1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 ====== NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG ĐẶC ĐIỂM CỦA THÀNH PHẦN TÌNH THÁI TRONG CÂU TIẾNG VIỆT (KHẢO SÁT QUA TRUYỆN NGẮN NAM CAO) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN N.
Trang 1NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
ĐẶC ĐIỂM CỦA THÀNH PHẦN TÌNH THÁI
TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
(KHẢO SÁT QUA TRUYỆN NGẮN NAM CAO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2022
Trang 2NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
ĐẶC ĐIỂM CỦA THÀNH PHẦN TÌNH THÁI
TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
(KHẢO SÁT QUA TRUYỆN NGẮN NAM CAO)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8220102
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAMNgười hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Thanh Huyền
HÀ NỘI - 2022
Trang 3Huyền đã tận tình hướng dẫn và đồng hành cùng tôi để tôi hoàn thành luận.Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu nhà trường,các nhà khoa học, các giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 luôn tạođiều kiện, giúp đỡ cho tôi trong suốt hành trình học tập và nghiên cứu hoànthành luận văn này.
Tôi xin được chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bêncạnh động viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụhọc tập của mình
Tác giả
Nguyễn Thị Hương Giang
Trang 4dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Hoàng Thị Thanh Huyền Kết quả này là trungthực, chưa từng được ai công bố trên bất cứ công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Hương Giang
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nói về ngôn ngữ của người Việt, dân ta thường nhận xét “phong ba bãobáp không bằng ngữ pháp Việt Nam” Điều đó có nghĩa là ngôn ngữ ngườiViệt vô cùng phong phú đa dạng, tinh tế trong việc diễn tả phong phú đờisống nội tâm con người Sự phong phú đa dạng và phức tạp ấy được tạo nênbởi đặc điểm về âm tiết, từ vựng và câu trong tiếng Việt Đặc biệt, trong đó,câu tiếng Việt cũng là một vấn đề khá phức tạp cả về cấu tạo hình thức, nộidung, ý nghĩa và sắc thái biểu cảm
Về cấu tạo, câu tiếng Việt có cấu tạo từ bộ phần nòng cốt và các thànhphần biệt lập Nòng cốt câu bao gồm thành phần chủ ngữ và vị ngữ, nắm giữvai trò quyết định đến sự tồn tại của câu về nội dung cũng như hình thức.Thành phần biệt lập của câu có thể được cấu tạo bằng nhiều cách thức khácnhau Trong số đó, thành phần tình thái có cấu tạo phức tạp, góp một phầnkhông nhỏ trong việc kiến tạo ý nghĩa nội dung và sắc thái biểu cảm cho câu.Nếu như thành phần chính của câu tạo nên nội dung thông tin trao để conngười trao đổi với nhau thì thành phần tình thái biểu lộ tình cảm, cảm xúc ẩnsâu trong tâm hồn ra bên ngoài qua ngôn từ của người nói với người nghe
Thành phần tình thái trong câu tiếng Việt có cấu tạo hình thức ý nghĩasắc thái rất phong phú Vì thế, nó đã trở thành đề tài nghiên cứu khoa học thuhút các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Trong thực tiễn, đã có nhiều tác giả quantâm và nghiên cứu về thành phần tình thái trong câu tiếng Việt như: DiệpQuang Ban [1], Bùi Minh Toán [25], Nguyễn Tài Cẩn [4], Mai Ngọc Chừ [6],Nguyễn Minh Thuyết [28], Hoàng Văn Thung [2], Nguyễn Thiện Giáp [9],Nguyễn Thị Lương [15], Nguyễn Thị Nhung [19]… Trong mỗi công trìnhnghiên cứu khác nhau, từ những mục đích, cơ sở lí luận khác nhau, các nhànghiên cứu hướng tới những bình diện khác khau của thành phần tình thái
Trang 8trong câu tiếng Việt Mỗi công trình đều có những ý nghĩa đóng góp riêng về
lý thuyết
Nam Cao là một cây bút tiêu biểu trong làng sáng tác văn học hiệnthực Trước Cách mạng tháng Tám, ông nổi tiếng với những sáng tác về nỗikhổ trăm bề của người nông dân Những trang viết của ông chân thực, chi tiếtnhư những tiếng kêu đau khổ kia thoát ra từ trong bể khổ kiếp đời làm layđộng lòng người Điều căn cốt làm nên thành công trong những trang viết củaông là tài năng vận dụng vốn hiểu biết tâm lí con người, vận dụng trải nghiệmcủa bản thân về cuộc sống thực tế, sử dụng kho từ vựng giàu có để tạo nênnhững câu văn mang đậm hồn dân tộc, đi sâu vào thế giới nội tâm của conngười, tới từng ngóc ngách của suy nghĩ qua đó ông thể hiện một cách trựctiếp và gián tiếp sự đánh giá của bản thân đối với hiện tượng, sự việc, câuchuyện được nói đến trong câu
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn “Đặc điểm của thành phần tình
thái trong câu tiếng Việt (Khảo sát qua truyện ngắn Nam Cao)” là đề tàinghiên cứu của luận văn Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ xây dựngmột cách toàn diện đặc điểm của tình thái từ trong câu tiếng Việt ở cả ba bìnhdiện (nghĩa học, kết học và dụng học), những đặc điểm ấy được soi chiếu từcác truyện ngắn của Nam Cao
2 Lịch sử vấn đề
Tình thái (modality) - đề tài nghiên cứu rộng lớn thu hút được nhiều nhàngôn ngữ lớn trên thế giới và trong nước quan tâm Trong phạm vi của đề tài,chúng tôi tập trung điểm lại cách nghiên cứu về thành phần tình thái ở một sốbình diện như:
2.1 Nghiên cứu thành phần tình thái từ góc độ logic, ngữ nghĩa
Thời cổ đại, Aristote là người đầu tiên đề cập đến mệnh đề tình thái.Theo tác giả, tình thái đi liền và được biểu hiện dưới các loại phán đoán
Trang 9Những phán đoán logic được dựa trên cơ sở các đặc trưng cơ bản của mối liên
hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở góc độ phù hợp của phán đoánvới thực tế Từ tư cách là thành tố định tính cho mệnh đề, các nhà logic họcdựa theo các tiêu chí: tính tất yếu, tính khả năng, tính hiện thực để phân loạiphán đoán trong phát ngôn trực tiếp
Trong Linguistique générale et linguistique française (1932), tác giả
Ch Bally đã đưa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ Ch Bally đã chủ trươngphân biệt rõ ràng hai yếu tố kiến tạo nên ý nghĩa câu là: 1 nội dung biểu hiện
có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu, tác giả dùng thuật ngữ dictum để chỉ nội dung này; 2 modalité là thái độ của người nói đối với nội dung ấy.[27;
734]
Tác giả V V Vinogradov đưa ra quan niệm “tình thái thuộc vào sốnhững phạm trù ngôn ngữ học trung tâm, cơ bản” Đồng thời, tác giả cho rằng,tình thái là một bộ phận độc lập, tồn tại song song với chủ ngữ và vị ngữ Và:
“Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tứcchỉ ra quan hệ đối với hiện thực” Khác với quan niệm của V V Vinogradov,tác giả O B Xirotinina cho rằng tình thái nằm trong vị tính của câu: “Thờitính, tình thái tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính” [15; 84]
Nhóm tác giả V N Bondarenko và M V Liapon có quan điểm gầnnhau, cho rằng: “tính tình thái là một phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm củacác mối quan hệ khách quan (tình thái khách quan) được phản ánh trong nộidung của câu và chỉ ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chính câu đótheo quan niệm của người nói (tình thái chủ quan)”(V.N Bondarenko) và
“tình thái là một phạm trù chức năng ngữ nghĩa thể hiện các dạng quan hệkhác nhau của phát ngôn đối với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quankhác nhau của điều được thông báo” (M V Liapon) [31; 36]
Tác giả M A K Halliday (1994) chú trọng vào phạm trù thức (mood),
Trang 10xem xét tính tình thái qua việc sử dụng động từ với hy vọng sẽ giải thích đượcnhững gì còn sót lại của tính tình thái mà nếu chỉ dùng riêng khái niệm vị tínhthì chưa giải quyết trọn vẹn [16; 156]
Tác giả J R Searle đã dùng lý thuyết hành động ngôn từ để trình bàyvấn đề về thức và tình thái J R Searle Nhà nghiên cứu ngôn ngữ này đã nêu
ra năm phạm trù cơ bản của hành động ở lời như sau: xác quyết, khuyến lệnh,
kết ước, tuyên bố và biểu lộ Như vậy, vấn đề tình thái nằm ở tất cả các phạm
trù mà tác giả nêu ra
J Lyons (1995) cho rằng tình thái logic được biểu thị qua khái niệmtính khả năng và tính tất yếu, còn trong ngôn ngữ, tình thái được nhận thứcqua hai phạm trù cơ bản là tình thái nhận thức (epistemic modality) và tìnhthái đạo lý (deontic modality) Tác giả đã từng viết: “thái độ của người nói đốivới nội dung của mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêutả” [16; 823]
Điểm gặp gỡ cơ bản của các nhà nghiên cứu trên chính là: 1 Tình thái
là một phạm trù chức năng ngôn ngữ của con người; 2 Thành phần tình trongcâu là thành phần thể hiện thái độ, tình cảm, cảm xúc của người phát thông tintrước nội dung sự tình biểu thị
2.2 Nghiên cứu thành phần tình thái từ góc độ ngữ pháp
Các tác giả nghiên cứu nhóm từ được coi là phương tiện được biểu thịthái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu
Nhóm từ này thường đứng cuối câu, bổ sung cho câu ý nghĩa tình thái, như: a,
à, á, chớ, há, hả, nha, nè, v v…
Cùng gọi là trợ từ nhưng nhóm các tác giả có cách lý giải, đưa ra nộidung của trợ từ khác nhau:
Trang 11Tác giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) đồng quan điểmtrong cách gọi là trợ từ: “trợ từ là tiếng không có thực nghĩa, giúp cho lời nói
ý nhị, mạnh mẽ, linh hoạt thêm, hoặc cho lời nói khỏi cụt cằn cộc lốc”[7;180]
Nguyễn Hữu Quỳnh (1996) gọi là trợ từ cho câu để biểu thị “thái độhoài nghi, ngạc nhiên, nũng nịu…” [21; 177 – 178]
Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam đồng ý gọi tên trợ từ nhưng diễn đạtnội dung của trợ từ có những điểm hơi khác: “chúng là từ biểu thị thái độ… làyếu tố gia thêm vào cho câu để biểu thị sự ngạc nhiên, nghi ngờ, mỉa mai, vuimừng, lễ phép hay sự khẳng định đặc biệt” [30;72]
Nguyễn Tài Cẩn (1999) cho rằng các trợ từ này có thể “đưa tình thái lại
cho đoản ngữ, biến đoản ngữ thành câu” [8; 333]
Các tác giả gọi nhóm a, à, á, chớ, há, hả, nha, nè, v v… là tình thái từ
như Đinh Văn Đức (1986), Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1998) LêCận, Phan Thiều (1983), Hoàng Trọng Phiến (1997), Đỗ Thị Kim Liên (1999)
…Tuy nhiên, ở mỗi tác giả có cách lý giải khác nhau:
Hai tác giả Lê Cận, Phan Thiều (1983) gọi là “tình thái từ cuối câu dùng
để biểu thị thái độ của người nói”[5; 169]
Các tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1998), Đỗ Thị KimLiên (1999) gọi là “tình thái từ nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, biểu thị sắc thái
tình cảm” [1; 69].
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến(1997) cũng gọi là từ tình thái dùng để “đánh dấu câu theo mục đích nói (câu
nghi vấn, câu mệnh lệnh, câu cảm thán, câu tường thuật)” [6; 273 – 274]
Các tác giả nghiên cứu nhóm phương tiện tình thái là một nhóm phươngtiện chuyên dùng để nhấn mạnh vào ý nghĩa của một bộ phận nào đó của câunhưng có ý nghĩa khái quát lên câu Nhóm tình thái này thường đứng ở đầu
Trang 12câu gồm: chính, cả, ngay, đến, chỉ, đích, thị, đích thị, y… Nhóm từ này thường được các nhà Việt Ngữ học gọi bằng các tên khác nhau như: trợ từ, trợ từ
thành phần câu, phụ từ, phó từ, tình thái từ, v v… Đại diện cho nhóm này là
các tác giả Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983), Đinh Văn Đức (1986),Nguyễn Hữu Quỳnh (1996), Diệp Quang Ban, Nguyễn Tài Cẩn (1999), HoàngVăn Thung (1998), Phạm Hùng Việt (2003), Hoàng Phê (2003), Nguyễn VănHiệp (2008), Tuy nhiên, quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu vẫn nhấn mạnhnhững đặc điểm riêng
Hai tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1998) gọi nhóm từ này
là nhóm tiểu từ tình thái, đồng đẳng với phụ từ, kết từ dùng để: “biểu thị ýnghĩa tình thái, bằng cách nhấn mạnh vào từ, kết hợp từ có nội dung phảnánh liên quan với thực tại mà người nói muốn lưu ý người tiếp nhận” [1; 144]
Tác giả Đinh Văn Đức (1986) gọi nhóm từ này là tình thái từ (ngangvới phạm trù thực từ, hư từ): “Các tình thái từ có số lượng không lớn nhưng
do bản chất ngữ pháp có những khía cạnh rất chuyên biệt cho nên có thể vàcần phải được xếp riêng thành một phạm trù ngang hàng với phạm trù thực từ
và hư từ, tuy rằng phạm trù này chỉ bao hàm hai tập hợp nhỏ - tiểu từ và trợ
từ” Từ đó, ông nhấn mạnh đó là phương tiện “biểu đạt ý nghĩa tình thái với
mục đích nhấn mạnh tăng cường” [8; 187 - 189]
2.3 Nghiên cứu về vấn đề quán ngữ tình thái
Một số tác giả nhắc đến quán ngữ trong những công trình thuộc về từvựng học, như Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Văn Tu (1976), Diệp QuangBan, Nguyễn Thiện Giáp (1985), Hoàng Văn Thung (1998)… Một số tác giảkhác như Đinh Văn Đức (1986), Trần Ngọc Thêm (1985) đưa ra quan niệmtình thái và miêu tả lớp tiểu từ tình thái Nếu như tác giả Diệp Quang Ban
(1998) đưa ra đề xuất gọi là liên ngữ để chỉ quan hệ ngoại hướng, liên kết câu
Trang 13chứa nó với các câu liên quan phía trước thì tác giả Trần Ngọc Thêm (1985)
gọi là “cụm từ làm thành phần chuyển tiếp”
Xét về mặt cấu tạo câu tiếng Việt, các tác giả sách Ngữ pháp tiếngViệt, quán ngữ xuất hiện dưới dạng là thành phần phụ tình thái, đề tình tháihoặc thuyết tình thái trong câu, trong thế đối lập với trạng ngữ, liên ngữ và
tình thái ngữ,… Cụ thể, Nguyễn Kim Thản (1996) đề xuất gọi là phụ chú ngữ
; Nguyễn Tài Cẩn (1999) gọi là thành phần xen kẽ; Cao Xuân Hạo (1991) thì
cho rằng các yếu tố “theo ý tôi thì, nếu tôi không nhầm thì, thật ra thì ; quả
là, nói thật là, miễn là ” là yếu tố tình thái làm thành đề của câu được đánh dấu bằng thì, là…
Các nghiên cứu trên đã nêu ra khái niệm, bàn luận về tên gọi, ý nghĩa,
và khả năng kết hợp của quán ngữ tình thái Trong thực tế, đặc điểm quánngữ tình thái trong các tác phẩm văn học nói chung, trong truyện ngắn NamCao nói riêng mang những đặc điểm khá phong phú đa dạng nhưng chưađược tập trung nghiên cứu nhiều
2.4 Nghiên cứu thành phần tình thái trong Việt Ngữ học
Nghiên cứu thành phần tình thái trong Việt Ngữ học bao gồm haihướng: hướng không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái và nhóm trực tiếpquan tâm đến vấn đề tình thái
Nhóm trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái bao gồm các tác giả PhanMạnh Hùng (1982), Nguyễn Minh Thuyết (1995), Nguyễn Đức Dân (1998),
Lê Đông (1991), Phạm Hùng Việt (1996), Hoàng Tuệ 1988),Nguyễn Văn Hiệp(2002), Hồ Lê (1992), Cao Xuân Hạo (1999),… Các tác giả trên gặp gỡ ở việctách hai nội dung của ngôn ngữ: ngôn liệu và tình thái Trong thực tế, mỗi tácgiả lí giải vấn đề ở các khía cạnh khác nhau
Tác giả Nguyễn Văn Hiệp (2008) chỉ ra tính chất đối lập giữa tình thái
Trang 14và ngôn liệu Tác giả viết: “Đối lập cơ bản nhất để hiểu tình thái là đối lậpgiữa tình thái và ngôn liệu hay nội dung mệnh đề Đây là một sự đối lập đượcthừa nhận rộng rãi, được coi là then chốt trong những nghiên cứu về tình thái.Ngôn liệu thực chất là thông tin miêu tả ở dạng tiềm năng, còn tình thái làphần định tính cho thông tin miêu tả ấy” [14; 85 - 86]
Tác giả Cao Xuân Hạo phân biệt rõ tình thái của hành động phát ngôn
và tình thái của lời phát ngôn: “Nội dung của bất kỳ một lời phát ngôn nàocũng chứa đựng một tình thái (nếu không phải là kết hợp nhiều lớp tình thái)”.[13; 51]
Tác giả Hoàng Tuệ (1988) cho người đọc thấy được những nét khái quát
về tình thái khi bàn về thời, thể, tình thái trong tiếng Việt và khái niệm tìnhthái Đồng thời, tác giả phân biệt rõ hai yếu tố khác nhau trong câu tiếng Việt
đó là ngôn liệu (dictum) và tình thái (modus)
Nhóm không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái bao gồm các tácgiả Bùi Đức Tịnh (1952), Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Lê Văn
Lý (1968), Nguyễn Kim Thản (1977), Đái Xuân Ninh (1978), Lê Cận, PhanThiều (1983), Đinh Văn Đức (1986), Hoàng Phê (1987), Đỗ Hữu Châu(1993), Lê Biên (1995), Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1998),… Tuykhông trực tiếp nghiên cứu về tình thái trong câu tiếng Việt nhưng trong quátrình nghiên cứu theo những mục đích riêng của mình, các tác giả vẫn điểmqua, nhắc tới vấn đề ý nghĩa tình thái trong câu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 15mình
- Góp phần phục vụ việc nghiên cứu và giảng dạy những tác phẩm củaNam Cao nói riêng, các tác phẩm văn học nói chung trong nhà trường phổthông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài như sau:
Nghiên cứu một số nội dung cơ sở lý luận về lí thuyết ba bình diệncâu, lí thuyết về thành phần tình thái và điểm qua đôi nét về đặc điểm truyệnngắn của tác giả Nam Cao
Nghiên cứu đặc điểm thành phần tình thái trong truyện ngắn Nam Cao
ở ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: Phương pháp này được sử dụng đểmiêu tả, tường minh hóa đặc điểm của thành phần tình thái trong câu tiếngViệt
- Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Thành phần tình thái luôn gắn chặt với ngữ cảnh, do vậy khi nghiên cứu thành phần tình thái, chúng tôi luôn đặt chúng trong mối quan hệ với ngữ cảnh
5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu, khảo sát đặc điểm thành phần tình thái trong câu tiếng Việt
ở 2 cuốn:
- Việt Nam danh tác (2019), Nam Cao tuyển tập, Nxb Văn học.
- Lan Hương tuyển chọn (1995), Nam Cao truyện ngắn tuyển chọn,
Nxb Văn học
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp trên 2 phương diện: Về khoa học, về thực tiễn
Về cơ sở lý luận, luận văn trình bày một cách hệ thống lại lý thuyết về
Trang 16ba bình diện của câu; đặc điểm thành phần tình thái trong câu tiếng Việt xét trên bình diện kết học, nghĩa học, dụng học.
Về thực tiễn, luận văn góp phần nghiên cứu đặc điểm thành phần tình thái trong câu tiếng Việt qua truyện ngắn của tác giả Nam Cao
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Thành phần tình thái của câu tiếng Việt xét trên bình diện
kết học và nghĩa học
Chương 3 Thành phần tình thái của câu tiếng Việt xét trên bình diện
dụng học
Trang 17PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
Khởi thủy của mô hình lí thuyết và những công trình nghiên cứu ba
bình diện kết học, nghĩa học và dụng học từ lí thuyết tín hiệu học của
Ch.W.Morris (1938) Theo Ch.W.Morris đối với mỗi hệ thống tín hiệu cầnphân biệt rõ ràng khoa học ba lĩnh vực: kết học (syntactics - quan hệ hìnhthức giữa các tín hiệu với tín hiệu); nghĩa học (semantics - mối quan hệ giữatín hiệu với các yếu tố ngoài tín hiệu); dụng học (pragmatics - mối quan hệgiữa tín hiệu với chủ thể phát ra tín hiệu) Mô hình lí thuyết ba bình diện củaCh.W Morris đã được các nhà ngôn ngữ học nói chung, nhà nghiên cứu ngữpháp học nói riêng học tập, kế thừa và triển khai nghiên cứ vào các trườnghợp cụ thể
HaLLiday.M.A.K (2004) trong công trình Dẫn luận ngữ pháp chức
năng cho rằng câu không chỉ được nghiên cứu về mặt cấu trúc mà còn được
chú ý nghiên cứu ở cả bình diện nghĩa và bình diện ngữ dụng bởi tác giả cho
rằng:“Đó là mối quan hệ hình thức với nội dung, của phương tiện với mục
đích.” [10; 22] nét nghĩa là một hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng đều có thể giải
thích được trong mối quan hệ với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào” [10;
23] Điều đó có nghĩa các hiện tượng ngôn ngữ không chỉ được xem xét nghiêncứu ở những bình diện đơn lẻ độc lập mà còn có mối liên hệ mật thiết được thể
hiện qua ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học.
Từ cơ sở lý của các nhà ngôn ngữ lớn ở nước ngoài trên kết hợp vớinhững công trình nghiên cứu về Ngữ pháp tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu, CaoXuân Hạo, Nguyễn Kim Thản chúng tôi xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài gồmnhững nội dung: lý thuyết về ba bình diện câu tiếng Việt; lý thuyết về câu, thànhphần câu tiếng Việt; và thành phần tình thái của câu trong tiếng Việt
Trang 181.1 Lí thuyết về câu và ba bình diện nghiên cứu câu tiếng Việt
1.1.1 Khái quát về câu trong tiếng Việt
Câu là một đơn vị ngôn ngữ xuất hiện cả trong nói và viết Nó hoànchỉnh về hình thức và đáp ứng trọn vẹn một nội dung thông tin nào đó Câutiếng Việt là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu trong các ngành khoahọc khác nhau về ngôn ngữ và tiếng Việt Hiện nay, có nhiều định nghĩa vềcâu khác nhau
Một trong những định nghĩa về câu sớm nhất mà nhiều người biết đến
là quan niệm của Alếchxanđria vào thế kỉ 3 trước công nguyên Tác giả chorằng: “Câu là sự tổng hợp của các từ, biểu thị một tư tưởng tương đối trọnvẹn” [15; 9]
Tác giả Cao Xuân Hạo (2004) quan niệm “Câu là đơn vị nhỏ nhất củangôn từ trong đó cả ba bình diện đều được thể hiện” [11; 19]
Tác giả Diệp Quang Ban (2005) định nghĩa “Câu là đơn vị trọn vẹnnhất trong một hệ thống ngôn ngữ, trong nó phản ánh được đầy đủ nhất cácđặc trưng hình thức và ý nghĩa của một ngôn ngữ cụ thể ” [1; 13]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, tác giả Diệp Quang Ban (2005) đã định
nghĩa: “Câu (hay cú) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữpháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trungchung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sựviệc)” [1; 17]
Đến năm 2006, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, (tập 2) Hai tác giả
Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung đồng quan điểm cho rằng: “Câu là đơn
vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tựlập và ngữ điệu kết thúc mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sựđánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tìnhcảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [2; 107]
Trang 19Tác giả Nguyễn Thị Lương cũng trình bày quan niệm về câu trongtiếng Việt là: “Câu là một đơn vị ngôn ngữ không có sẵn dùng để biểu thị sựtình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhấtđịnh, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thựchiện một hành động nói” [15;9]
Từ học tập, kế thừa và phát triển quan niệm những nhà nghiên cứu đi
trước, chúng tôi hiểu: Câu là một tổ chức liên kết các từ, cụm từ với nhau
chặt chẽ, ổn định đảm bảo diễn diễn trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức Câu là một đơn vị mang đầy đủ đủ bình diện đặc trưng của ngôn ngữ tiếng Việt
1.1.2 Khái quát ba bình diện câu tiếng Việt
1.1.2.1 Bình diện kết học (ngữ pháp)
Bình diện kết học là bình diện của mối quan hệ giữa các tín hiệu ngônngữ trong một đơn vị ngôn ngữ là câu Nó là mối quan hệ giữa các từ trongmột câu; quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ, quan hệ giữa thành phần chính vàthành phần phụ, quan hệ giữa các vế câu (đối với câu ghép), quan hệ giữa vaitrò của các loại từ với nhau trong câu
a Thành phần câu tiếng Việt
Từ bình diện kết học, quan niệm truyền thống cho rằng các thành phầnngữ pháp là yếu tố kiến tạo nên câu Mỗi thành phần ngữ pháp lại có nhữngđặc trưng riêng về ý nghĩa và hình thức ngữ pháp
Thành phần ngữ pháp trong tiếng Việt truyền thống quan niệm thànhphần ngữ pháp trong câu gồm ba loại :
Trang 20Loại 2: các thành phần phụ: trạng ngữ, khởi ngữ, bổ ngữ, định ngữ.
Ví dụ:
(2) Đọc sách, tôi// đam mê từ thuở ấu thơ
Trong đó: KN: đọc sách; TN: từ thuở ấy thơ
Ví dụ
(3) Ngày trước, tôi //yêu những quyển sách này lắm
Trong đó: TN: ngày trước; ĐN: “những quyển sách” làm bổ ngữ cho động từ “yêu”
Loại 3: các thành phần biệt lập: chú ngữ, hô ngữ, tình thái ngữ, cảm thán ngữ
Ví dụ:
(3) Có lẽ, tôi đã vội vàng quá rồi!
Trong đó: tình thái ngữ: có lẽ; cảm thán ngữ: rồi
Cấu trúc cú pháp bao gồm những chức vụ cú pháp nhất định biểu hiện bằng những từ ngữ cụ thể như danh từ, tính từ, động từ, quan hệ từ… các thành phần cú pháp luôn có mối quan hệ chặt chẽ và gắn kết với nhau
Nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại chia các chức năng cú pháp thành hai nhóm: Thứ nhất, cấu trúc cú pháp của câu các nhóm chức năng là làm chủ ngữ,
vị ngữ, các loại bổ ngữ, đề ngữ và trạng ngữ Trong đó, vị tố với chức năng cúpháp diễn đạt đặc trưng/ quan hệ - lõi sự tình giữ vai trò chính trong câu làmnên nòng cốt câu như tác giả Diệp Quang Ban viết: “Cấu trúc cơ sở của câu
phản ánh sự việc được diễn đạt trong câu” [1; 23] Điều đó có nghĩa nòng cốt
câu bao gồm các thành phần chính: chủ ngữ, vị tố, bổ ngữ Ngoài nhữngthành phần chính còn có các vị tố: trạng ngữ và đề ngữ đi kèm ở các vị trítrong câu nhằm bổ sung thông tin cho nòng cốt câu Sự kết hợp các thànhphần chính và thành phần phụ của câu tạo nên cấu trúc cú pháp của câu,
“phản ánh sự việc được diễn đạt trong những hoàn cảnh nhất định” [1; 23].
Trang 21Thứ hai, nhóm không tham gia vào cấu trúc cú pháp của gồm: biệt tố tìnhthái, liên tố Trong nhóm này có những đặc điểm phức tạp, đây là nội dungnghiên cứu chính của luận văn Vì vậy, chúng tôi sẽ nghiên cứu toàn diện vàsâu hơn ở chương 2 và chương 3
b Kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu tiếng Việt
Cấu trúc ngữ pháp được hiểu là mô hình trừu tượng được khái quát câutiếng Việt Mỗi câu được xây dựng theo một mô hình nhất định Hiện nay, dựatrên cấu tạo mỗi câu, người ta chia hệ thống cấu trúc câu thành một số cấp độnhư sau:
Cấp độ thứ nhất gồm: câu đơn, câu phức (cách gọi ở sách Ngữ văn 7
THCS là câu đơn mở rộng thành phần) và câu ghép
Trong đó: câu đơn: là câu có một cụm CV tạo thành
Ví dụ:
(4) “Tiếng gà gáy // xôn xao” (Một đám cưới)
(5) “Hiệp // ngoái đầu ra” (Sao lại thế này?)
Câu phức là câu có ít nhất 2 cụm CV trở nên trong đó có một cụm CVlớn bao chứa cụm CV nhỏ
Ví du:
(6) “Tôi //cố làm thinh khi người ta// khóc đưa anh” (Điếu văn)
(7) “Đứa con dâu // phải nhả ra, nước mắt //chứa chan” (Sao lại thếnày?)
Câu ghép là câu có ít nhất từ hai cụm CV trở lên, mỗi cụm CV độc lậpkhông bao chứa nhau được gọi là một vế Mỗi vế được nối với nhau bằng từnối hoặc dấu câu
Ví dụ:
(8) “Ðằng nhà trai, bà // còn không muốn bảo ai, thì đằng nhà gái bâygiờ đang còn tang mẹ cháu, tôi // cũng chẳng bảo ai sất cả.”
Trang 22(9) “Tôi //còn đang bận thu xếp chỗ, vợ tôi //, còn phải ẵm con bé cháusang nằm nhờ hàng xóm” (Mua nhà)
Cấp độ thứ hai phân loại các tiểu loại của câu đơn, câu phức và câu ghép.Câu đơn bao gồm: câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt
Câu đơn bình thường:
Ví dụ:
(10) “Nó // đĩ bỏ cha ấy!” (Điếu văn)
(11) “Mắt anh // lóa ra.” (Điếu văn)
(12) “Anh // uất ức.” (Điếu văn)
Câu đơn đặc biệt:
Ví dụ:
(13) “Ninh reo lên:
- A bà!” (Từ ngày mẹ mất)
“A bà!” thể hiện tâm trạng của Ninh vui vẻ phấn chấn vì sự xuất hiện của
bà Bà là người đã mang hơi ấm, sự quan tâm yêu thương đến cho Ninh
Ví dụ:
(14) “Mẹ kiếp! Lại chực bắt bí nhau” (Mua danh)
“Mẹ kiếp!” thể hiện sự bực bội, khó chịu của người đi mua danh phải chitốn quá nhiều khoản
Câu phức là câu có các thành phần như TN, BN, ĐN, BN, … được cấutạo bằng một cụm CV, được bao chứa trong một nòng cốt CV lớn Câu ghép
là câu có từ hai cụm CV trở lên không bao nhau tạo thành.Câu ghép gồm hailoại là câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ
Ví dụ:
(15) “Một người// chít cái khăn mỏ rìu, nhe những cái răng/ cải mả racười mà bảo” (Từ ngày mẹ chết) => “những cái răng cải mả làm phụ ngữ cho
động từ “nhe”
Trang 23Tóm lại, bình diện ngữ pháp học của câu là trả lời cho câu hỏi quan hệngữ pháp giữa các thành tố trong câu là gì Nội hàm của bình diện kết học lànhững vấn đề cơ bản được quan tâm là các kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp
và cấu trúc cú pháp của câu
1.1.2.2 Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa)
Bình diện nghĩa học hay còn gọi là bình diện ngữ nghĩa, được phát triển
từ nghĩa học của tín hiệu Ở bình diện này của câu tiếng Việt, người ta quantâm và bàn về hai thành phần cơ bản là nghĩa sự vật và nghĩa tình thái mà câuthể hiện Ở mỗi loại nghĩa được tạo nên từ những yếu tố khác nhau, mangnhững đặc điểm khác nhau
a Nghĩa tình thái
Trong một phát ngôn không chỉ có nghĩa biểu niệm mà luôn luôn có nghĩatình thái Nghĩa tình thái thể hiện thái độ, cảm nhận, cảm xúc, sự nhận xét đánhgiá và suy nghĩ của người phát ngôn trước thông tin nội dung đề cập đến trongphát ngôn Nhận định độ phức tạp của nghĩa tình thái, tác giả Bùi Minh Toánđánh giá: “Nghĩa tình thái là một phạm trù bao gồm nhiều nội dung đa dạngphức tạp” Đồng thời, ông đưa ra quan niệm của mình về nghĩa tình thái: “nghĩatình thái là phần nghĩa có tác dụng làm cho sự tình mà câu biểu hiện hướng đếnmục đích, đến những hành động ngôn ngữ nhất định, hoặc thể hiện sự nhìn nhận,đánh giá của người nói đối với sự tình được đề cập đến, hay đối với ngườinghe” [24; 32]
Ví dụ:
(16) “Có một mình nó ăn mà cũng đòi cỗ to hơn cỗ bốn người ăn” (Tưcách mõ)
Ví dụ trên mang nghĩa tình thái thể hiện đánh giá sự tình thằng mõ ăn nhiều,
ăn tham, ăn một cách vô duyên làm tốn và “chướng tai gai mắt” chủ Qua đó thểhiện sự khinh bỉ, xem thường của chủ nhà đối với mõ Ẩn sâu trong trang văn
Trang 24còn là thái độ của tác giả Nam Cao trước hành trình tha hóa con người vì cái đóimiếng ăn
Ví dụ:
(17) “Nó đưa cho tôi 3 đồng bạc và bảo: “Con biếu thầy ba đồng bạc đểthỉnh thoảng thầy ăn quà; xưa nay con ở nhà mãi cũng chẳng nuôi được bữa nào,thì con đi cũng chẳng phải lo; thầy bòn vườn với làm thuê cho người ta thế nào
cũng đủ ăn, bao giờ có bạc trăm con mới về, không có tiền, sống khổ sống sở ở
cái làng này, nhục lắm”(Lão Hạc)
“Không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này, nhục lắm” thể hiện cách
đánh giá về cuộc sống của người dân trong làng Vũ Đại của con trai lão Hạc.Anh hiểu sâu sắc nguyên căn vì sao mà tình yêu đẹp đẽ của anh không thể cậpbến bờ hạnh phúc
Dù khách quan hay chủ quan, dù mong muốn có chủ đích hoặc vô tìnhthì trong mỗi phát ngôn vẫn luôn có nghĩa tình thái Tình thái có thể được thểhiện bằng các phương tiện ngôn ngữ (ngữ pháp hay bằng các phương tiện từvựng) hoặc phi ngôn ngữ (điệu bộ, nét mặt, cử chỉ, dáng điệu)… trong mỗiphát ngôn
Ví dụ:
(18) “Có lẽ tôi bán con chó đấy ông giáo ạ” (Lão Hạc)
“Có lẽ” thể hiện cảm xúc buồn, không chắc chắn/ không muốn bán conchó Việc bán con chó mới là trong ý định Sở dĩ lão Hạc gặp khó khăn trongviệc bán chó như vậy bởi Lão rất yêu nó “như bà mẹ hiếm yêu đứa con cầutự”
“ạ” thể hiện tình cảm, sự kính trọng của lão Hạc đối với ông giáo - mộtngười hàng xóm tốt bụng, một người bạn luôn cùng san sẻ mọi nỗi niềm và làchỗ dựa của lão
“Ôi chao! Hắn khóc Hắn khóc, khóc nức nở, khóc như không thể ra
Trang 25tiếng Hắn ôm chặt lấy bàn tay nhỏ bé của Từ vào ngực mình mà khóc” (Đời
thừa)
Hành động khóc và ôm chặt cho thấy hắn khổ tâm, dằn vặt vì đã lỡ vuithú với bạn bè bên ngoài, lỡ tiêu tiền và say rượu vợ hắn phải khổ thêm
b Nghĩa biểu hiện
Nghĩa biểu hiện là lõi nội dung thông tin được nói đến trong câu Nghĩabiểu hiện được chứa đựng chủ yếu trong vị ngữ Tác giả Bùi Minh Toán đãnêu quan niệm về nghĩa biểu hiện: “Nghĩa biểu hiện là thành phần nghĩa ứngvới sự tình được đề cập đến Sự tình được nhận thức và được đề cập đến tạonên nghĩa biểu hiện.” [24; 30]
Nghĩa biểu hiện phản ánh lại những nhận thức của con người trước mộthiện tượng nào đó Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: “của kinh nghiệm conngười và sự chi phối của logic (tính hợp lí được thừa nhận)”[1; 184] Hay nhưtác giả Cao Xuân Hạo viết: “cái hình ảnh mà người nói dùng để truyền đạt sựtình đến người nghe một mặt được giản lược đi và mặt khác lại được trang trí
thêm nhiều yếu tố chủ quan của người nói” [12; 426]
Ví dụ:
(19) “Lòng tôi thắc mắc một nỗi lo không rõ rệt Bỗng tôi nghe mộttiếng trẻ con khóc nức nở và hờ:
- Mẹ ơi!
Tim tôi động một cái giống như bước hụt” (Mua nhà)
Đoạn văn trên mang nghĩa biểu hiện thể hiện những thông tin:
Trong suy nghĩ của người mua nhà có một nỗi lo lắng nào đó mà khôngbiết nguyên nhân, không thể định hình ra nỗi lo ấy Khi nghe tiếng trẻ conkhóc, trái tim nhân vật tôi như có cảm giác bất ngờ và như đang đau đớn
1.1.2.3 Bình diện dụng học (ngữ dụng học)
Bình diện dụng học của câu tiếng Việt được hiểu một cách đơn giản là
Trang 26quan tâm mối quan hệ của câu với các yếu tố trong một bối cảnh giao tiếpnhất định Hay nói khác đi là quan tâm đến câu trong hoạt động giao tiếp, câuvới tư cách là một thông điệp (message) và “và thông điệp trong ngôn ngữhọc được hiểu là tin được mã hóa thành lời nói hoặc lời viết được truyền đi từngười phát đến người nhận” [1; 207]
Bình diện ngữ dụng học của câu tiếng Việt được chủ yếu được quantâm ở các nội dung:
Tình thái từ của câu bao gồm nhiều phương diện: thể hiện ở mục đíchgiao tiếp; hành động ngôn ngữ mà câu thực hiện trong hoạt động giao tiếp;cách thức thực hiện hành động ngôn ngữ trực tiếp hay gián tiếp; tính kháchquan và chủ quan trong giao tiếp; tình thái liên nhân (tình cảm thái độ củangười nói đối với người nghe)
Các thành phần nghĩa ngữ dụng: nghĩa tường minh/ tiền giả định vànghĩa hàm ẩn/ hàm ý Nếu như nghĩa tường minh là lớp nghĩa ở bề mặt câuchữ, mang nội dung thông tin mà người nghe/ đọc dễ nắm bắt được thì nghĩahàm ẩn phải trải qua quá trình suy luận, nghiền ngẫm, rút ra từ nghĩa tườngminh
Cấu trúc thông tin bao gồm tin mới và tin đã biết
1.2 Lí thuyết về thành phần tình thái trong câu tiếng Việt
Tình thái từ là những từ được thêm vào câu để tạo sắc thái tình cảm củangười nói đối với người nghe Thành phần tình thái là đề tài được nhiều nhànghiên cứu quan tâm trên cả 3 bình diện kết học, nghĩa học và dụng học
1.2.1 Một số quan niệm về thành phần tình thái
Trên thế giới, một số tác giả chuyên nghiên cứu về thành phần tình thái
có thể kể đến như Gak, Liapol, O.B Xirotinina, Vinogradov, Lyons, Palmer,
N Chomsky, Ch Bally, Bybee, Các tác giả đã đưa ra một số quan niệm vềtình thái từ:
Trang 27Palmer định nghĩa “Tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiệnthái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói ra” [28; 255]
Lyons giải thích thành phần tình thái là: “Thái độ của người nói đối vớinội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả”.[28;255]
Tác giả Joan Bybee đề cập khái niệm về tình thái rộng hơn: “Tình thái
là tất cả những gì mà người nói muốn thể hiện cùng với toàn bộ nội dungmệnh đề” [28; 255]
Điểm gặp gỡ giữa các quan niệm tình thái của các tác giả trên là sự biểuhiện của ý nghĩa tình thái trong câu Tuy nhiên, các tác giả chưa bàn đếnphương tiện biểu đạt, vai trò của tình thái trong câu
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Thiện Giáp, HoàngTrọng Phiến, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Lê Quang Thiêm,… đồng tìnhvới các quan niệm trên Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra:
Tác giả Diệp Quang Ban “Nghĩa tình thái là bộ phận chỉ ý định, thái độ,tình cảm của người nói đối với điều được nói ra, quan hệ của người nói đốivới người nghe” [1;181]
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp nhấn mạnh đến thái độ người nói trongquan niệm: “Tình thái trong ngôn ngữ là thái độ của người nói với nội dungmệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả, là thông tinngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điềuđược nói ra” [9; 416]
Từ góc độ vận dụng nghĩa tình thái trong câu tiếng Việt trong dạy học
bộ môn Ngữ văn, tác giả Nguyễn Thị Nhung viết: “Nghĩa tình thái là một bộphận nghĩa của câu giúp biến nội dung mệnh đề ở thế tiềm năng trở thành cácphát ngôn khi giao tiếp Nó bao gồm tất cả những gì mà nguời nói thể hiệnkèm theo nội dung mệnh đề khi thực hiện một câu nói, nhằm biểu thị quan hệcủa điều được nói đến trong câu với hiện thực khách quan; biểu thị nhận thức,
Trang 28sự đánh giá, cảm xúc của người nói với điều được nói đến trong câu và mongmuốn, thái độ của nguời nói với nguời nghe” [18; 27]
Nguyễn Thị Lương chỉ ra: “Tình thái là một phần nghĩa của câu thểhiện thái độ, ý định, mục đích hay quan hệ giữa người nói với người nghe,giữa người nói với hiện thực (sự tình) được phản ánh trong câu, giữa nội dungđược phản ánh trong câu với hiện thực ngoài thực tế khách quan” [15; 178]
Kế thừa, triển khai quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúngtôi quan niệm thành phần tình thái là một bộ phận biệt lập của câu, thể hiệnthái độ, sự đánh giá của người nói đối với người nghe, của người nói đối vớithông tin trong câu Nghĩa tình thái được tạo ra bởi những phương tiện ngônngữ Thành phần tình thái trong mỗi ngữ cảnh giao tiếp khác nhau thì mangnhững ý nghĩa sắc thái khác nhau
1.2.2 Phân loại nghĩa tình thái
1.2.2.1 Quan điểm phân loại
Qua thực tế tham khảo các cách phân loại của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi phân loại nghĩa tình thái trong câu tiếng Việt dựa trên quan điểm như sau:
Thứ nhất, việc phân loại nghĩa tình thái của câu tiếng Việt phải phù hợp
với đặc điểm của ngôn ngữ tiếng Việt
Thứ hai, ý nghĩa, mục đích của sự phân loại là hướng đến kết quả là các
nhóm, tiểu nhóm và sắc thái nghĩa tình thái trong mỗi nhóm loại phải tạonhững điểm chung có tính chất thành một hệ thống Giữa các đơn vị khác cấp
độ phải có quan hệ lang lớp theo chỉnh thể - bộ phận, từ nhỏ đến lớn hoặcngược lại Giữa các đơn vị cùng cấp độ phải có một đường ranh giới nhấtđịnh, phân biệt được đặc trưng cơ bản giữa chúng
1.2.2.2 Tiêu chí và cách phân loại
Thứ nhất, dựa vào tính chất chủ quan để phân chia nghĩa tình thái
Trang 29thành các nhóm khác nhau
Tác giả Keith Mitchell quan niệm: “Lời nói tình thái là hành động ngôn
từ mà người nói quyết định tình huống nào sẽ đạt được hay xảy ra, và ngườinói kết luận việc gì là đúng hay sai Sự tập trung vào người nói, hay tính chủquan, trong mối quan hệ với người, địa điểm và thời gian, được phản ánhtrong trực chỉ (deixis)” [22; 55] Như vậy tác giả đã hướng tới tính chủ quan
là một trong hai đặc tính cơ bản của tình thái (nằm trong thế đối lập với tínhkhách quan) Theo tác giả, cơ sở cho kết luận nêu trên là do phương thức xácđịnh quy chiếu của trực chỉ được gọi là chỉ xuất có tính chủ quan Cùng trong
công trình nghiên cứu Modality in English: Theory and Description, Raphael
Sakie [22; 87] đề xuất 3 tiêu chí của tính chủ quan là: (1) cam kết của ngườinói; (2) quá trình sở dụng căn bản; (3) sự phân định rõ ràng giữa biểu hiệntình thái và nội dung mệnh đề
Các ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng đều gặp gỡ nhau tínhchủ quan thể hiện ở vai trò của người nói Để xác định tính chủ quan trongnghĩa tình thái của câu là phải nhận diện và xét từ góc độ người phát ra câu
đó Dấu hiệu ngôn ngữ để xác định là các từ thể hiện bản ngã cái tôi, cách
xưng hô tôi, tao, mày, đây, kia
Theo những tiêu chí nêu trên, nghĩa tình thái được phân làm 2 nhómlớn:
Nhóm nghĩa tình thái có tính chủ quan, gọi là nhóm chủ quan
Nhóm nghĩa tình thái không có tính chủ quan, gọi là nhóm nghĩa tìnhthái khách quan
Thứ hai, dựa trên cơ sở là mối quan hệ của đối tượng được nói đến với người nói để phân chia các tiểu nhóm nghĩa tình thái chủ quan
Dựa vào tiêu chí các đối tượng được nói có quan hệ với người nói là
tiêu chí thứ hai để chúng tôi chia tiểu nhóm ngữ tình thái chủ quan thành: tiểu
Trang 30nhóm quan hệ người nói đối với nội dung được nói đến trong câu và tiểu
nhóm biểu thị quan hệ trực tiếp giữa người nói và người nghe với nhau
Thứ ba, dựa vào kiểu quan hệ cụ thể để xác lập mối quan hệ giữa người nói đối với từng đối tượng để phân chia nghĩa tình thái
Với nội dung được đề cập, nói đến trong câu, người nói có thể đượcbộc lộ, nói ra những suy nghĩ, đánh giá của bản thân về nội dung mà họ nóiđến trong câu của mình Đó có thể là sự đánh giá, nhận định, thái độ, bộc lộtình cảm cảm xúc, thể hiện sự hiểu biết về đối tượng được nói đến trong câu.Chúng tôi sắp xếp chia nhóm nghĩa tình thái này gồm 3 loại: (1) nhóm nghĩatình thái nhận thức; (2) nhóm nghĩa tình thái đánh giá; (3) nhóm nghĩa tìnhthái đánh giá
Đối với người nghe - người tiếp nhận thông tin, người nói cũng có thểbộc lộ thái độ yêu ghét hay quý mến, cảm phục hay xem thường, kính trọnghay khinh bỉ… Nhóm nghĩa tình thái từ này được chia thành: (1) tiểu nhómnghĩa tình thái đạo nghĩa (tập trung vào nghĩa vụ hay sự cho phép); (2) tiểunhóm nghĩa tình thái thái độ (biểu thị tình cảm, thái độ với người nghe)
Thứ tư, dựa vào sự phân chia các sắc thái của mỗi loại nghĩa tình thái
(1) Tính khả năng và tính tất yếu/ bắt buộc, tính hiện thực và tính phihiện thực Tính “khả năng” phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của mộtđặc trưng nhất định ở đối tượng, tức đối tượng có thể mang đặc trưng đó ít
nhất trong một thế giới khả hữu nào đó Tính “tất yếu” phản ánh đặc trưng
được gán cho đối tượng ở mọi điều kiện, tức đối tượng mang đặc trưng đó ởmọi thế giới khả hữu Tính “bắt buộc” phản ánh đặc trưng xét về trách nhiệm
của tác thể hành động với gia đình, xã hội Mối quan hệ giữa tất yếu hay bắt
buộc và khả năng là tất cả những cái mang tính tất yếu/ bắt buộc đều mang tính khả năng nhưng những cái mang tính khả năng thì chưa chắc đã mang
tính tất yếu/ bắt buộc
Trang 31(2) Một số tiêu chí khác Để phân chia các sắc thái của nghĩa tình tháichủ quan và nghĩa tình thái cảm xúc và nghĩa tình thái thái độ có thể dựa vào
cơ sở cảm xúc và thái độ của người nói Đó là tính tích cực, tiêu cực hay
trung hòa Đối với nghĩa tình thái đánh giá thì tiêu chí phân loại đánh giá còn
là phương châm lượng và chất trong phát ngôn
Từ hoạt động tham khảo công trình “Nghĩa tình thái của câu tiếng Việt
trong các văn bản văn học giảng dạy ở nhà trường trung học phổ thông ” của
tác giả Nguyễn Thị Nhung (chủ nhiệm đề tài), chúng tôi tán thành sơ đồ phânloại nghĩa tình thái của câu trong tiếng Việt của các tác giả Bởi qua sự phântích trên, chúng tôi nhận thấy có nhiều điểm gặp gỡ Chúng tôi xin được sửdụng bảng thống kê phân loại này
Trang 32Sơ đồ phân loại nghĩa tình thái của câu trong tiếng Việt
“Chú thích sơ đồ: Ghi chú viết tắt: Sắc thái khả năng hiện thực: STKNHT;Sắc thái khả năng phi hiện thực: STKNPHT; Sắc thái tất yếu hiện thực:STTYHT; Sắc thái tất yếu phi hiện thực: STTYPHT; Sắc thái bắt buộc hiệnthực: STBBHT; Sắc thái bắt buộc phi hiện thực: STBBPHT; Sắc thái đánh
giá: STĐG, Sắc thái cảm xúc: STCX; Sắc thái thái độ: STTTĐ)” [19; 21]
1.2.2.3 Đặc điểm hệ thống nghĩa tình thái trong câu tiếng Việt
Nhóm nghĩa tình thái khách quan
Nhóm nghĩa tình thái chủ quan
Đặc điểm hai nhóm nghĩa tình thái trên chúng tôi xin phép chuyển sangchương 2 để miêu tả chi tiết hơn
1.3 Khái quát về truyện ngắn Nam Cao
Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc viết về đề tài người nôngdân Đọc truyện ngắn Nam Cao, người đọc như được tận mắt chứng kiếnnhững chuyện có thật trong xã hội đương thời Do mục đích và phạm vi của
đề tài nghiên cứu, chúng tôi tập trung trình bày đôi nét về truyện ngắn NamCao ở hai nội dung chính: về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật
1.3.1 Về giá trị nội dung
Nam Cao là tác giả thành công và trở thành nhà văn tiêu biểu độc đáo
ở mảng hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1940-1945 Đề tài ông hướngtới đó là đề tài người nông dân và đề tài người tri thức nghèo Trong đó, hai
đề tài trên hướng xung quanh trục cái đói miếng ăn làm thay đổi con người
Ở đề tài người nông dân, Nam Cao đã bày tỏ thái độ trân trọng, xótthương đối với những người nông dân nghèo Đồng thời, phản ánh được quátrình phá sản, bần cùng hóa của người nông dân
Ở đề tài người tri thức nghèo, Nam Cao đã viết về những bi kịch vỡmộng của người trí thức tiểu tư sản nghèo, là bi kịch “chết mòn” tinh thần,
Trang 33đồng thời cũng là những đấu tranh để tự vượt lên mình.
Nội dung truyện ngắn của Nam Cao là bức tranh sinh động về hình ảnh
xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Ở đó tập trung vàohai đề tài chính: người tri thức và người nông dân nghèo trong xã hội cũ
1.3.2 Về giá trị nghệ thuật
Truyện ngắn Nam Cao thành công rực rỡ trong giai đoạn trước Cáchmạng tháng Tám ở đề tài người nông dân Sự thành công của nhà văn NamCao được thể hiện ở nhiều yếu tố khác nhau Một trong những yếu tố làm nênthành công đó chính là nghệ thuật sử dụng ngôn từ của tác giả
Tác giả Nam Cao tài tình trong việc vận dụng vốn ngôn ngữ giàu có củamình để dẫn truyện, gợi truyện, kể truyện Trong cách miêu tả ngoại hình vàtâm lí nhân vật, ông trở thành một cây bút đại tài Ông đã vận dụng những từloại và các kiểu câu để kiến tạo lên những câu văn đi sâu vào lòng người
Nói về miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật thì Nam cao là một biệt tài.Truyện ngắn của ông xoay quanh cuộc đời số phận của rất ít nhân vật NhưngNam Cao không phát triển câu chuyện bằng những hành động sự kiện mà chủyếu theo mạch phát triển của tâm lí Có được sức mạnh đó là vì nhà văn hiểurất sâu đời sống nội tâm nhân vật, cùng suy nghĩ buồn vui với nhân vật Điềunày được thể hiện rõ qua các truyện “ Chí Phèo” ; “Lão Hạc” ; “Một bữano”…
Bên cạnh đó, ngôn ngữ trong truyện ngắn của tác giả Nam Cao còngiàu tính sáng tạo Điều đó cho thấy ngôn ngữ của ông rất đặc biệt Ông sửdụng cách nói và vốn từ rất tự nhiên, chân thực, không cầu kì sáo rỗng Đócũng là lý do mà sáng tác của ông gần gũi với tất cả những bạn đọc mọi lứatuổi, mọi thế hệ
Sự khác biệt của Nam Cao so với các tác giả khác còn ở cách sử dụngnhững đại từ nhân xưng để gọi tên và đặt tên cho nhân vật của mình Các đại
Trang 34từ: nó, hắn, y, thị, gã mà còn là khả năng hoá thân, nhập vai vào tất cả cácnhân vật, suy nghĩ và nói tiếng nói của nhân vật Đặc biệt, nhà văn còn sửdụng rất tự nhiên, nhuần nhuyễn những khẩu ngữ với sự điểm xuyết nhữngthành ngữ tục ngữ dân gian Đặc biệt, Nam Cao có điểm rất riêng trong cách
ví von so sánh
Độc đáo trong sáng tác nghệ thuật của Nam Còn còn thể hiện ở ngônngữ kể chuyện Có những đoạn văn miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ giốngnhư chính ngôn ngữ của nhân vật nói ra chứ không phải giọng kể của nhà văn
Ngoài ra những trang viết của Nam Cao độc đáo còn bởi giọng điệ u
kể, ý nghĩa tố cáo xã hội phong kiến thực dân, lòng thương cảm với nhândân… Tất cả những yếu tố trên đã làm nên một Nam Cao và hình ảnhngười nông dân do ông xây dựng sống mãi trong lòng bạn đọc
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 của luận văn, chúng tôi đã tập trung trình bày một sốnội dung chính như trình bày một số vấn đề lý thuyết về câu; ba bình diện kếthọc, nghĩa học và dụng học của câu Lý thuyết về thành phần tình thái của câutiếng Việt ở các nội dung quan niệm về thành phần tình thái; phân loại nghĩatình thái ở các tiêu chí khác nhau Trình bày đôi nét về giá trị nội dung và giátrị nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao Đây là những vấn đề nền tảng lý thuyết
cơ bản của để tài để chúng tôi triển khai khảo sát đặc điểm tình thái trong câutiếng Việt qua dữ liệu truyện ngắn Nam Cao ở chương 2 và chương 3
Trang 35Chương 2 THÀNH PHẦN TÌNH THÁI CỦA CÂU TIẾNG
VIỆT XÉT TRÊN BÌNH DIỆN KẾT HỌC VÀ NGHĨA HỌC
(QUA TRUYỆN NGẮN NAM CAO)
Quan điểm của các nhà nghiên cứu ngữ pháp chức năng đề gặp gỡ nhau
ở điểm câu trong ngôn ngữ học hiện đại cần được nghiên cứu trên 3 bình diện
Mô hình nghiên cứu này có nguồn gốc từ sự phân biệt 3 bình diện khác nhautrong lí thuyết kí hiệu học của Ch Morris và Pierce Khi nghiên cứu về câucần phân biệt trong mọi hệ thống kí hiệu học 3 lĩnh vực: Kết học, Nghĩa học
và Dụng học Mỗi lĩnh vực này có một vai trò khác nhau Điều đó có nghĩanghiên cứu các thành phần kiến tạo nên câu cũng có thể nghiên ứng dụng từ líthuyết ba bình diện này Từ lý thuyết này, chúng tôi tiến hành nghiên cứuthành phần tình thái của câu Tiếng Việt ở các bình diện: kết học, nghĩa học vàdụng học
2.1 Thành phần tình thái của câu tiếng Việt xét trên bình diện kết học
2.1.1 Các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái
Trong các nghiên cứu thành phần tình thái trong tiếng Việt, hầu như tất
cả các tác giả đều đồng quan điểm và thống nhất việc cả lớp thực từ và hư từđều đảm nhiệm, có khả năng trở thành bộ phận tình thái/ mang nghĩa tình tháitrong câu tiếng Việt
a Nhóm thực từ biểu thị ý nghĩa tình thái
Nhóm tình thái là động từ
Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất của sự vật sựviệc, con người Động từ thường giữ vai trò cấu tạo nên bộ phận nòng cốt cốtcâu là vị ngữ Động từ góp phần trả lời cho câu hỏi: ai? là gì? Làm gì? Nhưthế nào trong câu tiếng Việt 2 nhóm động từ này được phân chia theo tiêuchí: khả năng tự mình đảm nhiệm chức năng ngữ pháp trong câu
Nhóm động từ tình thái là loại động từ không độc lập biểu thị quan hệ
Trang 36chủ quan (ý muốn,ý chí, thái độ, sự đánh giá) của người nói với nội dung củacâu nói hoặc với hiện thực khách quan chuyên đi kèm với động từ chính,thường đứng trước động từ chính để tạo thành cụm động từ, tạo nên sắc thái
cho cụm động từ như: dám, toan, định, nên, cần, phải
Ví dụ:
(1) “Thấy hắn toan làm dữ, cụ lại dịu giọng bảo”
=> “toan” tạo tình thái thể hiện ý định làm nghiêm trọng hơn sự việccủa Chí Phèo qua nhận định của Bá Kiến
Nhóm động từ chính không mang nghĩa tình thái Nhóm động từ nàymang những đặc trưng chính của từ loại này Là một trong những thực từ(động từ và tính từ” tạo nên ý nghĩa cho thành phần vị ngữ
Ví dụ:
(2) “Thị nghe thấy thế mà lộn ruột”… “Thị tức lắm.” (Chí Phèo)
=> “nghe”, “lộn” là những từ diễn tả trạng thái tâm lí đang diễn ra tronglòng Thị Nở khi nhìn nhìn thấy Chí Phèo sau khi có sự tác động của bà cô ThịNở
Trong thực tiễn sử dụng động từ để tạo thành câu tiếng Việt, có nhữngđộng từ mang ý nghĩa tình thái chính danh (bản thân nó đã mang ý nghĩa tìnhthái), cũng có những động từ do hoàn cảnh sử dụng mà có ý tình thái lâmthời Cụ thể như sau:
Nhóm động từ tình thái chính danh mang nghĩa tình thái Đây là nhóm
động từ trực tiếp mang ý nghĩa tình thái trong nội dung mà từ biểu thị Người
ta thường gọi nhóm này là nhóm động từ tình thái
Xét ở mặt ngữ nghĩa, nhóm động từ tình thái chiếm vị trí không nhỏtrong việc tạo nên bộ phận tình thái trong câu tiếng Việt Nghĩa của nó biểuthị sự đánh giá, thái độ nhận xét, cảm nhận, tình cảm và cảm xúc của ngườinói đối với sự tình trong câu hoặc đối với người nghe
Trang 37Ví dụ:
(3) “- Đây này! Tôi cho nhà chị vay bao giờ kiếm được thì trả cho tôi;
chúng nó giàu mà coi đồng xu bằng cái mẹt!” (Dì Hảo)
=> Động từ “cho” trong cụm từ “cho nhà chị vay” thể hiện thái độ thânthiện, hòa nhà, sẵn lòng giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn như “bà tôi”
mà không có ý định gì khác
Xét về mặt ngữ pháp, các động từ tình thái không đứng độc lập mộtmình mà thường kết hợp với các từ đồng loại để thành cụm động từ Động từtình thái thường đứng trước động từ chính, làm vị ngữ cho câu Có nhữngtrường hợp, cụm động từ có chứa động từ tình thái vẫn đứng đầu câu đảmnhiệm chức vụ chủ ngữ
Ví dụ:
(4) “Sự đời không thể cứ mù tịt mãi thế này đâu Tương lai phải sáng sủa
hơn Một rạng đông đã ló rồi ” (Điếu văn)
=> “Không thể”, “phải” thể hiện niềm tin của nhân vật tôi vào tương laitốt đẹp hơn khi nghĩ đến việc sẽ thay người bạn xấu số lo cho hai đứa con củangười bạn có một tương lại tốt đẹp Sự phủ định ở câu trước và khẳng định ởcâu sau như một niềm tin chắc chắn vào những điều tốt sẽ đến
Dựa vào nội dung mà động từ tình thái biểu thị, có thể chia động từ tìnhthái thành một số nhóm chính như sau: có thể phân biệt động từ tình tháithành các nhóm sau
+ Động từ biểu thị sự đánh giá về mức độ cần thiết: nên, cần, cần phải,
phải
+ Động từ biểu thị ý chí, ý muốn : toan, dám, định, nỡ, đành, thôi
+ Nhóm động từ tình thái chỉ khả năng như: có thể, không thể, có khả
năng, không có khả năng…
Ví dụ:
Trang 38“Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể
được” (Chí Phèo)
+ Nhóm động từ tình thái chỉ sự bị động: được, bị, chịu, phải chịu, ráng
chịu, chấp nhận, đã đành…
Ví dụ:
(5) “Đội Tảo không cần kín đáo, nói toang toang ngay ngoài chợ, trước
mặt bao nhiêu người: “Thằng bố chết, thằng con lớp này không khỏi bị
người ta cho ăn bùn””
+ Nhóm động từ chỉ sự quyết tâm, ý chí, sự cố gắng, khuyên nhủ, bày
tỏ nguyện vọng: muốn, dám, đành, cố, mong…
Ví dụ:
(6) “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người
biết bao!” (Chí Phèo)
Nhóm động từ mang nghĩa tình thái lâm thời Đây là nhóm động từ vốn
có nội dung biểu thị không mang ý nghĩa tình thái nhưng trong những tìnhhuống giao tiếp, ngữ cảnh nhất định chúng lại là những từ thể hiện sự đánhgiá, nhận xét và thái độ đối của người nói đối với nghĩa sự tình nói đến trongcâu, đối với người nghe
Nhóm động từ mang ý nghĩa tình thái lâm thời chủ yếu là nhóm động
từ chỉ thị giác, động từ thể hiện tình cảm, cảm nghĩ, ứng xử trong nói năng,nội dung cầu khiến, bày tỏ ý nguyện… Nhóm tình động từ tình thái lâm thờinày thường đứng trước lòng cốt câu Nếu trường hợp đứng trong câu thì nómang ý nghĩa là sự đánh giá của người nói đối với nội dung được nói đếntrong câu chứ không thể hiện ý nghĩa cho chủ ngữ của câu Ở vị trí đầu câu, ýnghĩa tình thái được nhấn mạnh hơn những vị trí khác
Ví dụ:
(7) “Trông từ có vẻ mệt mỏi” (Đời thừa)
Trang 39(8) “Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai hay biết hắn là ai”
(Chí Phèo)
Các động từ: cảm phiền, làm ơn, phiền, xin phiền, nhờ, giúp, xin nhờ,
xin giúp… thể hiện sắp thái cầu khiến.
Ví dụ:
(9) “… Hắn lễ phép đưa căn cước và tấm bưu phiếu cho người thư ký:
- Thưa ông, ông làm ơn…” (Nước mắt)
Trong hoàn cảnh ở nhà dây thép tỉnh Điền phải đợi quá lâu, người lĩnhtiền, gủi tiền đông chen chúc Ai ai cũng chen lấn lên lấy tranh phần được giảiquyết công việc sớm theo ý nguyện của mình Khi chen được đến nơi, Điềnnói “làm ơn” vừa thể hiên thái độ lịch sự lễ phép của người có ăn học vừa thểhiện cầu khiến biết ơn, nhờ cán bộ sớm giải quyết vấn đề của mình
Nhóm từ hết, thôi, còn… thể hiện trạng thái, sự tồn tại khi chuyển sang
ý nghĩa tình thái lâm thời sẽ không đứng sau chủ ngữ và không còn nắm giữa
vị trí chủ chốt, trung tâm vị ngữ nữa Thông thường, chúng trong vai trò củathành phần biệt lập, được thêm vào câu để biểu thị ý nghĩa tình thái
Ví dụ:
(10) - “Hắn tưởng chỉ có hắn mới kêu làng thôi…” (Chí Phèo)
Từ “thôi” thường kết hợp với trợ từ “chỉ” để nhấn mạnh sắc thái về sựhạn chế ở mức thấp nhất (theo đánh giá của người nói)
Ngoài ra, còn có các động từ thể hiện cảm nghĩ, nói năng, cảm xúc
cũng thường xuyên xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hàng ngày như: nghe,
nghe nói, nói, nghĩ, của đáng tội … Các động từ: chực, muốn, thích… mang ý
nghĩa tình thái chỉ ý nguyện
Nhóm tình thái là danh từ chuyển hóa thành
Về bản chất, những danh từ không mang ý nghĩa tình thái Tuy nhiên,trong những ngữ cảnh nhất định, loại từ này lại mang ý nghĩa tình thái lâm
Trang 40thời
Nhóm từ: quái, quỷ, quái quỷ, khỉ, bố khỉ, khỉ, khỉ đột, mẹ, cha, ông…
bao hàm tình thái tiêu cực
Ví dụ:
(11) - “Đồ đạc có gì mà dọn? Chỉ có mỗi cái giường này, cứ quăng bố nó
ra ngoài kia cho tôi, rồi dỡ đi” (Mua nhà)
Từ “bố nó” thể hiện thái độ cáu kỉnh, khó chịu, mệt mỏi và có phầnbuông bỏ và bất lực của Hắn - nhân vật bán nhà Sở dĩ, hắn có thái độ như vậybởi hắn đang cay cú vì thua bạc, tiếc nhà và thương con Đó là tâm trạng cùncủa kẻ cờ bạc, bất lực, bất cần và liều lĩnh vì hắn u mê với kiếp đỏ đen màthành ra cửa nhà mất hết,bán nhà đi chỉ vì muốn gỡ lại những đồng tiền đãmất
Nhóm tình thái là tính từ
Nhóm tính từ chuyển sang thành tình thái từ không nhiều trong tiếng
Việt Một số tính từ như: gắt, xấu, chán… có thể chuyển sang thành tình thái
Nhóm tình thái là đại từ nhân xưng
Trong tiếng Việt có nhiều đại từ nhân xưng chính danh và lâm thờimang nhiều ý nghĩa tình thái khác nhau Nó có thể là thể hiện thái độ kínhtrọng, lễ phép nhưng cũng có thể là thái độ khinh bỉ, miệt thị ruồng rẫy; hoặccũng có thể là thái độ thân mật, hòa nhã, vui vẻ… Tùy vào tình huống, nội