Theo hai cách định nghĩa ở trên thì có thể thấy trách nhiệm là việc phải làm theo bổn phận của mình, mối quan hệ phát sinh giữa một hay nhiều chủ thể phải làm một công việc, thực hiện mộ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định luật được hình thành và phát triển sớm nhất trong các chế định dân sự Những quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày càng có vai trò quan trọng đối với việc duy trì trật tự xã hội cũng như bảo đảm lẽ công bằng mà các hệ thống pháp luật đều hướng tới
Xã hội phát triển kéo theo những tranh chấp về quyền và lợi ích nói chung, tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng xảy ra càng nhiều, tính chất các vụ việc ngày càng phức tạp, mà những quy định cụ thể không thể giải quyết được trọng vẹn những vụ việc phát sinh trên thực tế Điều đó cho thấy, việc xây dựng quy định nhằm xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là
hoàn toàn cần thiết Vì vậy, em chọn đề bài “Phân tích và cho ví dụ minh họa về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo BLDS năm
2015 Bình luận điểm mới của quy định trong BLDS năm 2015 Bình luận điểm mới của quy định trong BLDS năm 2015 so với quy định trong BLDS năm 2005”.
1
Trang 2GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Một số vấn đề lý luận chung về trách nhiệm dân sự và căn cứ phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
1 Khái niệm và phân loại trách nhiệm dân sự
1.1 Khái niệm trách nhiệm dân sự
Để trả lời cho câu hỏi “Trách nhiệm dân sự là gì? Nó có phải trách nhiệm pháp lý hay không?”, chúng ta cần tìm hiểu các khái niệm và định nghĩa cụ thể về “trách nhiệm”, “dân sự”, “trách nhiệm dân sự”, “trách nhiệm pháp lý” sau đây:
Theo Từ điển Tiếng Việt, “trách nhiệm” có thể được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất, trách nhiệm là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”1; Nghĩa thứ hai, trách nhiệm được hiểu là
“phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải đảm bảo làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” Theo hai cách định nghĩa ở trên thì có
thể thấy trách nhiệm là việc phải làm theo bổn phận của mình, mối quan hệ phát sinh giữa một hay nhiều chủ thể phải làm một công việc, thực hiện một hành vi hoặc không được làm một công việc, một hành vi vì lợi ích của một hay nhiều chủ thể khác… Về đối tượng của nghĩa vụ, đó có thể là tài sản, công việc phải làm hoặc không được làm trong nghĩa vụ dân sự, các đối tượng này phải được chỉ định chính xác để thuận lợi cho việc thực hiện và tránh xảy ra tranh chấp…
Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt thì “dân sự” là việc có quan hệ đến dân, là
việc thuộc về quan hệ tài sản hoặc hôn nhân gia đình… do tòa án xét xử2
Khái niệm tiếp theo cần tiếp cận đó là “trách nhiệm pháp lý” là gì? Theo Từ điển Luật học, trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi mà chủ thể pháp luật phải gánh chịu do pháp luật quy định vì hành vi vi phạm pháp luật của mình (hoặc của người mà mình bảo
1Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.1020.
2Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr 246-247.
Trang 3lãnh hoặc giám hộ)3 Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với cưỡng chế nhà nước, với việc áp dụng chế tài do pháp luật quy định Định nghĩa về trách nhiệm pháp lý trong giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội như sau:
“Trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với các chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật”4
Theo từ điển Luật học của Bộ Tư pháp- Viện Khoa học pháp lý, “Trách nhiệm dân
sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại”5
Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập hai) do TS Lê Đình Nghị chủ biên, định
nghĩa TNDS như sau: “Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được áp dụng đối với người có nghĩa vụ khi họ vi phạm trước người có quyền”6
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu “trách nhiệm dân sự” là một loại trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân
sự, buộc chủ thể này phải khắc phục những tổn thất đã gây ra cho người bị thiệt hại thông qua việc bồi thường cả về vật chất và tinh thần
1.2 Phân loại trách nhiệm dân sự
Theo quy định của BLDS Việt Nam năm 2015, dựa vào căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ, TNDS được phân thành hai loại là: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đây là hai chế định quan trọng trong việc xác định
3 Bộ Tư pháp- Viện Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa- Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.803.
4Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học Luật dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật
tổ tụng Dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
5 Bộ Tư pháp- Viện Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa- Nxb Tư pháp, Hà Nội,
tr.800.6 Bộ Tư pháp (2005), Dân chủ và pháp luật, (Chuyên đề về bộ luật dân sự năm 2005), tr.249.
3
Trang 4trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra Hai loại TNDS này đều mang những đặc điểm chung của TNDS và có không ít những nét riêng về bản chất cũng như nội dung
2 Khái niệm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Theo từ điển Tiếng Việt, “căn cứ” vừa là động từ vừa là danh từ, được hiểu là tiền
đề, cơ sở, chỗ dựa để lập luận và hành động
Căn cứ phát sinh chính là những cơ sở cần thiết, những điều kiện, yếu tố mà dựa vào chúng hay nói cách khác là khi hội tụ đầy đủ những yếu tố đó sẽ làm xẩy ra một sự việc nhất định
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp động có thể hiểu là những yếu tố, điều kiện, cơ sở được pháp luật quy định mà khi hội tụ đầy đủ chúng sẽ xác định được trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường
và mức độ bồi thường Các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng, thống nhất và đầy đủ
Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo quy định tại Điều 584 BLDS năm 2015, xác định có ba căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với hành vi trái pháp luật Yếu tố lỗi của chủ thể có hành
vi trái pháp luật gây ra thiệt hại không bị coi là căn cứ phát sinh trách nhiệm và đây chính là điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005
II Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Dạng trách nhiệm pháp lý nào cũng vậy, dù là hình sự, dân sự hay hành chính đều phải dựa vào một cơ sở pháp lý nhất định Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, pháp luật dân sự có quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người gây ra và do tài sản gây ra
Trang 51 Đối với thiệt hại do người gây ra
Theo khoản 1 Điều 584 BLDS 2015, “người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Từ quy định này, chúng ta thấy cơ sở đó là một thể thống nhất bao gồm:
Thứ nhất: Phải có hành vi xảy ra trên thực tế
Đây là điều kiện tiên quyết, bởi vì nếu không có thiệt hại xảy ra thì không phát sinh trách nhiệm bồi thường Thiệt hại được bồi thường bao gồm: thiệt hại về vật chất và tổn thất về tinh thần
BLDS năm 2015 không tồn tại định nghĩa về thiệt hại, trong khoa học pháp lý có ý kiến cho rằng thiệt hại là sự thay đổi biến thiên theo chiều xấu đi của tài sản, của các giá trị nhân dân do pháp luật bảo vệ7 Thiệt hại phải xác định được trên cơ sở khách quan,
do vậy khi xác định thiệt hại phải đặt thiệt hại đó trong mối quan hệ về mặt không gian
và thời gian của thiệt hại Hay nói cách khác, thiệt hại sẽ được hiểu là sự giảm sút về lợi ích vật chất của người bị thiệt hại mà họ đã có Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phải bồi thường vì vậy trước tiên cần xác định thế nào là thiệt hại
- Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí
để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại;
- Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất,
bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe;
7Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia, tr.471.
5
Trang 6- Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhâp thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín
bị xâm hại;
- Tổn thất về tinh thần: Đời sống tinh thần là phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều vấn
đề và chỉ tồn tại đối với xã hội loài người như đau thương, cảnh góa bụa, mồ côi, sự xấu hổ… về nguyên tắc, không thể trị giá được bằng tiền theo nguyên tắc ngang giá trị như trong trao đổi và không thể phục hồi được Nhưng với mục đích an ủi động viên đối với người bị thiệt hại về tinh thần, cũng như một biện pháp giáo dục nhằm ngăn chặn người
có hành vi trái pháp luật, BLDS quy định người xâm hại phải: “bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần” cho người bị thiệt hại, người thân thích gần
gũi của người đó phải gánh chịu
Thứ hai: Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thực hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật xâm phạm đến những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Hành vi vi phạm những quy định của pháp luật bao gồm việc không làm những điều mà pháp luật bắt phải làm hoặc làm một việc mà pháp luật không cho phép làm Như vậy, hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải thỏa mãn hai điều kiện: vi phạm đến pháp luật và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được pháp luật bảo vệ Hành vi gây thiệt hại có thể tồn tại ở dạng hành động và ở dạng không hành động Thực tế, hành vi gây thiệt hại dưới dạng hành động vẫn phổ biến hơn
Pháp luật quy định một số hành vi, mặc dù gây ra thiệt hại vẫn được xem là hành vi hợp pháp Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là thiệt hại xảy ra do các hành vi hợp pháp này sẽ không được bồi thường Đó có thể là:
Trang 7- Hành vi gây thiệt hại trong giới hạn phòng vệ chính đáng;
- Hành vi gây thiệt hại phù hợp với yêu cầu của tình thế cấp thiết;
- Hành vi gây thiệt hại có sự đồng ý hợp pháp của người bị thiệt hại Lưu ý rằng sự
đồng thuận phải là phù hợp quy định của pháp luật hiện hành.
- Hành vi gây thiệt hại khi thi hành công vụ hoặc thực hiện chức trách nghề nghiệp phù hợp với điều kiện do pháp luật quy định
- Những trường hợp khác do pháp luật quy định
Thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại
và thiệt hại thực tế
Mối quan hệ nhân – quả giữa hai cặp phạm trù này được hiểu thiệt hại xảy ra phải
là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại
Trong khoa học pháp lý, người ta vận dụng cặp phạm trù “ngẫu nhiên và tất nhiên”
để làm tiêu chuẩn xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại
đã xảy ra Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành
vi nếu trong bản thân hành vi với những điều kiện cụ thể khi đã xảy ra đã chứa đựng một khả năng hiện thực khách quan làm phát sinh ra nó Mối quan hệ nhân quả có chức năng gắn kết giữa hai yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại Quan hệ nhân quả là một diễn biến trong quá trình thuộc về một khoảng thời gian cụ thể Do vậy, hành
vi được coi là nguyên nhân phải diễn ra trước kết quả
Dựa vào mối quan hệ này, khoa học pháp lý nói chung và khoa học pháp luật dân
sự nói riêng xác định rằng: Chỉ những thiệt hại nào được coi là hậu quả tất yếu, không thể tránh khỏi của hành vi trái pháp luật thì người gây thiệt hại đó mới phải chịu trách nhiệm bồi thường Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi xác
7
Trang 8định chính xác hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại Hay nói cách khác thiệt hại là hậu quả của hành vi trái pháp luật
2 Thiệt hại do tài sản gây ra
Bên cạnh các quy định về bồi thường thiệt hại do con người gây ra, BLDS 2015 còn có quy định chung về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra Cụ thể, khoản 3 Điều
584 BLDS năm 2015 đã quy định: “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”
Đây là quy định chung, áp dụng cho mọi loại tài sản gây ra thiệt hại Ở đây, để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì điều kiện đầu tiên là thiệt hại phải tồn tại trong thực tế, tiếp theo thiệt hại phải có nguyên nhân là do tài sản gây ra Khi các điều kiện này được hội tụ đủ thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
III Điểm mới của quy định trong BLDS năm 2015 so với quy định trong BLDS năm
2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thứ nhất, trong BLDS năm 2005, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
được quy định bắt đầu với cụm từ “Người nào có lỗi cố ý hoặc vô ý…” Trong BLDS năm 2015, quy định này lại được bắt đầu với cụm từ “Người nào có hành vi xâm phạm…” Như vậy, trong BLDS năm 2015, hành vi gây thiệt hại lại được chú trọng không thể có lỗi tồn tài ngoài hành vi trái pháp luật của một chủ thể Hơn nữa, lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng
là lỗi suy đoán Tức là không cần phải chứng minh lỗi, mà chỉ cần chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật là đủ Do đó, chỉ cần xác định được hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật thì đương nhiên sẽ xác định được yếu tố lỗi của chủ thể nhất định
Thứ hai, BLDS năm 2015 đưa ra các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt
hại của người gây thiệt hại, được áp dụng đối với mọi trường hợp Cụ thể, khoản 2 Điều
Trang 9584 BLDS 2015 quy định: “Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn là do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Trong BLDS năm 2005, các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường được
xác định ở từng trường hợp cụ thể
Thứ ba, BLDS năm 2015 đưa ra quy định khái quát nhất về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tại khoản 3 Điều 584 “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ
sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này” Đây là quy định mới mà
trong BLDS năm 2005 không đề cập Quy định này giúp cho các chủ thể mở rộng được phạm các trường hợp có thể yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi các quyền và lợi ích đó bị xâm phạm bởi tài sản của một chủ thể nhất định Tuy nhiên, quy định này
có một số điểm hạn chế cần khắc phục như sau:
- Mục đích của quy định này là đưa ra cơ sở pháp lý cho việc xác định chủ thể phải bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nói chung Tuy nhiên, quy định này chỉ xác định hai chủ thể phải bồi thường thiệt hại đó là chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản Điều này là không phù hợp với thực tế, đặc biệt là trường hợp động vật gây thiệt hại Bởi vì thực tế, động vật có thể gây thiệt hại khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu chuyển giao đang quản lý, thậm chí có thể là người thứ ba tác động làm đọng vật gây thiệt hại, hoặc do người khác chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật Do đó, quy định này phải được sửa đổi theo hướng bổ sung các chủ thể có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tài sản nói chung, động vật nói riêng gây ra thiệt hại
- Quy định này dẫn chiếu đến khoản 2 để xác định các trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản không phải bồi thường thiệt hại bao gồm trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng và hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại Tuy nhiên, tinh thần của khoản 2 Điều 584 chỉ có thể áp dụng với trường hợp thiệt hại do hành vi
9
Trang 10của con người gây ra Do đó, để đảm bảo sự phù hợp của khoản 3 khi dẫn chiếu áp dụng
2 thì quy định tại khoản 2 phải được sửa đổi cho phù hợp
IV Ví dụ thực tiễn
1 Tình huống
Ông A là chủ sở hữu một cơ sở sửa chữa xe ô tô Anh B, anh C là những người làm công cho ông A Vào ngày 15 tháng 10 năm 2018, anh B và anh C cùng sửa chữa xe ô tô cho ông K Lợi dụng lúc ông K không để ý, anh B và anh C đã đổi một số phụ tùng xe ô
tô của ông K và thay vào đó phụ tùng cùng loại nhưng có chất lượng kém hơn Sau hai ngày, ông K biết được hành vi trên của B và C, ông đã yêu cầu bồi thường cho ông số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng
2 Giải quyết
Trong tình huống trên, quan hệ giữa ông A và anh B và C là quan hệ sử dụng lao động làm công Ông A là người sử dụng lao động làm công Như vậy, theo quy định tại Điều 600 BLDS, ông A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông K số tiền mà những người lao động làm công của ông đã gây thiệt hại cho ông K là 10.000.000 đồng Trong tình huống này, ông K có quyền yêu cầu ông A có trách nhiệm bồi thường Theo quy định tại Điều 600 BLDS, trong trường hợp những người làm công có lỗi trong việc gây thiệt hại, thì họ có nghĩa vụ hoàn trả cho ông A khoản tiền mà ông A đã bồi thường cho ông K Ở trên, anh B và C đều có lỗi cố ý, do vậy họ phải hoàn trả khoản tiền mà ông A
đã bồi thường cho ông K Ông A có quyền yêu cầu các anh B và C có nghĩa vụ hoàn trả cho ông theo phần Nhưng nếu ông A và các anh B và C có thỏa thuận được về việc các anh chỉ có nghĩa vụ hoàn trả cho ông A một phần, thì các anh có nghĩa vụ hoàn trả cho ông A khoản tiền thấp hơn khoản mà ông A đã bồi thường cho ông K
Từ tình huống trên ta nhận thấy căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do con người gây ra đó là: