Cơ sở của luận điểmTư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
CHỦ ĐỀ:
PHÂN TÍCH, CHỨNG MINH VÀ VẬN DỤNG THỰC TIỄN CÁCH MẠNG HIỆN NAY VAI TRÒ CỦA ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN
TỘC Giảng viên: TS Đỗ Thị Ngọc Anh Mã lớp môn học: POL1001
10 NGƯỜI THỰC HIỆN:
NHÓM 7
viên Đoàn Thị Thùy
Trang 2Nhung Phạm Thị Thu
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2022
Trang 3MỤC LỤC
1.1 Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam.
3 1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác –
Lênin 3
1.3 Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong
2.1 Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của
Trang 4I Cơ sở của luận điểm
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là đã vận dụng
và phát triển sáng tạo, chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với tình hình và điều kiện
cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng.
1.1 Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam.
Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: ” Dân ta
có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,
nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với
ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc Việt Nam đã hình thành
và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững Tinh thần ấy, tình cảm ấy theo thời gian đã trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam Nó là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗi con người Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống yêu nườc, đoàn kết của dân tộc Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạo cách mạng, phải trở thành dân tộc, liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng Chủ nghĩa Mác-lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp
Trang 5bức con đường tự giải phóng Lê-nin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh giai cấp công nhân
Trang 6với nông dân là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản Rằng nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.
Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
1.3 Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới.
Không chỉ được hình thành từ những cơ sở lý luận suông, tư tưởng này còn xuất phát từ thực tiễn lịch sử của dân tộc và nhiều năm bôn ba khảo nghiệm ở nước ngoài của Hồ Chí Minh.
a-Thực tiễn cách mạng Việt Nam
Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được trong thời phong kiến chỉ có những cuộc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng chúng đã ghi lại những tấm gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc trong chiều sâu và
bề dày của lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và được người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình.
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, từ đó, các phong trào yêu nước , chống pháp liên tục nổ ra, rất anh dũng, nhưng cuối cùng đều thất bại Hồ Chí Minh đã nhận ra được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử trong giai đọan này Đây cũng chính là lý do, là điểm xuất phát để Người quyết tâm từ Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.
Trang 7b- Thực tiễn cách mạng thế giới
Trang 8Từ 1911 đến 1941 Hồ Chí Minh đã đi khắp các châu lục Cuộc khảo nghiệm thực tiễn rộng lớn và công phu đã giúp Người nhận thức một sự thực:
“Các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnh vĩ đại, song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi bởi vì các dân tộc bị áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa có
sự liên kết chặt chẽ với giai cấp công nhân ở các nước tư bản, đế quốc, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức…”
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã đưa Hồ Chí Minh đến bước ngoặt quyết định trong việc chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giành dân chủ cho nhân dân Từ chỗ chỉ biết đến Cách mạng Tháng Mười theo cảm tính, Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đã mang lại cho phong trào cách mạng thế giới Đặc biệt là bài học về sự huy động, tập hợp, đoàn kết lực lượng quần chúng công nông binh đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng.
II Phân tích luận điểm
2.1 Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng
Đây là một tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh cho rằng nguyên nhân sâu xa dẫn đến thất bại của cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là cả nước đã không đoàn kết được thành một khối thống nhất vì “muốn giải phóng các dân tộc
bị áp bức và nhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh vũ trang cách mạng, bằng cách mạng vô sản”
Đoàn kết quyết định thành công cách mạng vì: đoàn kết tạo nên sức mạnh, là then chốt của thành công Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải có lực lượng
đủ mạnh, muốn có lực lượng phải quy tụ cả dân tộc vào một mối thống nhất.Giữa đoàn kết và thắng lợi có mối quan hệ chặt chẽ, quy mô, mức độ của thành công.
Trang 9Đoàn kết phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết, không ai thắng được lực lượng đó” Hồ Chí Minh
Trang 10khuyên dân ta: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” chính là con đường đưa dân ta tới độc lập, tự do”.
2.2 Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương , chính sách của Đảng Vì Đảng là lực lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam, sức mạnh của Đảng là ở sự nhất trí và sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của sự đoàn kết của tất cả các tổ chức chính trị – xã hội và trong toàn
xã hội.
Mục tiêu của Đảng hay của cách mạng là “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc” Muốn đoàn kết được lực lượng toàn dân, theo Hồ Chí Minh cần phải thấm nhuần quan điểm quần chúng, phải gần gũi quần chúng, lắng nghe quần chúng, tôn trọng quần chúng, biết vận động, tổ chức, giáo dục quần chúng …có như vậy mới được quần chúng ủng hộ, giúp đỡ và mục tiêu của Đảng mới được thực hiện Hồ Chí Minh dạy rằng “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng song”.
Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng hay của Đảng Cộng sản là đại đoàn kết dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà Bởi vì, Cách mạng là sự nghiệp của của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng Muốn đoàn kết được lực lượng toàn dân, theo Hồ Chí Minh, cần phải tuyên truyền huấn luyện làm sao cho nhân dân hiểu được mục đích, chính sách, đường lối ấy Người nói: “Một là đoàn kết Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội Ba là thống nhất nước nhà”.
2.3 Đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở hình thành khối đại đoàn kết toàn dân Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm dân được hiểu là tập hợp đông đảo quần chúng, vừa được hiểu là từng người dân Việt Nam cụ thể và dùng để chỉ mọi con dân đất Việt, con Rồng cháu Tiên, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, tín ngưỡng, tôn giáo… Như vậy, có thể hiểu chủ thể của đại đoàn kết dân tộc là Dân Đại đoàn kết dân tộc là cơ sở để thực hiện khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tất cả những người Việt Nam đang sống trong nước hay đang định cư ở nước
Trang 11ngoài và cho dù định cư ở nước ngoài thì người Việt Nam cũng không bỏ được cái gốc dân tộc Cần phải huy động tập hợp mọi người dân vào khối đại đoàn kết nhằm thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc phải bằng cách kế thừa truyền thống yêu
Trang 12nước , nhân nghĩa , đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung độ lượng với con người và xóa bỏ mọi định kiến cách biệt.
2.4 Đại đoàn kết dân tộc trở thành sức mạnh vật chất, có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng
Theo Hồ Chí Minh, dân tộc hay quần chúng nhân dân khi chưa được giác ngộ về
tổ chức và giác ngộ về lợi ích, mục tiêu, lý tưởng thì chỉ là số đông chưa có sức mạnh Muốn có sức mạnh quần chúng phải được tổ chức, giác ngộ về lợi ích, mục tiêu, lý tưởng và hoạt động theo đường lối chính trị đúng đắn Vì thế, việc quy tụ quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với từng bước phát triển của cách mạng là sự quan tâm ngay từ đầu của Hồ Chí Minh và là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng ta.
Tổ chức thể hiện sức mạnh vật chất của khối đại đoàn kết dân tộc chính là Mặt trận dân tộc thống nhất Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận thực hiện tổ chức, giác ngộ quần chúng về lợi ích, mục tiêu, lý tưởng và định hướng hoạt động của quần chúng theo đường lối chính trị đúng đắn nhằm hình thành sức mạnh to lớn của cả dân tộc mặt trận có thể có tên gọi khác nhau, nhưng tựu chung lại chỉ là một tổ chức chính trị rộng rãi tập hợp đông đảo các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tổ chức, đảng phái, cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước phấn đấu vì mục tiêu độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do hạnh phúc của nhân dân như : Hội phản đế Đồng minh năm 1930; Mặt trận dân chủ năm 1936; Mặt trận nhân dân phản đế năm 1939; Mặt Trận Việt Minh năm 1941; Mặt trận Liên Việt năm 1946; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam 1960; mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1955 và 1976.
III Chứng minh luận điểm
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng Nhận rõ vai trò, sức mạnh của đoàn kết, trong Kính cáo đồng bào (6/1941), Bác nhấn mạnh chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết Người tha thiết kêu gọi: "Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm" Kết thúc bài thơ Mười
Trang 13chính sách của Việt Minh (1941), Người viết: "Khuyên ai xin nhớ chữ đồng, /Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh".
Trang 14Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thì chưa đủ; cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng.
Để quy tụ được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân, cần phải có chính sách và phương pháp phù hợp với từng đối tượng Bài học xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, rút kinh nghiệm từ thực tiễn; xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân được Bác Hồ vận dụng khi thành lập, tổ chức và triển khai hoạt động của Mặt trận Việt Minh Người xác định sự thống nhất và sức mạnh của Việt Minh không phải trên hình thức và lý thuyết, mà giá trị và hiệu quả là căn cứ vào hành động,
mà hạt nhân là cứu quốc Từ đó các tổ chức cứu quốc được thành lập như: Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Quân nhân cứu quốc, Văn nhân cứu quốc, Giáo viên cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Học sinh cứu quốc, Nhi đồng cứu vong Đảng cũng chủ trương mở rộng tổ chức trong các tầng lớp khác có thể có ít nhiều tinh thần yêu nước, căm thù giặc Pháp - Nhật, thành thực cứu nước, cứu dân, muốn giải phóng dân tộc, như cai kí, đốc công, phú nông, địa chủ Đó có thể là tổ chức Ủng hộ quỹ Việt Minh, hay Phú hào cứu quốc, tạo ra khối đại đoàn kết gắn bó dân tộc, cùng vì một mục tiêu chung Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp có thể và cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau, đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng Chính sách mặt trận của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là để thực hiện đoàn kết dân tộc Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách mặt trận đúng đắn Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn.
Trang 15Sức mạnh đoàn kết dân tộc trong lịch sử hào hùng của đất nước được phát huy làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; trở thành bài học quý giá làm nên
Trang 16thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc".
Đoàn kết trong Đảng là cơ sở để đoàn kết toàn dân tộc Đoàn kết toàn dân tộc là
cơ sở để thực hiện đại đoàn kết quốc tế Tư tưởng Đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thực hiện thành công là một nhân tố quyết định cách mạng dân tộc dân chủ nghĩa ở Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn và đưa cách mạng Việt Nam lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.
IV Vận dụng thực tiễn
Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về Đại đoàn kết là kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, Đảng ta đã và đang vận dụng sáng tạo tư tưởng này trong quá trình phát triển đất nước.
4.1 Phát huy truyền thống quý báu đại đoàn kết dân tộc
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết toàn dân tộc
đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta Tiếp tục phát huy truyền thống quý báu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không đoàn kết thì suy và mất Có đoàn kết thì thịnh và còn Chúng ta phải lấy đoàn kết
mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”
Tuỳ theo yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Mặt trận có cương lĩnh, điều lệ phù hợp, được tổ chức chặt chẽ, xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí đã luôn lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân Tóm lại, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì toàn dân cần đoàn kết lâu dài, đoàn kết thực sự và cùng nhau tiến bộ”