chung đường biên giới Việt - Lào dài 250 km, có chiều dài giáp ranh với các tỉnh khác là
628 km Sơn La có 11 đơn vị hành chính (1 thị xã, 10 huyện) với 12 dân tộc Sơn La có độcao trung bình 600m so với mặt nước biển Địa hình chia thành 3 vùng sinh thái: vùng dọctrục quốc lộ 6, vùng hồ sông Đà và vùng cao biên giới Sơn La có hai cao nguyên: Mộc Châu(cao 1.050 m) và Nà Sản (cao 800 m).Địa hình Sơn La gồm 3/4 là đồi núi và cao nguyên, đất
Trang 15đai tương đối màu mỡ, thích hợp với các loại cây công nghiệp, cây lâu năm Khí hậu đặctrưng cận ôn đới, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa.
Môi trường nước
Hiện trạng môi trường nước ở Sơn La về cơ bản vẫn đảm bảo chất lượng theo tiêichuẩn cho phép Có hai hệ thống sông chính chảy qua địa bàn tỉnh là sông Đà dài 280km với
32 phụ lưu, sông Mã có 90 km với 17 phụ lưu Nhưng hầu hết các sông đều nhỏ hẹp, độ dốclớn về mùa mưa thường xảy ra lũ và gây sạt lở Mực nước thường thấp hơn nhiều so với đấtcanh tác nên mùa khô bị thiếu nước trầm trọng Tuy nhiên sông suối Sơn La có tiềm năngthủy điện đứng đầu cả nước Nhu cầu nước dùng trên toàn tỉnh cho đến năm 2020 ước tínhvào khoảng 25000 m3/ngày Các nhà máy thủy điện được xây dựng ngày càng nhiều, nhữngtác động cơ học của nó đều gây ảnh hưởng đến dòng chảy và hệ sinh thái nước Điều này gâyảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, số lượng và sự đa dạng sinh học của nguồn nước Bêncạnh đó Sơn La chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho những khu đô thị tập trung lớn
và những khu công nghiệp, do đ ó lượng nước thải từ sinh hoạt và hoạt động sản xuất thải trựctiếp vào nguồn nước hoặc ngấm xuống làm ô nhiễm nước mặt lẫn nước ngầm Vì là tỉnh có tỷ
lệ dân số làm Nông nghiệp rất lớn nên việc sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật đã vàđang có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng nước trên địa bàn của tỉnh Theo thống kê của sởtài nguyên môi trường tỉnh Sơn La, với 35 mẫu mặt nước và nước sinh hoạt, 35 mẫu nước thảisinh hoạt, sau khi xét nghiệm và phân tích, đối chiếu với TCVN* 5945 - 1995 và TCVN 5942– 1995 thì chủ yếu các thông số nói trên đều nằm trong giới hạn cho phép Tuy nhiên, hiệnnay một số điểm có biểu hiện ô nhiễm môi trường nước cục bộ một cách nghiêm trọng nhưkhu vực nhà máy đường Mai Sơn, suối Nậm La và một số cơ sở chế biến nông sản thủ côngthải hóa chất trực tiếp vào nguồn nước Cũng có những nơi ô nhiễm do tự nhiên như sạt lởđất, đá… Song về căn bản nước của địa bàn tỉnh vẫn chưa ảnh hưởng đến sức khỏe của cộngđồng người dân sống trong địa bàn tỉnh
Hệ sinh thái mặt đất ở thượng lưu đóng vai trò quan trọng đối với việc thấm nướcmưa, bổ sung nước ngầm và chế độ dòng chảy của sông Hệ sinh thái nước tạo ra nhiều lợi íchkinh tế như có nhiều loài động thực vật sinh sống Hệ sinh thái phụ thuộc vào dòng chảy,phân mùa, dao động tầng nước ngầm và chất lượng nước là một yếu tố căn bản Tuy nhiênnguồn nước đang bị suy thoái, nhiều nơi ô nhiễm, nguy cơ nguồn nước bị cạn kiệt đang đedọa cho phát triển kinh tế và đời sống một số vùng Đặc biệt là những khu công nghiệp vàvùng đô thị lớn
Trang 16 Hệ động thực vật, sinh thái và đa dạng sinh học.
“Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môitrường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó” Diện tích rừng trên địabàn tỉnh đang dần bị thu hep Độ che phủ còn rất thấp so với yêu cầu Cùng với đặc điểmriêng có về vị trí địa lý, địa hình bị phân hóa, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến khí hậu của Sơn La.Các yếu tố này chi phối mạnh đến động thực vật ở tỉnh miền núi này Hiện nay đã thống kêđược một danh mục các loài thực vật bậc cao ở Sơn La bao gồm 125 họ và 861 loài
Một số họ thực vật có số cá thể lớn cấu tạo nên các thảm thực vật là họ đậu, họ Longnão, họ thầu dầu, họ Bồ hòn, họ xoan, họ Trúc đào, họ Cau dừa
Hệ động vật ở trên cạn: trên địa bàn tỉnh có 245 loài, 88 họ, 27 bộ động vật có xươngsống từ lớp lưỡng cư trở lên Do đặc điểm phân bố rừng và phân bố dân cư nên đặc điểm vàthành phần động vật ở các huyện là khác nhau
Hệ động vật dưới nước chủ yếu là cá và một số loài thủy sản khác Động vật đáy gồm
8 loại chủ yếu là nhóm tôm cua Khu động vật đáy hồ ở các nhà máy thủy điện nghèo về sốloài Cá gồm 21 loài, có xu thế giảm mạnh cả về số loài và số cá thể trong một loài
Tình Sơn La có bốn khu bảo tồn thiên nhiên là Xuân Nha, Sốp Cộp, Tà Xùa và Côpiađược thành lập theo Quyết định 3440/2002/QD-UB ngày 11/11/2002 của UBND tỉnh Sơn Lavới tổng diện tích là 44 800,98 ha hiện còn lưu giữ được nhiều nguồn gen động thực vật quýhiếm Hiện mặc dù đang được bảo vệ nghiêm ngặt, tuy nhiên, các khu bảo tồn này đang bịchặt phá để lấy đất làm rẫy
Do đặc điểm tự nhiên và nhân tạo, tỉnh Sơn La có một hệ thống các dạng cảnh quansinh thái, môi trường đa dạng Đi kèm theo đó là các hệ động thực vật đa dạng cả về số lượng
và thành phần loài Nhiều loài có giá trị kinh tế, giá trị sinh học và giá trị chữa bệnh cao Một
số nguồn gen, loài động thực vật được người dân và các tổ chức, các doanh nghiệp sử dụng,khai thác phục vụ cho mục đích bảo tồn hay cho phát triển kinh tế như cây Măng lay, cây Sơntrà, giống gà đen bổ dưỡng… Tuy nhiên cùng với đó là mâu thuẫn giữa khai thác vì giá trịkinh tế và bảo tồn ngày càng có sự mâu thuẫn Vì còn nghèo đói nhiều nên tình trạng khaithác bừa bãi bất hợp pháp làm giảm tài nguyên sinh vật và làm giảm đa dạng sinh học Đây làmột thách thức đặt ra cho vấn đề bảo vệ hệ động thực vật, hệ sinh thái và đa dạng sinh họccủa tỉnh Lượng các loài động thực vật đã giảm hơn một nửa so với năm 1945 Nhiều loài cây
Trang 17con đang rất khan hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng Trữ lượng thú của tỉnh thấp và nhiều loài
có nguy cơ bị tiêu diệt liên quan trực tiếp đến tính đa dạng sinh học trên địa bàn Trong đó,suy giảm số lượng loài thực vật còn lớn hơn nhiều so với động vật
Môi trường không khí và tiếng ồn.
Phát triển kinh tế công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa làm cho tỉnh Sơn La đangngày càng đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí và tiếng ồn Đặc biệt do khai thác chế biến
đá, khai thác cát, sét, sản xuất gạch, ngói, xi măng… và các loại xe vận chuyển cho các côngtrình xây dựng cùng với việc sinh hoạt đun nấu bằng củi, cháy rừng là những nguyên nhângây ô nhiễm.Các tuyến đường giao thông đô thị bị ô nhiễm do các loại phương tiện giao thônggây ra Các khu công nghiệp phát thải gây nhiều khói bụi và chất khí độc hại và môi trườnggây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sản xuất sức khỏe và môi trường sinh thái Tuy nhiên nồng
độ khí ở đô thị và các khu công nghiệp vẫn trong giới hạn cho phép Phương tiện giao thôngthải ra SO2, CO, NO2…Tiếng ồn chủ yếu do giao thông và các nhà máy xí nghiệp gây ra
Kết quả khảo sát chất lượng môi trường không khí và tiếng ồn của sở Tài nguyên vàmôi trường Sơn La tại các điểm ngẫu nhiên lựa chọn, với 37 điểm lấy mẫu đánh giá các chỉtiêu khí độc và bụi, 37 điểm đo không khí và tiếng ồn thu được kết quả: bụi lơ lửng và tiếng
ồn vượt tiêu chuẩn (7/35 điểm có nồng độ bụi lơ lửng trong không khí vượt quá tiêu chuâneTCVN 5937-1995) Xung quanh nhà máy xi măng Chiềng Sinh với bán kính 2,5km từ tâmống khói bị ô nhiễm không khí dạng vùng Một số vùng ô nhiễm trên địa bàn tỉnh chủ yếunằm dọc các tuyến đường giao thông chính của tỉnh Dù vẫn chưa rơi vào tình trạng nghiêmtrọng, những đây cũng là những biểu hiện cần phải cảnh bảo tránh tình trạng bị báo độngtrong thời gian tới nếu tình trạng này vẫn chưa được khắc phục
Hiện trạng quản lý chất thải rắn.
Lượng chất thải rắn trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng cao Dự đoán lượng chất thải rắnphát sinh trên toàn địa bàn tỉnh Sơn La sẽ tăng với tốc độ từ 11% đến 14% một năm giai đoạn2000-2010 va từ 8% đến 10% một năm giai đoạn 2011-2020 Toàn tỉnh mới chỉ có vài chiếc
xe cuốn ép rác tại thị xã Chất thải rắn chủ yếu thu gom bằng thủ công và kết hợp một phần cơgiới Tỷ lệ thu gom rác thải rắn phát sinh hằng ngày đạt tỷ lệ khoảng 70% Như vậy là chưađáp ứng được nhu cầu Nhiều điểm còn tồn đọng rất nhiều chất thải rắn như khu vực bệnhviện, khu công nghiêp…Và nhiều chất thải chưa được chon cất hợp vệ sinh Toàn tỉnh có trên
Trang 1813 bãi rá nhưng đều chưa hợp vệ sinh Từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2005 công ty Môi trường
đô thi Sơn La đã thu gom vận chuyển 82500 tấn rác thải các loại và ước tính hết năm 2005được 90000 tấn Song chủ yếu là đốt lửa, chưa đảm bảo vệ sinh Từ đó cho thấy tỉnh cần xâydựng một khu xử lý chất thải rắn đảm bảo tiêu chuẩn
Thực tế trên cho thấy khả năng phát sinh chất thải rắn tại tỉnh Sơn La đã và đang vượtquá khả năng thu gom xử lý của tỉnh Tình trạng không quản lý được chất thải rắn này sẽkhiến cho việc gây ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nướcmặt và nước ngầm không chỉ trong khu vực rác thải mà còn là trên địa bàn toàn tỉnh
Cảnh đẹp và các di sản văn hóa của tỉnh.
Sơn La là một tỉnh không phải là thế mạnh về du lịch Tuy nhiên tỉnh có nhiều phongcảnh đẹp và một số di sản văn hóa được Nhà nước công nhận Hai cao nguyên là cao nguyênMộc Châu và cao nguyên Nà Sản đang được khai thác cho những mục đích du lịch Một sốdạng du lịch sinh thái tại 4 khu bảo tồn cũng có giá trị to lớn Nhìn chung phong cảnh ở đâyvẫn được bảo tồn giá trị Di tích lịch sử như nhà tù Sơn La, văn bia Quế Lâm Ngự Chế… vẫngiữ nguyên được giá trị văn hóa của nó Một số phong cảnh như Hang Rơi, Hang Chi Đẩy hay
hồ Tiền Phong cũng giữ được nét đẹp tự nhiên mà không bị con nguời tác động gây ảnhhưởng xấu Tạo điều kiện tiềm năng cho phát triển du lịch sau này
Tình trạng giao thông và tình trạng suy thoái đất
Sơn La đang là tỉnh được đầu tư rất nhiều về xây dựng hệ thống giao thông Cácđường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh gồm có 4 tuyến chính nối Sơn La với thủ đô HàNội: đường quốc lộ 6, quốc lộ 37, quốc lộ 43, quốc lộ 279 Ngoài ra, còn có đường không vàđường sông như sân bay Nà Sản và cảng đường sông Tà Hộc, Vạn Yên Đặc biệt là conđường quốc lộ 6 đã hoàn thành và đi vào hoạt động làm cho giao thông ngày càng thuận tiệnhơn rất nhiều Nhiều con đường giao thông cũng được mở vào sâu tới tận các vùng thôn bản
xa xôi hẻo lánh để phục vụ cho các công trình thủy điện Việc xây dựng them nhiều conđường giao thông tạo điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên nó cũng ảnh hưởngkhông nhỏ đến môi trường do quá trình xây dựng gây ra
Việc chặt phá rừng bữa bãi cũng làm ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường của tỉnh
Là rừng đầu nguồn, nó là lá chắn và điều tiết khí hậu cho cả vùng đồng bằng Bắc bộ phía sau
nó Tuy nhiên những năm gần đây, dù đã trồng hàng ngàn ha rừng tái sinh nhưng tình trãng
Trang 19rừng trên các quả đồi vẫn chỉ như cái “nón úp” còn rất phổ biến Mặc dù đã có nhiều biệnpháp khắc phục như giao đất rừng cho người dân nhưng hiệu quả vẫn không cao Tình trạngrừng những năm gần đây vẫn ngày càng bị thu hẹp vẫn không hề thuyên giảm Chính vì rừngđầu nguồn bị chặt phá thu hẹp dần nên tình trạng sạt lở đất, sói mòn đất đất rừng bị suy thoáikém màu mỡ ngày càng trở nên phức tạp hơn Cùng với việc chặt phá rừng là việc khai thácđất đá trên núi cũng làm tình trạng sạt lở ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Thực trạng khí hậu
Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh khô, mùa hè nóng ẩmmưa nhiều Do địa hình bị chia cắt sâu và mạnh nên hình thành nhiều vùng khí hậu Khí hậu ởđây tương đối dễ chịu Tuy nhiên, do ảnh hưởng của hiên tượng nóng lên toàn cầu nên nềnnhiệt độ của tỉnh cũng tăng lên hằng năm Cùng với việc rừng phòng hộ đầu nguồn bị chặtphá nghiêm trọng dẫn tới việc số lượng lũ hàng năm tăng lên Có khí hậu nhiệt đới gió mùa,mùa đông lạnh khô, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mưa tập trung vào các tháng 7 và 8 (không
có bão), thỉnh thoảng có giông và mưa đá, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.276 mm.Nhiệt độ cao nhất là 25,70C, nhiệt độ thấp nhất là 170C, nhiệt độ trung bình là 24,020C; hàngnăm có 6 tháng có nhiệt độ trung bình 24,020C Sương muối thường xảy ra vào tháng 12 - 01hàng năm Dự báo năm nay nền nhiệt độ sẽ tăng lên khoảng 1 độ do ảnh hưởng của EL Nino
Tài nguyên thiên nhiên.
Là một tỉnh miền núi, Sơn La có những đặc trưng riêng về tài nguyên thiên nhiên.Không được đánh giá là giàu có và phong phú về chủng loại TNTN*, nhưng Sơn La lại có rấtnhiều thế mạnh từ những nguồn tài nguyên đáng quý này
- Tài nguyên đất: Tỉnh Sơn La có 1.405.500 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó diệntích đất nông nghiệp là 190.070 ha, chiếm 13,52%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là331.120 ha, chiếm 23,55%; diện tích đất chuyên dùng là 22.327 ha, chiếm 1,53%; diện tíchđất ở là 5.756 ha, chiếm 0,39%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối là 856.227 ha, chiếm59,02%
Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 161.266 ha, chiếm84,48%, trong đó lúa 2 vụ chiếm 0,8% diện tích; diện tích đất trồng cây lâu năm là 16.426 ha,chiếm 8,64%
Trang 20Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ xanh là 734.018 ha; đất bằng chưa sử dụng là
380 ha; đất có mặt nước chưa được khai thác sử dụng là 59 ha; đất sông suối là 9.793 ha; đấtnúi đá không có cây là 64.376 ha; đất chưa sử dụng khác là 47.601 ha
- Tài nguyên rừng: Tính đến năm 2002, tỉnh Sơn La có 310.135 ha rừng hiện có, tỷ lệche phủ rừng đạt 22,1% Trong đó rừng tự nhiên là 287.161 ha, rừng trồng là 22.974 ha Sơn
La có 4 rừng đặc dụng bảo tồn thiên nhiên là Xuân Nha (Mộc Châu) rộng 38.000 ha, Sốp Cốp(Sông Mã) rộng 27.700 ha, Côpia (Thuận Châu) rộng 9.000 ha, Tà Xùa (Bắc Yên) rộng16.000 ha Rừng của tỉnh Sơn La có giá trị rất lớn Nó vừa là bức bình phong chống sói mònsạt lở đất và ngăn lũ cho đồng bằng Bắc bộ Đồng thời có giá trị kinh tế rất lớn về lâm sản
- Tài nguyên khoáng sản: Sơn La có 2 nguồn nguyên vật liệu xây dựng chủ yếu là đávôi và sét với trữ lượng khá lớn phân bố tương đối rộng trên địa bàn toàn tỉnh, hiện đang đượckhai thác mạnh để sản xuất xi măng, gạch, ngói phục vụ nhu cầu xây dựng trong tỉnh và côngtrình thuỷ điện Sơn La; mỏ sét Nà Pó trữ lượng 16 triệu tấn, mỏ sét xi măng Chiềng Sinh trữlượng 760 ngàn tấn Ngoài ra Sơn La còn có một số mỏ khoáng sản nhưng trữ lượng khônglớn như niken đồng có 8 điểm quặng và mỏ, đáng kể là mỏ bản Phúc huyện Bắc Yên có trữlượng hàng triệu tấn quặng với hàng lượng 3,55% ni ken; 1,3 % đồng; vàng có 4 sa khoáng và
3 điểm vàng gốc, trong đó có triển vọng là sa khoáng Pi Toong huyện Mường La, Mu Nuhuyện Mai Sơn; Bột Tan: Mỏ than Tà Phù huyện Mộc Châu trữ lượng 23 vạn tấn; Than đá có
ở các mỏ than Quỳnh Nhai trữ lượng 578 ngàn tấn; mỏ than Mường Lựm, trữ lượng trên 80ngàn tấn
- Tài nguyên du lịch: Sơn La là xứ sở của hoa ban, hương rừng và gió núi quê hươngcủa xoè Thái, khèn Mông, hoà nhập với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng tạo ra những khảnăng lớn về tham quan du lịch, nghỉ ngơi Ðó là vùng nghỉ mát ở cao nguyên Mộc Châu với
độ cao trên 1000m so với mặt nước biển, nhiệt độ trung bình mùa hè là 20oC Ðó là nhữngchuyến du ngoạn trên lòng hồ Sông Ðà bằng ca nô, xuồng máy và cả thuyền độc mộc đuôi énngắm cảnh sơn thuỷ hữu tình với những cảnh chợ phiên của đồng bào các dân tộc ven sông,với những mặt hàng lâm thổ sản quý hiếm Ðó là các bản dân tộc Thái, Mông, Dao, Xinhmun, Khơ mú, LaHa, Kháng với nhiều dáng vẻ phong tục nguyên sơ với những lễ hội dântộc phong phú, đa dạng làm say đắm lòng người Ðó là thắng cảnh "Thẩm Tát Tòng" một kỳtích tuyệt đẹp của tạo hoá - một hang động núi đá dài 150m, dòng nước trong xanh ngày ngàytuôn trào đổ nước trắng xoá, những hàng cột đá chen chúc nhau nép mình dọc hai bên váchhang thẳng đứng như những thân cây trúc Khu suối nước nóng bản Mòng, mùa đông cũngnhư mùa hè sau mỗi lần "vùng vẫy" lại thấy tâm hồn nhẹ nhàng sảng khoái Ðó là văn bia Lê