1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá tác động môi trường không khí do việc gia tăng nhiệt độ, gia tăng mật độ các chu kì của en so, do biến đổi thời tiết, khí hậu

17 1,4K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tác động đến môi trường không khí do việc gia tăng nhiệt độ, gia tăng mật độ các chu kỳ tác động của en so, do biến đổi thời tiết, khí hậu
Trường học Trung Tâm Kỹ Thuật Môi Trường (CEE)
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Sóc Trăng
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 297,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tác động môi trường không khí do việc gia tăng nhiệt độ, gia tăng mật độ các chu kì của en so, do biến đổi thời tiết, khí hậu

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG 2

I.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 2

I.1.1 Vị trí địa lý 2

I.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 2

I.1.3 Đặc điểm địa chất 3

I.1.4 Đặc điểm khí hậu, chế độ thủy, hải văn tỉnh Sóc Trăng 3

I.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 5 NĂM 2006 – 2010 TỈNH SÓC TRĂNG 4

I.2.1 Tốc độ tăng trưởng – chuyển dịch cơ cấu kinh tế 4

I.2.2 Về phát triển văn hóa – xã hội, thể thao và du lịch 6

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ DO VIỆC GIA TĂNG NHIỆT ĐỘ, GIA TĂNG MẬT ĐỘ CÁC CHU KỲ CỦA ENSO; DO BIẾN ĐỔI THỜI TIẾT, KHÍ HẬU 8

II.1 DIỄN BIẾN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG TẠI TỈNH SÓC TRĂNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 8

II.1.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới 8

II.1.2 Tình hình biến đổi khí hậu tại Việt Nam 8

II.1.3 Các biểu hiện biến đổi khí hậu đến tài nguyên, môi trường, KTXH tỉnh Sóc Trăng 8

II.2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ DO VIỆC GIA TĂNG NHIỆT ĐỘ, GIA TĂNG MẬT ĐỘ CÁC CHU KỲ CỦA ENSO; DO BIẾN ĐỔI THỜI TIẾT, KHÍ HẬU 12

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Không khí là một trong các thành phần vô cùng quan trọng của môi trường và

nó đặc biệt cần thiết đối với sự sống trên trái đất, trung bình mỗi người trong một ngày dùng hết trên 40m3 không khí, sự thay đổi môi trường không khí sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và sự sống xung quanh Bên cạnh đó, nó còn tác động đến nền kinh tế toàn cầu, an ninh lương thực và sự phát triển bền vững Hiện nay, tình hình thời tiết khí hậu ngày càng khắc nghiệt hơn và không theo một quy luật nào và đang là mối hiểm họa mang tính chất toàn cầu, tác động trực tiếp đến môi trường sống mà đặc biệt

là môi trường không khí cả nước Việt Nam nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng

Chính vì vậy, cần có sự “Đánh giá tác động đến môi trường không khí do việc gia tăng nhiệt độ, gia tăng mật độ các chu kỳ tác động của ENSO; do biến đổi thời tiết, khí hậu” để giúp các cơ quan chức năng tỉnh nhận định rõ ràng hơn, đề ra và triển

khai những giải pháp nhằm ứng phó kịp thời

Trang 3

CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG

I.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

I.1.1 Vị trí địa lý

Sóc Trăng là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam cửa sông Hậu của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Diện tích tự nhiên 3.311,76 km2, xấp xỉ 1% diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực ĐBSCL Dân số trung bình năm 2009 là 1.293.165 người

Tỉnh hiện có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: thành phố Sóc Trăng và các huyện Châu Thành, Kế Sách, Mỹ Tú, Cù Lao Dung, Long Phú, Mỹ Xuyên, Ngã Năm, Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Trần Đề, trong đó thành phố Sóc Trăng là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa xã hội của tỉnh

Sóc Trăng có địa giới hành chính tiếp giáp 4 tỉnh trong vùng ĐBSCL:

- Phía Tây – Bắc giáp tỉnh Hậu Giang

- Phía Đông – Bắc giáp tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long qua sông Hậu

- Phía Tây – Nam giáp tỉnh Bạc Liêu

- Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 72 km

I.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Sóc Trăng có địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, địa hình bao gồm phần đất bằng xen kẽ những vùng trũng và các giồng cát Toàn bộ tỉnh Sóc Trăng nằm ở phía Nam của vùng cửa sông Hậu, cao độ biến thiên không lớn, chỉ từ 0,2 – 2m so với mực nước biển, vùng nội đồng có cao độ trung bình từ 0,5 – 1,0m Địa hình của tỉnh

có dạng hình lòng chảo thoải, hướng dốc chính từ sông Hậu thấp dần vào phía trong,

từ biển Đông và kênh Quản lộ thấp dần vào đất liền với những giồng đất ven sông, biển

Dựa vào địa hình có thể chia tỉnh Sóc Trăng thành 3 vùng như sau:

- Vùng địa hình thấp, vùng trũng: Tập trung ở huyện Mỹ Tú, Châu Thành, Thạnh Trị, Ngã Năm và một phần phía Bắc huyện Mỹ Xuyên, thường bị ngập dài vào mùa mưa

- Vùng địa hình cao ven sông Hậu và ven biển, gồm các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề, Long Phú, Cù Lao Dung, cao trình từ 1,2 – 2 m, giồng cát cao đến 2m

- Vùng địa hình trung bình: gồm có thành phố Sóc Trăng và huyện Kế Sách Với địa hình thấp, bị phân cắt nhiều bởi hệ thống các sông rạch và kênh mương thủy lợi, lại tiếp giáp với biển cho nên dễ bị nước biển xâm nhập (nhiễm mặn), nhất là vào mùa khô

Trang 4

Địa hình vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng có sự phân bậc rõ rệt ở 3 mức độ sâu:

- Độ sâu từ 0 – 10m nước: nhìn chung địa hình khá thoải và bằng phẳng Khu vực cửa sông có địa hình khá phức tạp, thay đổi theo mùa do tương tác động lực sông biển, có nhiều cồn và doi cát ngầm đan xen với các luồng lạch

- Độ sâu từ 10 – 20m nước: địa hình có dạng sườn dốc Địa hình khu vực cửa sông (phía Đông Bắc) dốc hơn phía Tây Nam Đây là giới hạn ngoài của khu vực lắng đọng trầm tích hiện đại và vì thế địa hình thường thay đổi theo thời gian

- Độ sâu 20 – 30m nước: địa hình khá thoải và rộng, có nhiều sóng cát, một số khu vực phân bố các cồn ngầm thoải

I.1.3 Đặc điểm địa chất

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng được hình thành bởi các loại trầm tích nằm trên nền đá gốc Mezoic xuất hiện từ độ sâu gần mặt đất ở phía Bắc đồng bằng cho đến độ sâu khoảng 1.000 m ở gần bờ biển Các dạng trầm tích có thể chia thành những tầng chính sau:

- Tầng Holocene: nằm trên mặt, thuộc loại trầm tích trẻ, bao gồm sét và cát Thành phần hạt từ mịn tới trung bình

- Tầng Pleistocene: có chứa cát sỏi lẫn sét, bùn với trầm tích biển

- Tầng Pliocene: có chứa sét lẫn cát hạt trung bình

- Tầng Miocene: có chứa sét và cát hạt trung bình

I.1.4 Đặc điểm khí hậu, chế độ thủy, hải văn tỉnh Sóc Trăng

I.1.4.1 Đặc điểm khí hậu

Tỉnh Sóc Trăng có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 26,6°C (năm 2008) Nhiệt độ cao nhất

trong năm vào tháng 4 (28,2°C) và nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 (25,4°C)

- Nắng: Tổng lượng bức xạ trung bình trong năm tương đối cao, đạt 140 – 150

kcal/cm2 Tổng giờ nắng bình quân trong năm 2.292,7 giờ (khoảng 6,28 giờ/ngày), cao nhất thường vào tháng 3 là 282,3 giờ, thấp nhất thường vào tháng 9 là 141,5 giờ

- Mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.660 – 2.230 mm, chênh lệch lớn

theo mùa, mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa, mùa khô rất ít, có tháng không mưa

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình cả năm là 84% (cao nhất 89% vào mùa mưa, thấp

nhất 75% vào mùa khô)

- Gió: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tỉnh Sóc Trăng có các hướng

gió chính như sau: Tây, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam và gió được chia làm hai mùa rõ rệt là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam là chủ yếu; còn mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc là chủ yếu với tốc độ gió trung bình là 1,77m/s

Trang 5

- Các yếu tố khác: Tỉnh Sóc Trăng nằm trong khu vực rất ít gặp bão Theo tài

liệu về khí tượng thủy văn ghi nhận, trong 100 năm qua chỉ có 2 cơn bão đổ bộ vào Sóc Trăng (năm 1952, 1997) gây thiệt hại rất lớn

Những năm gần đây, lốc thường xảy ra ở Sóc Trăng Lốc tuy nhỏ nhưng cũng gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân

I.1.4.2 Đặc điểm chế độ thủy, hải văn

Sông rạch tỉnh Sóc Trăng đa phần thuộc vùng ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, cao độ mực nước của hai đỉnh triều và hai chân triều không bằng nhau Đỉnh triều cao nhất là 160 cm (vào tháng 10, 11), thấp nhất là 123 cm (vào tháng

5, 8), chân triều cao nhất là -24 cm (tháng 11), thấp nhất là -103 cm (tháng 6), biên độ triều trung bình từ 194 – 220 cm

Nguồn nước trên hệ thống sông rạch tỉnh Sóc Trăng là kết quả của sự pha trộn giữa lượng mưa tại chỗ, nước biển và nước thượng nguồn sông Hậu đổ về Dòng cửa sông Hậu khá mạnh vào mùa mưa, ảnh hưởng ra xa quá 4 hải lý, đây cũng là thời kỳ mùa lũ ở sông Hậu Dòng tổng hợp ven bờ khoảng 1m/s Dòng hải lý theo mùa và dòng chảy ven bờ lấn át dòng chảy sông tại vùng cửa Định An – dòng chảy theo hướng Tây – Nam là chủ yếu trong mùa khô và theo hướng Đông – Bắc trong mùa mưa

Do ảnh hưởng bởi dòng thủy triều và hải triều nên nước trên sông trong năm có thời gian bị nhiễm mặn vào mùa khô, vào mùa mưa nước sông được ngọt hóa, có thể

sử dụng cho tưới nông nghiệp Phần sông rạch giáp biển bị nhiễm mặn quanh năm, do

đó không thể phục vụ tưới cho nông nghiệp, nhưng bù lại nguồn nước mặn, lợ ở đây lại tạo thuận lợi trong việc nuôi trồng thủy sản

I.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 5 NĂM 2006 – 2010 TỈNH SÓC TRĂNG

I.2.1 Tốc độ tăng trưởng – chuyển dịch cơ cấu kinh tế

I.3.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

- Quy mô GDP (giá so sánh năm 1994)

+ Năm 2006 là 7.586 tỷ đồng (khu vực I là 4.456 tỷ đồng, khu vực II là 1.462 tỷ đồng và khu vực III là 1.668 tỷ đồng)

+ Ước thực hiện năm 2009 là 10.296 tỷ đồng (khu vực I là 5.283 tỷ đồng, khu vực II là 2.204 tỷ đồng và khu vực III là 2.808 tỷ đồng)

- Kế hoạch năm 2010 là 11.222 tỷ đồng (khu vực I là 5.450 tỷ đồng, khu vực II là 2.466 tỷ đồng và khu vực III là 3.305 tỷ đồng)

- Tốc độ tăng trưởng GDP (giá so sánh năm 1994): năm 2006 là 12,86%, ước thực hiện năm 2009 là 8,5% dự kiến năm 2010 là 9%

- GDP bình quân đầu người: Năm 2006 là 524 USD, ước thực hiện năm 2009 là

819 USD, kế hoạch năm 2010 là 880 USD (giá hiện hành)

Bảng: Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 – 2010

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2006 Năm 2010 Tốc độ phát triển

bình quân 2006 –

Trang 6

2010(%) Tổng số Triệu đồng 6.722.522 11.222.883 110,79

1 Khu vực I - 4.033.138 5.450.725 106,21

2 Khư vực II - 1.276.831 2.466.725 114,08

3 Khu vực III - 1.412.553 3.305.433 118,53

Nguồn: Dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 tỉnh Sóc

Trăng, UBND tỉnh Sóc Trăng, năm 2009

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm (giai đoạn 2006 – 2010) là 10,79%, so với chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ là 13 – 14%, thấp hơn 3 – 4% Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 6,21%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 14,08% và khu vực dịch vụ tăng 18,53%

Nếu tính theo giá thực tế thì GDP bình quân đầu người tăng nhanh, từ 455 USD năm 2005 tăng lên 880 USD năm 2010 (Nghị quyết là 900 USD/người/năm, đạt 97,78% so với Nghị quyết) Đồng thời, nếu ước dân số theo sơ bộ điều tra 01/04/2009 thì GDP bình quân đầu người đạt 915 USD vào năm 2010, vượt so với Nghị quyết đầu nhiệm kỳ đề ra

I.3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ước thực hiện năm 2009, cơ cấu 3 khu kinh tế như sau: khu vực I chiếm 46,31%, khu vực II chiếm 20,51% và khu vực 3 chiếm 33,18%; kế hoạch năm 2010 cơ cấu kinh tế 3 khu vực tương ứng là 43,48% - 20,97% – 35,55% So với năm 2005 (với

tỷ lệ lần lượt của 3 vùng tương ứng là 57,70%, 19,76% và 22,54%) thì sau 5 năm, khu vực I giảm 14,22%, khu vực II tăng 1,21% và khu vực III tăng 13,01% Mục tiêu Nghị quyết cơ cấu GDP khu vực I, II, III tương ứng là 39 – 40%; 30 -31% và 29 – 30%, như vậy đến năm 2010 khả năng chuyển dịch cơ cấu khu vực I khó đạt chỉ tiêu đề ra

Bảng: Số liệu cơ cấu kinh tế 2005 - 2010 STT Chỉ tiêu ĐVT TH 2005 TH 2008 UTH 2009 KH 2010

1 Khu vực I - 57,70 50,43 46,31 43,48

2 Khu vực II - 19,76 19,04 20,51 20,97

3 Khu vực III - 22,54 30,52 33,18 35,55

Nguồn: Dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 tỉnh Sóc

Trăng, UBND tỉnh Sóc Trăng, năm 2009

- Khu vực I: chiếm trên 50% cơ cấu kinh tế Giá trị sản xuất bình quân trên một

ha đất nông nghiệp năm 2005 là 34,3 triệu đồng/ha tăng lên 59 triệu đồng/ha vào năm

2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 11,46% (mục tiêu Nghị quyết giá trị sản xuất bình quân trên một ha đất nông nghiệp đạt 50 triệu đồng trở lên)

- Khu vực II: giai đoạn 2006 – 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 17,41%; trong đó ngành công nghiệp địa phương tăng trưởng khá và đóng góp tích cực hơn trong cơ cấu kinh tế tỉnh (tăng trưởng bình quân 14,05%)

Trang 7

- Khu vực III: ổn định tăng trưởng bình quân trên 18,5% trong nền kinh tế tỉnh Đây là khu vực phát triển ổn định và tăng trưởng khá nhanh ở một số ngành như: thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, tài chính – tín dụng, giao thông, Mặt khác, trong giai đoạn này Nhà nước thực hiện chương trình cải cách tiền lương đối với cán

bộ, công chức, góp phần tăng thu nhập và tạo điều kiện cho một số ngành dịch vụ phát triển

I.2.2 Về phát triển văn hóa – xã hội, thể thao và du lịch

Giáo dục đào tạo của tỉnh đã có nhiều cố gắng và có bước phát triển đáng kể Ước thực hiện năm 2009, tỉ lệ huy động học sinh trong độ tuổi ở các cấp học đều tăng

so với năm 2008 (từ 0,1% - 6,45%); dự kiến đến năm 2010, huy động trẻ em đến nhà trẻ so với dân trong độ tuổi là 8%, (không đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 10%) Mẫu giáo đạt 75% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 70% - 75%), tiểu học đạt 99,5% (chỉ tiêu Nghị quyết là 99%); THCS đạt 85% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết là 85% - 90%) THPT đạt 50% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 50% - 55%) Tỷ lệ tốt nghiệp cấp tiểu học và THCS hàng năm (2005 – 2009) đạt rất cao, từ 98% - 100%, dự kiến năm 2010 là từ 97% - 100%; xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia luôn được quan tâm, năm 2005 chỉ

có 2,33% trường đạt chuẩn, ước thực hiện năm 2009 đạt 12,33% và dự kiến năm 2010

là 15%, tốc độ tăng bình quân là 45,13%/năm Ngoài ra, các chế độ chính sách ưu đãi đối với giáo viên, học sinh vùng sâu, vùng dân tộc được giải quyết kịp thời, công tác kiểm tra, thanh tra luôn được tăng cường đã góp phần củng cố dưa quy chế của ngành

đi vào nề nếp

Công tác phòng bệnh được tập trung thực hiện tốt, đã khống chế được cơ bản các bệnh dịch nguy hiểm, không để xảy ra dịch bệnh lớn; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ngày càng giảm, từ 23,5% năm 2005 xuống còn 18% năm 2009, dự kiến năm 2010 xuống còn 17% (đạt chỉ tiêu nghị quyết đề ralaf 17%) Ổn định giảm tỉ lệ sinh ở mức 0,3‰; tốc độ tăng dân số tự nhiên ước năm 2009 là 1,21% (giảm 0,04% so với năm 2008), dự kến đến năm 2010 tốc độ tăng dân số tự nhiên là 1,18% (không đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 1,17%)

Mạng lưới y tế ngày càng được mở rộng và củng cố, nhất là mạng lưới y tế cơ

sở, ước đến năm 2009 có 88/106 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế (vượt chỉ tiêu nghị định

đề ra là 87 xã); 80/106 xã có bác sĩ; 106/106 xã có nữ hộ sinh trung học hoặc y sĩ sản nhi, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế

Về giải quyết việc làm và dạy nghề: hàng năm giải quyết việc làm mới cho trên

20.000 lao động, trong giai đoạn này xuất khẩu lao động bình quân khoảng 430 người, riêng năm 2009 ước thực hiện xuất khẩu lao động 300 người, dự kiến năm 2010 cũng xuất khẩu 300 lao động Bên cạnh đó, công tác dạy nghề luôn được quan tâm, lao động được học nghề mỗi năm đều tăng (năm 2006 dạy nghề cho 10.463 lao động, năm 2008 cho hơn 23.000 lao động và ước thực hiện năm 2009 là 23.000, dự kiến năm 2010 dạy nghề cho 24.500 lao động), góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 12,51% năm 2005 lên 23% năm 2009, dự kiến năm 2010 là 25% (trong đó đào tạo nghề năm

2005 là 10,15%, năm 2009 là 18,79% và dự kiến năm 2010 là 22%); tỷ lệ thất nghiệp

ở thành thị giảm đáng kể từ 6,18% năm 2005 xuống còn 4,2% năm 2009, dự kiến năm

2010 là 4%; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn tăng từ 81% năm 2005 lên 84% năm 2009, dự kiến năm 2010 lên 85%

Trang 8

Về công tác giảm nghèo, giai đoạn 2006 – 2009 đã giảm được 40.142 hộ nghèo,

dự kiến năm 2010 giảm thêm 8.000 hộ nghèo; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí 2005) từ 28,52% năm 2005 xuống còn 14,01% năm 2009 và năm 2010 còn 11,04%

Lĩnh vực văn hóa: Luôn quan tâm thực hiện các hoạt động tuyên truyền phục vụ

nhiệm vụ chính trị và các ngày lễ kỷ niệm, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn - lao động, phòng chống cháy nổ, phòng chống ma túy Các hoạt động tuyên truyền, cổ động dã phất huy tốt vai trò động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển xã hội, ổn định chính trị; giáo dục thẩm mỹ, tuyên truyền lối sống lành mạnh, truyền thống yêu nước, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, tạo không khí vui tươi, phấn khởi nhằm làm mọi người hăng hái thi đua lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ XI

Ngành thể dục thể thao tổ chức nhiều hoạt động thể thao quần chúng Phong trào rèn luyện thể dục thể thao thu hút ngày càng nhiều, từ 170.000 người năm 2005 lên 240.000 người năm 2009, dự kiến năm 2010 là 251.000 người; còn số hộ gia đình thể thao từ hơn 4.600 hộ năm 2005 lên 5.800 hộ năm 2009 và đến năm 2010 dự kiến là 7.000 hộ tham gia thể thao Đối với thể thao thành tích cao, trong 5 năm qua ngành thể thao của tỉnh đã mang về cho địa phương khá nhiều huân chương các loại; vận động viên cấp cao và cấp kiện tướng ngày càng tăng, từ 48 vận động viên cấp cao và 19 kiện tướng năm 2005 tăng lên 68 vận động viên cấp cao và 45 cấp kiện tướng, dự kiến năm

2010 có 69 vận động viên cấp cao và 55 cấp kiện tướng

Lĩnh vực du lịch: Đến năm 2009, toàn tỉnh có 27 cơ sở lưu trú du lịch với trên

700 phòng (trong đó có 01 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao, 7 khách sạn 2 sao, 10 khách sạn 1 sao), tăng 14 khách sạn so với thời điểm năm 2005 Hiện nay tỉnh có 02 dự án khách sạn đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ để đưa vào triển khai thực hiện Sóc Trăng hiện nay có 03 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, trong đó có 01 doanh nghiệp

lữ hành quốc tế (Công ty cổ phần Thương mại Du lịch Sóc Trăng)

Năm 2009 thu hút khách tham quan du lịch ước đạt 595.000 lượt khách đến tham quan (tăng 1,24%so với năm 2008), trong đó khách quốc tế là 6.800 lượt (giảm 11,11%); dự kiến đến năm 2010 thu hút được 620.000 lượt khách, tăng bình quân hơn 8% so với giai đoạn 2001 – 2005, trong đó khách quốc tế là 7.800 lượt (tăng bình quân 6,54%/năm) Tổng số ngày lưu trú của khách năm 2009 ước đạt 77.800 lượt (tăng gần 2% so với năm 2008), trong đó lưu trú của khách quốc tế là 5.000 lượt (giảm 4,76%) Tổng doanh thu từ du lịch năm 2009 ước đạt 51,5 tỷ đồng (tăng 1,56% so với năm 2008); dự kiến năm 2010 đạt 60,7 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân là 10,33%/năm

Trang 9

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ

DO VIỆC GIA TĂNG NHIỆT ĐỘ, GIA TĂNG MẬT ĐỘ CÁC CHU KỲ CỦA ENSO; DO BIẾN ĐỔI THỜI TIẾT,

KHÍ HẬU

II.1 DIỄN BIẾN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG TẠI TỈNH SÓC TRĂNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

II.1.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới

Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC về biến đổi khí hậu cho thấy vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở các vùng khí hậu phía Nam có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 là 2,4°C và vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng sống của con người

Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy, số lượng các trận bão không thay đổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, tây nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, bắc Đại Tây Dương Số lượng các trận bão lớn, lốc xoáy cường độ mạnh tăng gấp đôi, trùng hợp với nhiệt độ

bề mặt đại dương tăng lên Trận sóng thần ở Ấn Độ Dương (2004) cướp đi sinh mạng 225.000 người thuộc 11 quốc gia, hay cơn bão Katrina đổ bộ vào nước Mỹ (2005) gây thương vong lên đến hàng ngàn người và thiệt hại kinh tế ước tính 25 tỷ USD Gần đây nhất “siêu bão” Nargis tại Myanmar (2008) là thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất năm qua tính theo số lượng người thiệt mạng Một nghiên cứu với xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất

II.1.2 Tình hình biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Trên thực tế, tại Việt Nam đã có những biểu hiện của BĐKH về các yếu tố khí hậu cơ bản (nhiệt độ, lượng mưa ) cũng như các yếu tố thời tiết (bão, mưa lớn, hạn hán ) Được biết trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng 0,7°C, mực nước biển dâng 20 cm Trong thời gian, cùng với tình hình chung của Thế giới, Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu, thiên tai bão lụt hạn hán đã diễn ra với cường độ mạnh hơn trước

Theo kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2009, nhiệt độ trên tăng ít nhất 1,1 – 1,9°C, nhiều nhất 2,1 – 3,6°C, lượng mưa tăng ít nhất 1,0 – 5,2% và nhiều nhất từ 1,8 – 10,1%, mực nước biển dâng ít nhất 65cm, nhiều nhất 100cm so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 Tác động tiềm tàng BĐKH ở Việt Nam thể hiện trong tất cả các lĩnh vực chủ yếu: tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, sức khỏe

II.1.3 Các biểu hiện biến đổi khí hậu đến tài nguyên, môi trường, KTXH tỉnh Sóc Trăng

II.1.3.1 Nhiệt độ

Trang 10

Tỉnh Sóc Trăng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 - 11 với gió mùa Tây Nam và mùa khô từ tháng 12 đến tháng

4 với gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trung bình của tỉnh trong giai đoạn 25 năm (1985 -2009) dao động trong khoảng 26,5 - 270C, và đỉnh điểm là vào năm 2009 (đạt 27 0C), nhiệt độ thay đổi thất thường không diễn ra theo bất kỳ quy luật nhất định và có xu hướng khắc nghiệt hơn như “nóng thì càng nóng hơn và lạnh thì càng lạnh hơn”

Ảnh hưởng chung của biến đổi khí hậu trên toàn cầu và biến đổi khí hậu đã thể hiện ở tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 1985 - 2009 trên cả 3 giá trị: nhiệt độ trung bình, nhiệt

độ tối thấp và nhiệt độ tối cao Nhiệt độ cao nhất qua các năm dao động trong khoảng

từ 35,1 - 37,10C (chênh lệch 2,00C) và nhiệt độ thấp nhất dao động trong khoảng 16,7 -20,70C (chênh lệch 4,00C), nhiệt độ với sự chênh lệch mức nóng nhất và lạnh nhất qua các năm 14,4 - 19,50C Biểu hiện sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong cùng một năm tại Sóc Trăng có sự khắc nghiệt và có chiều hướng ngày càng gia tăng qua các năm Tuy nhiên đến năm 2000, sự chênh lệch này là 14,40C, năm 2006, 2008 là 15,10C do ảnh hưởng của hiện tượng La Nina nên thời tiết dịu hơn

Nhiệt độ cao nhất thường vào tháng 4 trong năm, do tháng 4 là thời kỳ chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang gió mùa Tây Nam, đây cũng là thời kỳ nắng nóng nhất trong mùa khô Do trong giai đoạn này nước ta chịu ảnh hưởng xu thế hiện tượng thời tiết nóng trên toàn cầu đó là hiện tượng El Nino, nên nhiệt độ trung bình của năm sau

so với năm trước chênh lệch đến 0,2 - 0,40C (giai đoạn 1987, 1988, 2000, 2002, 2005,

2006, 2007, 2009 nhiệt độ ở mức 26,9 - 270C) Tuy nhiên đến năm 2008 do ảnh hưởng của hiện tượng La Nina (giảm nhiệt độ bề mặt đại dương – trái ngược với hiện tượng

El Nino) nên nhiệt độ trung bình của năm tại tỉnh đã giảm xuống còn 26,60C (là một trong những năm thấp nhất trong giai đoạn 1985 - 2009) và đây cũng là năm mà viện nghiên cứu không gian NASA cho là lạnh nhất kể từ đầu thập kỷ đến nay Tuy nhiên

tổ chức khí tượng thế giới (WMO) sau khi tổng hợp dữ liệu từ hai cơ quan giám sát khí hậu của Anh và Mỹ lại kết luận, năm 2008 vẫn nằm trong số 10 năm nóng nhất lịch sử Nhiệt độ trung bình năm 2008 là 15,1 độ C, cao hơn nhiệt độ trung bình năm 1961-1990, mức tham chiếu chuẩn

Biểu đồ: Diễn biến nhiệt độ qua các năm 1985 - 2009

0 10

20

30

40

Nhiệt độ thấp nhất Nhiệt độ cao nhất Nhiệt độ T B

Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ

II.1.3.2 Lượng mưa

Tại tỉnh Sóc Trăng cả số ngày mưa và tổng lượng mưa đều tập trung vào các tháng mùa mưa, từ tháng 5 đến hết tháng 11 Mưa ở Sóc Trăng thường không kéo dài liên tục nhiều ngày mà phổ biến là mưa trận cách quãng nhau số ngày mưa bình quân khoảng 130 ngày/năm, lượng mưa trong thời kỳ này chiếm từ 90 - 95% lượng mưa cả

Ngày đăng: 16/01/2013, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w