ĐỀ THI HẾT MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Đề 1 Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự, thực tiễn thực hiện và đề xuất, ki.
Trang 1ĐỀ THI HẾT MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Đề 1: Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về
quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự, thực tiễn thực hiện và đề xuất, kiến nghị ?
MỞ ĐẦU
Đương sự khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự có các quyền và nghĩa vụ được quy định theo pháp luật tố tụng dân sự
Kế thừa, phát triển và pháp điển hóa những quy định của văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) đã có các quy định về đương sự và các quyền, nghĩa
vụ của đương sự trong vụ án dân sự Để tìm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ của
đương sự trong vụ án dân sự, em chọn đề 1: “Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền và nghĩa
vụ của đương sự trong vụ án dân sự, thực tiễn thực hiện và đề xuất, kiến nghị?”
NỘI DUNG
1 Khái quát chung về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong
vụ án dân sự
1.1 Khái niệm đương sự, thành phần đương sự trong vụ
án dân sự.
Theo quy định tại Điều 68 BLTTDS 2015: “1 Đương sự trong vụ
án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Do vậy, các chủ thể có thể trở thành đương sự trong các vụ án dân sự khá phong phú, đa dạng bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức
Như vậy, đương sự trong vụ án dân sự là các cá nhân, cơ quan,
tổ chức tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước 1 Đương sự trong
vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1.2 Khái niệm, đặc điểm quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự
1.2.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của đương sự
1 Nguyễn Triều Dương (2005), Đương sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Trang 2Quyền, nghĩa vụ của đương sự bao gồm một hệ thống các quyền, nghĩa vụ được quy định trong BLTTDS Mỗi đương sự tham gia
tố tụng dân sự được pháp luật quy định có các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ
1.2.2 Đặc điểm của quyền và nghĩa vụ của đương sự
- Quyền, nghĩa vụ của đương sự trong TTDS mở ra khả năng của đương sự được thực hiện hoặc phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ nhất định mà pháp luật tố tụng cho phép hoặc quy định
- Quyền, nghĩa vụ của đương sự trong TTDS không mang tính tương xứng và đối lập
- Trong quan hệ pháp luật TTDS, có trường hợp quyền của đương
sự đồng thời là nghĩa vụ của đương sự
- Quyền của đương sự trong TTDS mở ra khả năng cho đương sự yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ lợi ích của mình2
2 Các quy định và đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự
2.1 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
Hiện nay, các quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong
vụ án dân sự đã được quy định khá đầy đủ tại các điều từ Điều 70 đến Điều 73 BLTTDS 2015
2.2.1 Quyền, nghĩa vụ chung của đương sự.
Pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận đương sự có các quyền và nghĩa vụ chung được quy định tại Điều 70 BLTTDS 2015
Theo quy định này, đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng Khi tham gia tố tụng, đương sự có quyền, nghĩa vụ sau đây: đương sự có các quyền, nghĩa vụ như giữ nguyên, thay đổi,
bổ sung hoặc rút yêu cầu, cung cấp chứng cử, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đề nghị toà án yêu cầu đương
sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; yêu cầu cá nhân, tổ chức đang lưu giữ, quản lý, bảo quản chứng cứ cung cấp cho mình để giao nộp cho toà án; đề nghị toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án trong trường hợp tự mình không thể thực hiện được; đề nghị toà ản triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản; được biết, ghi chép và sao chụp các tài liệu, chứng
2 Cao Kim Oanh (2011), Quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ Luật TTDS
2004, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 3cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do toà án thu thập; đề nghị toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải, tham gia phiên toà; nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyên, nghĩa vụ của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ; tôn trọng toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà; nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật; cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi
cư trú, trụ sở của mình; sử dụng quyền của mình một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của toà án, đương sự khác 3
Ngoài những quyền và nghĩa vụ trên, đương sự còn có các quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định
2.1.2 Quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn
Ngoài các quyền và nghĩa vụ chung của các đương sự quy định tại Điều 70 của BLTTDS năm 2015 thì nguyên đơn cũng được pháp luật ghi nhận các quyền và nghĩa vụ riêng quy định tại Điều 71 của
Bộ luật này Cụ thể nguyên đơn có quyền thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
2.1.3 Quyền, nghĩa vụ của bị đơn:
- Có các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định
- Được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện
- Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
- Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn
- Đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công
an nhân dân.
Trang 4Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn
- Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác4
2.1.4 Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Có các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định;
- Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn Trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện vụ án khác
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ của bị đơn5
2.2 Đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự.
2.2.1 Những ưu điểm
Để bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, BLTTDS đã bổ sung quyền và nghĩa vụ của đương sự Điều 70 BLTTDS quy định đương sự có 26 quyền và nghĩa
vụ chung; theo Điều 71, nguyên đơn có 2 quyền riêng; theo Điều 72 thì bị đơn có 5 quyền riêng; theo Điều 73 thì người có quyền, nghĩa
vụ liên quan có 3 quyền riêng Đặc biệt trong các quyền và nghĩa vụ
đó, BLTTDS đã quy định rõ các nghĩa vụ6:
BLTTDS 2015 đã bổ sung đầy đủ, chặt chẽ hơn một số quyền và
nghĩa vụ tố tụng của đương sự như: “Sử dụng quyền của đương sự một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động
4 Điều 72 BLTTDS 2015
5 Điều 73 BLTTDS 2015
6 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2019), Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân
sự luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Trang 5tố tụng của Tòa án, đương sự khác; trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu hậu quả do Bộ luật này quy định” 7 Quy định
này nhằm hạn chế tình trạng đương sự lạm quyền tố tụng ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tố tụng của đương sự khác khi họ tham gia
tố tụng
Bên cạnh đó, BLTTDS 2015 còn bổ sung các nghĩa vụ như: Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa; Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật; Cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi
cư trú, trụ sở của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nếu
có thay đổi địa chỉ nơi cư trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa án8
Để đảm bảo quyền được tiếp cận chứng cứ, tài liệu, quyền được tranh tụng của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, khoản
9 Điều 70 BLTTDS 2015 quy định đương sự: “Có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, ” Quy định này được hiểu biết về
yêu cầu và chứng cứ của đương sự phía đối lập để thực hiện hiệu quả quyền tranh tụng Để bảo đảm quyền hòa giải, tranh tụng của các đương sự, khoản 16 Điều 70 BLTTDS 2015 đã quy định mỗi đương sự
có nghĩa vụ “Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án”; để bảo đảm quyền đối chất hoặc hỏi về các vấn đề liên quan đến vụ án thì các đương sự đối lập phải có nghĩa vụ có mặt tham gia đối chất và trả lời các câu hỏi liên quan đến vụ án theo yêu cầu của đương sự đã
đề xuất
2.2.2 Những hạn chế
Thứ nhất, về nghĩa vụ gửi cho đương sự khác bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ Khoản 9 Điều 70, đương sự trong vụ án dân sự có nghĩa vụ “gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ,…” và được
cụ thể hóa tại khoản 5 Điều 96 BLTTDS 20159 Cùng với quy định về quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu nhập10 Về nguyên tắc, nghĩa vụ
7 Khoản 25 Điều 70 BLTTDS 2015
8 Khoản 1, 2, 3 Điều 70 BLTTDS 2015
9 Khoản 5 Điều 96 BLTTDS 2015 : “Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì
họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác”.
10 Khoản 8 Điều 70 BLTTDS 2015
Trang 6là điều bắt buộc phải thực hiện và nếu không thực hiện thì phải chịu hậu quả bất lợi Tuy nhiên, BLTTDS không có cơ chế để đảm bảo cho đương sự bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ này của đương sự Thực
tế cho thấy, cho đến thời điểm hiện nay, khi khởi kiện hầu hết các đương sự đều không gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho người bị kiện và người có quyền, nghĩa vụ liên quan Vì vậy, để
có đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ của người khởi kiện, đương sự phải làm đơn gửi Tòa án có thẩm quyền xin được ghi chép, sao chụp theo khoản 8 Điều 70 BLTTDS 2015 Trên thực tế, không phải đương
sự nào cũng hiểu được mình có quyền được ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ và không phải thẩm phán nào cũng giải thích cho đương sự rõ quyền được ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ và hướng dẫn cách thức để đương sự thực hiện quyền này Đôi lúc, cũng
có một số vụ án, đương sự xin được sao chụp các tài liệu, chứng cứ đều bị từ chối mà không có lý do chính đáng
Chẳng hạn, ngày 25/5/2020, bà Lê Thị Toàn, là bị đơn trong vụ
án tranh chấp về chia di sản thừa kế thụ lý số 68/2020/TLST-DS, đã
có đơn khiếu nại lên Chánh án TAND huyện Ứng Hòa do việc từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án bà đang tham gia tố tụng Bà có thông tin cho rằng phía nguyên đơn cung cấp cho Tòa án một tài liệu, chứng cứ mà bà cho là không hợp pháp, do đó ông đã có đơn yêu cầu xin sao chụp tài liệu đó nhưng năm lần bảy lượt Thẩm phán, Thư ký tiến hành tố tụng vụ án đó đều từ chối với lý do máy photo hỏng, bộ phận văn thư đóng dấu đi vắng…vì vậy mà bà không được biết phía đối phương đã cung cấp cho Tòa án những tài liệu gì
để bà có thời gian chuẩn bị phản bác Như vậy, các quy định nhằm đảm bảo quyền được biết trước về yêu cầu của đương sự trong tranh tụng dân sự chưa thực sự được thực hiện11
Thứ hai, về thời điểm bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015 thì “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” Tuy nhiên,
điểm hạn chế của BLTTDS năm 2015 là không quy định rõ bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ mấy
Vì một vụ án có thể mở nhiều phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải khác nhau Điều này dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các Thẩm phán
11 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2019), Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân
sự luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Trang 7được phân công giải quyết vụ án, đôi khi là sự “lách luật” để có thể xem xét thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn trong trường hợp bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất12
Thứ ba, về yêu cầu độc lập của bị đơn đối với yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan Khoản 5 Điều 72 BLTTDS
2015 quy định bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu độc lập đối với người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án Tuy nhiên, BLTTDS 2015 chỉ có quy định về quyền phản tố của bị đơn mà không có quy định về quyền đưa ra yêu cầu độc lập của bị đơn, thời điểm đưa ra yêu cầu độc lập Điều này là không tương thích với khoản 5 Điều 72 BLTTDS và bỏ sót các trường hợp bị đơn rút yêu cầu độc lập (Điều 217), Tòa án triệu tập hợp lệ mà bị đơn có yêu cầu độc lập tham gia hòa giải, phiên tòa sơ thẩm mà họ vắng mặt ( các Điều 207, 227) Tương tự như quyền phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của bị đơn là việc bị gửi đơn kiện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về một yêu cầu có liên quan đến vụ án mà nguyên đơn đã kiện bị đơn Về bản chất, yêu cầu độc lập cũng là yêu cầu khởi kiện nên yêu cầu này cũng có thể được khởi kiện bằng vụ án độc lập khác13
Thứ tư, về quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Theo quy định tại Điều 73 BLTTDS năm 2015 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này hoặc nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 72 của Bộ luật này Quy định trên thể hiện trong một số trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng có quyền lợi hay nghĩa vụ như của nguyên đơn, bị đơn Tuy nhiên, liên quan đến quyền khởi kiện thì chỉ nguyên đơn mới có làm đơn khởi kiện, thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn không có quyền này Hoặc trong trường hợp của bị đơn, thì trong vụ án dân sự chỉ có bị đơn mới có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn mà người có
12 Dương Tấn Thanh (2019), “Yêu cầu phản tố theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và vướng mắc trong thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân dân diện tử, truy cập tại:
https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/yeu-cau-phan-to-theo-bo-luat-to-tung-dan-su-nam-2015-va-vuong-mac-trong-thuc-tien
13 Bùi Thị Huyền (2017), Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học, Số 7/2017, tr40-47.
Trang 8quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bị đơn không có quyền này Cho nên pháp luật quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền, nghĩa vụ như của nguyên đơn, bị đơn khi tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hay bị đơn là không phù hợp14
3 Thực tiễn thực hiện và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự.
3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự.
Nhìn chung, các quyền của đương sự trong vụ án dân sự đã được bảo đảm thực hiện trên thực tế Cụ thể, đối với quyền khởi kiện, khi đương sự khởi kiện vụ án đáp ứng được các quy định của pháp luật thì đều được Tòa án chấp nhận Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án cũng đã tôn trọng và bảo đảm cho các đương sự thực hiện các quyền tố tụng của họ Trên thực tế các đương sự đã thực hiện đầy đủ, khá tốt các quyền tố tụng của họ từ các quyền như quyền khởi kiện, quyền hòa giải, quyền tranh tụng, quyền kháng cáo… Tuy nhiên, trong thực tiễn thực hiện quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự vẫn còn một số tồn tại, hạn chế15
- Tình trạng đương sự không thực hiện nghĩa vụ có mặt theo triệu tập của Tòa án dẫn đến quyền tham gia hòa giải của đương sự khác không được thực hiện Chẳng hạn, theo Bản án số 05/2018/HNGĐ-ST do TAND huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An, phần nhận định của Tòa án đã đề cập lý do dẫn đến quyền tham gia hòa giải của đương sự khác không được thực hiện là do đương sự được triệu tập không thực hiện nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án “Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để công khai chứng cứ và hòa giải song anh Phan Anh D đã nhiều lần vắng mặt, lúc anh D có mặt thì chị Phan Thị H lại vắng mặt” Sự vắng mặt của một trong các bên đương sự dẫn tới hậu quả là Tòa án không thể tiến hành phiên hòa giải và quyền tham gia hòa giải của bên đương sự có mặt không được thực hiện
14 Võ Văn Tuấn Khanh (2020), Quyền và nghĩa vụ của đương sư trong vụ án dân sự – Những bất cập cần khắc phục, Tạp chí Tòa án nhân dân diện tử, truy cập tại
https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-va-nghia-vu-cua-duong-su-trong-vu-an-dan-su-nhung-bat-cap-can-khac-phuc
15 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2019), Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân
sự luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Trang 9- Đương sự không thực hiện nghĩa vụ gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác dẫn đến quyền tiếp cận chứng cứ, tài liệu của vụ án, quyền tranh tụng của đương sự khác không được đảm bảo thực hiện
Cụ thể, Bản án số 48/2017/DS-ST do TAND tỉnh Gia Lai xét xử có phần nhận định có đề cập đến một số dạng sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm “Tòa án không hỏi đương sự về việc gửi tài liệu chứng cứ cho đương sự khác” Việc đương sự không thực hiện nghĩa vụ gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác theo quy định của pháp luật đã ảnh hưởng nghiêm trọng đn quyền được biết trước về tài liệu, chứng cứ của đương sự khác, dẫn đến quyền tranh tụng của đương sự không được thực hiện hiệu quả
3.2 Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự.
Thứ nhất, quyền được biết trước về yêu cầu của đương sự Để
bảo đảm tranh tụng trong xét xử, BLTTDS 2015 cần bổ sung quy định
về điều kiện thụ lý vụ án dân sự, trong đó có điều kiện đương sự đã gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTDS 2015 Trong trường hợp đương sự không gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ thì Tòa án chỉ thụ lý vụ án khi đương sự nộp lệ phí sao chụp, gửi đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác
Thứ hai, về thời điểm bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố Để
đảm bảo quyền bình đẳng, pháp luật tố tụng dân sự cần quy đinh rõ:
“Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cuối cùng”.
Thứ ba, về yêu cầu độc lập của bị đơn Cần quy định rõ yêu cầu
độc lập cũng phải đáp ứng các điều kiện, thủ tục đưa ra yêu cầu giống như điều kiện, thủ tục khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản
tố của bị đơn, bị đơn cũng có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cuối cùng Đồng thời, nếu thời hiệu đưa ra yêu cầu độc lập đã hết thì Tòa án cũng sẽ giải quyết hậu quả giống như đối với việc khởi kiện của nguyên đơn BLTTDS 2015 cần bổ sung quy định về quyền yêu cầu độc lập của bị đơn theo hướng sửa Điều 201 BLTTDS 2015: “Điều 201 Quyền yêu cầu độc lập của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 101 Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì
họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:…
2 Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa
ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cuối cùng”
Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung về quyền yêu cầu độc lập của
bị đơn vào Điều 217 và Điều 22 BLTTDS 201516
Thứ tư, về quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Kiến nghị pháp luật sửa đổi, bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc tham gia tố tụng với bên bị đơn thì có quyền và nghĩa vụ
do pháp luật quy định17”
Ngoài ra, để nâng cao việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự chúng ta cần phải:
Một là, không ngừng đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ Thẩm phán để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong công tác thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự nói chung và vụ án dân sự nói riêng
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp
luật trong nhân dân, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người dân, để
từ đó họ có thể thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ pháp lý nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích của mình khi tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án dân sự
KẾT LUẬN
Việc ghi nhận cũng như thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương tự trong vụ án dân sự sẽ đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự được tiến hành theo trình tự và giải quyết đúng đắn vụ việc Pháp luật tố tụng dân sự, trong đó có BLTTDS 2015 đã phát huy hiệu quả cao trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự, tuy nhiên vẫn còn có quy định chưa phù hợp, thiếu những quy định cần thiết và các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự Do
16 Bùi Thị Huyền (2017), Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học, Số 7/2017, tr40-47.
17 Võ Văn Tuấn Khanh (2020), Quyền và nghĩa vụ của đương sư trong vụ án dân sự – Những bất cập cần khắc phục, Tạp chí Tòa án nhân dân diện tử, truy cập tại
https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-va-nghia-vu-cua-duong-su-trong-vu-an-dan-su-nhung-bat-cap-can-khac-phuc