Chính trị 1 Bộ máy nhà nước Nhà nước của người Frăng bắt đầu thành lập sau khi chinh phục xứ Gôlơ Dưới thời Mêrôvanhgiêng, bộ máy nhà nước còn thô sơ Đứng đầu là vua, dưới là các quan lại cao cấp phụ.
Trang 1Chính trị:
1 Bộ máy nhà nước
Nhà nước của người Frăng bắt đầu thành lập sau khi chinh phục xứ Gôlơ
Dưới thời Mêrôvanhgiêng, bộ máy nhà nước còn thô sơ Đứng đầu là vua, dưới
là các quan lại cao cấp phụ trách các việc như hành chính, quân sự, văn thư nhưng sự phân công ấy chưa thật sự rõ ràng và cố định Ngoài ra còn có những viên quan quản lí trông coi các trang viên của nhà vua ( ngang hàng với một số
bá tước )
Đến thời Carôlanhgiêng ( nhất là thời Sáclơmanhơ ), bộ máy nhà nước của vương quốc Frăng ngày càng hoàn chỉnh Đứng đầu là vua, dưới là các chức Thừa tướng, tổng giám ngục và đại thần cung đình Thừa tướng giữ chức vụ bí thư và Chương ấn của nhà vua Tổng giám ngục quán lí các giáo sĩ trong cả nước Đại thần cung đình quản lí các công việc hành chính của triều đình Chức
tể tướng đến thơi kì này bị bãi bỏ Dưới các quan triều đình là các Thống chế, quan Chánh án
Cả nước chia thành nhiều đơn vị hành chính địa phương do quan Bá tước đứng đầu ( khu quản hạt Bá tước ) Đến đầu thế kỉ IX , cả vương quốc chia thành 98 khu như vậy Các bá tước có toàn quyền về hành chính, tư pháp, tài chính, quân
sự trong khu địa hạt của mình Chức vụ này được cha truyền con nối
Ở các vùng biên giới, triều Carôlanhgiêng thành lập những đơn vị hành chính đặt biệt gọi là biên chính Đứng đầu có thể là một Bá tước hoặc Hầu tước hoặc Công tước
Để quản lí địa phương, vua thường cử những đoàn khâm sai, mối đoàn thường gồm 2 người về các nơi để kiểm tra thực hiện sắc lệnh của nhà vua, xử lí các hành vi lạm dụng quyền hành của các quan lại địa phương, giải quyết các vụ khiếu tố của nhân dân
Trang 2Về tư pháp, ở trung ương có tòa án của nhà vua Các quan từ Chánh an đến Bồi thẩm đều do vua chỉ định Ở địa phương, do tàn dư của xã hội thị tộc còn tồn tại nên nhân dân được tham gia bồi thẩm và được cử những đại diện của mình làm thẩm phán Nhưng về sau, quyền tư pháp hoàn toàn thuộc về Bá tước
Để bảo vệ an ninh cả nước, hay gây chiến tranh chinh phục bên ngoài, vương quốc Frăng luôn luôn chú ý xây dựng đội thân binh của nhà vua, mỗi khi có chiến tranh tất cả mọi người dân tự do Frăng đều là chiến sĩ Nhưng về sau, do đời sống nông nghiệp, định cư, đa số nông dân không muốn rời xa ruộng đất, gia đình nên giờ đây đội thân binh của nhà vua là lực lượng quân sự chủ yếu
Sau cải cách của Sáclơ, và nhất là đến thời Sáclơmanhơ, đại đa số nông dân đã mất ruộng đất và bị biến thành dân lệ thuộc Tầng lớp khá giả bao gồm địa chủ lớp dưới và 1 số ít nông dân giàu có là lực luọng cơ bản trong quân đội Thời Carôlanhgiêng, lực lượng quân sự chia thành 2 bộ phận là đội quân chuyên nghiệp ( thường xuyên có mặt trong doanh trại nhất là ở các biên trấn) và các bồi thần được phong đất cùng đội kị binh của họ ( chỉ tập hợp khi có chiến tranh)
Như vậy, đến thời Carôlanhgiêng, bộ máy nhà nước gồm chính quyền, toà án và quân đội Bằng các biện pháp tập trung mọi quyền hành về hành chính, tư pháp, tài chính, quân sự vào tay mình và việc bản thân mình được tôn làm hoàng đế, Sáclơmanhơ đã xây dựng Frăng thành 1 nước quân chủ tập quyền trung ương Tuy nhiên do chính sách phân phong ruộng đất và nhất là do đất phong được cha truyền con nối, thế lực của các lãnh chúa không ngừng phát triển Từ thời Mêrôlanhgiêng, họ được vua ban cho quyền bất khả xâm phạm Đến thời Carôlanhgiêng, điều này càng phổ biến và vua không thể ngăn chặn Đó chính là tiền đề của tình trạng chia cắt đất nước thành những tiểu quốc độc lập diễn ra trong thế kỉ X sắp tới
2 Ảnh hưởng của thành thị đối với chế độ phong kiến
Trang 3Thứ nhất, sự phát triển của nền kinh tế hành hóa đã làm tan rã nhanh chóng nền kinh tế tự nhiên Trong việc sản xuất thủ công, thành thị cần phải có những nguyên liệu như nho, lông cừu mà những thứ đó thành thị dựa vào sự cung cấp của nông thôn nên đã tạo nên mối liên hệ kinh tế chặt chẽ giữa thành thị vfa nông thôn cũng như lôi kéo nhiều trang viên phong kiến vfao sản xuất hàng hóa Như vậy, nền kinh tế tự cung tự cấp dần thu hẹp và đặc trưng cơ bản của nền phong kiến phương Tây bắt đầu thay đổi
Thứ hai, sự phát triển của phong kiến hành hóa đã góp phần làm tan rã chế độ nông nô Do hàng hóa ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường, trong đó có 1 phần do thành thị sản xuất và 1 phần từ phương Đông đến và nhu cầu của giai cấp phong kiến ngày càng tăng Để có tiền mua hàng hóa, các lãnh chúa đã dùng
tô tiền thay thế cho tô lao dịch và tô sản phẩm đẫn đến tô tiền ngày càng phổ biến Có nhiều lãnh chúa cho phép nông nô dùng tiền để chuộc lại tự do và sau
đó họ sẽ thoát khỏi số phận nông nô Chế độ nông nô dần lỏng lẻo và phá hoại
từ từ chế độ phong kiến
Thứ ba, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa làm cho mối quan hệ kinh tế giữa các địa phương ngày càng chặt chẽ, tạo điều kiện cho việc hình thành những quốc gia thống nhất Ngoài ra thị dân còn ủng hộ nhà vua đấu tranh với các thế lực phong kiến cát cứ để thống nhất đất nước và xây dựng bộ máy trung ương tập quyền
Thứ tư, Thành thị ra đời , thúc đẩy sự phát triển của văn hóa và giáo dục
Thành thị không những đóng vai trò quan trọng về hoạt động công thương nghiệp, tham gia tích cực vào đời sống chính trị của xã hội phong kiến, thúc đẩy
sự phát triển của nền văn hóa giáo dục mà còn có tác động lớn đến nông thôn phong kiến Như vậy, thành thị trung đại tuy còn nằm trong khuôn khổ của chế
độ phong kiến, nhưng nó đã phát huy tác dụng đối với chế độ phong kiến, thúc đẩy chế độ phong kiến phát triển
Trang 43 Những tiền đề của sự ra đời của chủ ngĩa tư bản
3.1 Sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật dẫn tới sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa
Cho đến thế kỉ XVI, lao động thủ công vẫn là cơ sở của việc sản xuất nhưng trong thủ công nghiệp đã có nhiều phát minh, cải tiến quan trọng, thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh chóng
Lúc bấy giờ, sức nước là một nguồn năng lượng rất quan trọng, nên sự cải tiến guồng đã có ảnh hưởng đến nhiều nghề sản xuất Đến cuối thế kỉ XIV, guồng nước đã được hoàn thiện Guồng nước cải tiến không càn đặt trên mặt sông mà
có thể đặt bất cứ nơi nào tiện cho việc lập các cơ sở sản xuất Chỉ cần một kênh nhỏ dẫn nước từ trên cao đổ vào máng của guồng là có thể guồng quay với tốc
độ nhanh Việc sử dụng rộng rãi năng lượng nước dần thay thế sức người, sức súc vật trong sản xuất
Trong nghề dệt len dạ, các khâu đều có sự cải tiến lớn Từ thế kỉ XIII, chiếc xa quay sợi bằng tay đã được phát minh thay thế cho hòn chỉ xe chỉ thô sơ Đến cuối thế kỉ XV, người ta lại phát minh ra máy quay sợi có bàn đạp.trong khâu dệt, chiếc khung gửi nằm ngang thay thế cho khung cửi dựng đứng Trong khâu nhuộm, ngoài chàm người ta còn sử dụng nguyên liệu đến từ phương Đông, do
đó màu sắc hàng dệt phong phú và đẹp Điều này không những giúp năng suất lao động tăng cao mà còn tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng
Nghề khai mỏ, trước kia người ta chỉ mới khai thác được những mỏ lộ thiên, nay nhờ sử dụng các loại máy chuyển động bằng sức nước, sức gió đã có thể khai thác những hầm lò tương đối sâu Việc nghiền, rửa quặng cũng được cơ giới hóa
Trước kia, quặng chỉ được nấu trong những lò thấp và hở, nhưng vào thế kỉ XIV, bắt đầu xuất hiện những lò cao xây bằng gạch hoặc đá và nhờ sử dụng quạt
Trang 5gió chạy bằng sức nước làm nhiệt độ trong lò tăng nên đã luyện ra loại gang tốt hơn
Đồng thời các ngành công nghiệp phục vụ sự nghiệp văn hóa cũng phát triển Ví
dụ như nghề làm giấy, nghề in
Những biến đổi mới về công nghệ đã có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển nông nghiệp Chính sự tiến bộ của luyện kim và rèn sắt đã cung cấp cho nông nghiệp nhiều loại công cụ hoàn thiện Vì thế diện tích canh tác cũng được mở rộng Nhờ công cụ hoàn thiện và phân bón nên năng suất cây trồng được tăng lên
Sự phát triển của công nông nghiệp và sự phân công lao động giữa các ngành nghề đã thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Những hình thức mới của sự lưu thông như giao dịch, ngân hàng ra đời càng làm cho nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ
3.2.Sự tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản
Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa là điều kiện cơ bản dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Nhưng chỉ kinh tế kinh tế hàng hóa thì chưa đủ mà cần có 1 quá trình chuẩn bị gọi là quá trình tích lũy ban đầu
Đây là quá trình tập trung vốn vào tay 1 số ít người và cũng là quá trình tước đoạt tư liệu sản xuất của quần chúng lao động mà chủ yếu là nông dân nhằm biến họ thành người làm thuê
Quá trình được thực hiện bằng các biện pháp: cướp ruộng đất của nông dân, tăng thuế, ban hành quốc trái trong đó 2 biện pháp trắng trợn nhất, tàn bạo nhất
mà Mác chú ý là phong trào rào đất ở Anh và việc cướp bóc thuộc địa
Bị mất ruộng đất, nhà cửa phần đông nông dân trở thành những người thang lang, kẻ ăn xin, kẻ cướp để biến những người vô sản này thành những người làm thuê cho các chủ xưởng, các nước Tây Âu đã ban hành những đạo luật chống những người đi thang lang
Trang 6Một biện pháp cực kì tàn bạo khác là cướp bóc tài nguyên và kể cả bản thân con người ở những vùng mới phát hiện Sau các cuộc phát kiến địa lí, các nước Tây
Âu đua nhau đi kiếm thuộc địa và thị trường
Trong hai biện pháp thì kết quả của biện pháp 1 là tạo nên tầng lớp vô sản làm thuê cho tư bản còn biện pháp 2 là tích lũy tiền vốn một cách nhanh chóng Như vậy, bằng bất cứ biện pháp nào, quá trình tích lũy cũng được thực hiện với
sự phá phách tàn nhẫn nhất và dưới sự thúc đẩy của những dục vọng thấp hèn nhất, bẩn thỉu nhất, nhỏ nhen nhất và đáng ghét nhất