(Microsoft Word \320? t\340i docx) 1 ����� ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Đề tài “Bàn về mối quan hệ giữa xây dựng, mối quan hệ độc lập tự chủ và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay ” LUAN VAN CH[.]
Trang 1- -
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
mối quan hệ độc lập tự chủ và quá trình hội
Trang 2
Đề cương chi tiết
I Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
và hội nhập kinh tế quốc tế
1 Những quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ
2 Những quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế
2.1 Thế nào là hội nhập kinh tế quốc tế
2.2 Các quan điểm và nguyên tắc của Đảng ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
II Thực trạng về mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
1 Những yếu tố khách quan và chủ quan hình thành quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
2 Con đường hội nhập kinh tế ở Việt Nam và các thành công bước đầu
2.1 Các bước đi cuả nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
2.2 Những thành công bước đầu của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 33 Những thuận lợi, khó khăn và yếu kém còn tồn tại ở nước ta khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh
3.3 Những yếu kém và tồn tại cần giải quyết trong thời gian tới
III Những giải pháp để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế
1 Các giải pháp tăng cường khả năng hội nhập kinh tế quốc tế
1.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý theo thông lệ quốc tế
1.2 Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế ở cấp độ vĩ mô
1.3 Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế ở cấp độ doanh nghiệp
1.4 Cần có bước đột phá và tạo lợi thế so sánh trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế
2 Điều kiện và giải pháp chủ yếu để bảo đảm tự chủ về kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 5đã đưa ra một quan niệm đầy đủ nhất, đúng đắn nhất về việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế : “ Nền kinh tế độc lập tự chủ trước hết là độc lập tự chủ về đường lối chính trị, phương hướng phát triển, chính sách thể chế, quy mô phát triển kinh tế Đồng thời có tiềm lực đủ mạnh, có mức tích luỹ cao từ nội
bộ nền kinh tế, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh cả ở trong và ngoài nước, có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, giữ vững
ổn định kinh tế về khoa học và công nghệ, giữ vững ổn định kinh tế-tài chính vĩ mô, có lực lượng vật chất đảm bảo an toàn và điều kiện cơ bản cho cuộc sống xã hội và phát triển kinh tế như an ninh lương thực, an toàn năng lượng, an toàn tài chính, an toàn môi trường,xây dựng cơ sở
hạ tầng ngày càng hiện đại và một số ngành công nghiệp then chốt đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng không ngừng trên cơ sở kĩ thuật ngày càng cao…”<13.37>
Trang 6Quả thật, Độc lập tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cỏ bản để củng cố và duy trì độc lập tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập tự chủ của quốc gia Ta phải khẳng định rằng không thể có độc lập về chính trị khi bị lệ thuộc vào kinh tế Điều đó càng có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta, một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện tình hình thế giới diễn biến phức tạp và biến cố không lường
Trong xu thế toàn cầu diễn ra rộng khắp, và các nước đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế thì sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh
tế ngày càng tăng do đó các nước ngày càng phải chú trọng đến khả năng độc lập tự chủ về kinh tế nhằm đảm bảo chính đáng lợi ích quốc gia, dân tộc mình trong cuộc cạnh tranh kinh tế gay gắt và để xây dựng cho mình một vị thế chính trị nhất định trên trường quốc tế
Độc lập tự chủ về kinh tế phải đăt trong mối quan hệ biện chứng với độc lập tự chủ về chính trị và các mặt khác để tạo thành sức mạnh tổng hợp và độc lập tự chủ của một quốc gia
“Một nền kinh tế độc lập tự chủ phải là một nền kinh tế phát triển toàn diện, có khả năng tự thoả mãn những nhu cầu mọi mật của dời sống xã hội, của an ninh, quốc phòng và quá trình tái sản xuất, không bị
lệ thuộcvào nước ngoài cả từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, để
có thể vận hành một cách bình thường và đảm bảo được nền tảng cho việc duy trì an ninh quốc gia.” <12.27>
Một sự tự chủ về kinh tế củng có nghĩa là nền kinh tế đó cũng có khả năng thích ứng cao với những biến động của tình hình quốc tế (như những trấn động thị trường của khủng hoảng kinh tế tài chính ở bên ngoài) và rất ít bị tổn thương trước những biến động đó, trong bất kỳ tình huống nào nó cũng có thể cho phép duy trì được các hoạt động
Trang 7bình thường của xã hội và phục vụ đắc lực cho các mục tiêu như an ninh, quốc phòng của đất nước
Một sự tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là trước sự bao vây, cô lập, chống phá về kinh tế, chính trị của các thế lực thù địch bễn trong và bên ngoài đất nước cũng không bị đổ vỡ về chính trị và kinh tế Như vậy độc lập về kinh tế cũng có nghĩa đảm bảo vững chắc cho định hướng xã hội chủ nghĩa theo đường lối, chủ trương mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn
“Khác hẳn trước đây, khi nói đến độc lập tự chủ của nhiều kinh tế khép kín, tự cung tự cấp ít giao lưu với thị trường quốc tế Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế độc lập tự chủ phải là độc lập tự chủ trong phát triển nền kinh tế thị trường
mở cửa, hội nhập thế giới, chủ động tích cực tham gia sự giao lưu, hợp tác phân công lao động quốc tế và trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực
và lợi thế so sánh của quốc gia để hợp tác và cạnh tranh có hiệu quả trên trường quốc tế.” <3.7>
Nền kinh tế ấy cũng đáp ứng được cơ bản những nhu cầu thiết yếu của phát triển kinh tế, nâng cao dời sống nhân dân, tăng cường quốc phòng và an ninh, chủ động hôi nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới
Về mức độ, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là một quá trình
từ thấp đến cao Độc lập tự chủ kinh tế ở mức độ cao phải đạt được đầy
đủ những yêu cầu, nội dung nêu trên và những điều kiện cụ thể nêu ở phần dưới Đồng thời phải có mức độ tối thiểu cần thiết, cơ bản đảm bảo được sự ổn định kinh tế xã hội và ứng phó được với mọi bất trắc xảy ra, đảm bảo sự độc lập tự chủ về đường lối, chính sách phát triển của nền kinh tế
Trang 82 Những quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế:
2.1.Thế nào là hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường đổi mới được bắt đầu từ đại hội VI của Đảng, đã chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thi trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội Đảng VII chủ trương thực hiện đa phương hoá quan hệ quốc tế, mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế dối ngoại Khẳng định sự đúng đắn của đường lối đó, Đại hội VIII đã tiếp tục chủ trương : “Thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ , mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới; phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” và “chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một cách chọn lọc với bước đi thích hợp” <9.12>
Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển như vũ bão, trình độ quốc tế hoá sản xuất và đời sống nhân loại đang tăng lên mạnh mẽ, Đại hội IX của Đảng đã đưa ra quan điểm hội nhập kinh tế khác hẳn tình trạng bị bao vây, cô lập, đóng cửa
“Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình mở rộng, giao lưu kinh tế và khoa học công nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu; là quá trình tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội có tính chất toàn cầu như vấn dề dân số, tài nguyên, thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống… là quá trình loại bỏ dần các hàng rào thuế quan trong thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và viêc di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước” <13.38>
Đảng ta cũng khẳng định: “Chủ động hôi nhập kinh tế là hành vi
có ý thức, tự giác của các quốc gia, doanh nghiệp trong việc xây dựng
Trang 9và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược đầu tư, sản xuất kinh doanh trên cơ sở lộ trình, hình thức và bước đi đã lựa chọn nhằm phát huy có hiệu quả những lợi thế của đất nước và tránh được những tác động tiêu cực vào đất nước trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế của quốc gia trong khu vưc và trên thế giới.” <13.38>
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cũng chính là quốc tế xúc tiến, chuẩn bị tốt các điều kiện và đẩy nhanh các cuộc đàm phán song phương, đa phương để quốc gia ra nhập có hiệu quả vào các liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu
2.2.Các quan điểm và nguyên tắc của Đảng ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
Quán triệt chủ trương được xác định tại Đại hội IX là:“Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiều quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giử gìn bản sắc văn hoá dân tộc,bảo vệ môi trường” <15.120>
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong quốc tế hội nhập cần phát huy tiềm năng và nguồn lực các thành phần kinh tế của xã hội trong đó kinh tế nhà nước năm vai trò chủ đạo
“Hội nhập kinh tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập kinh
tế tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp và thời diểm cụ thể, đồng thời vừa phải đề phồng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng đơn giản, nôn nóng.” <6.59>
Nhận thức đầy đủ đăc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất
Trang 10nước, vừ đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước
ta tham gia; tranh thủ những ưu đãi giành cho các nước đang phát triển
và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường
Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững ổn định chích trị, an ninh quốc gia, quốc phòng; thông qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập kinh tế để thực hiện diễn biến hoà với nước ta
II Thực trạng về mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
1 Những yếu tố khách quan và chủ quan hình thành quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế được đề ra trong hoàn cảnh thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp khó lường trước được và có những đặc điểm sau:
Trong hơn thập kỉ qua, kinh tế thế giới nhìn chung phát triển không đồng đều.Trên thế giới đã xảy ra những cuôc khủng hoảng lớn, sâu rông hơn cả cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính xảy ra vào năm 1997.Vì thế các nứoc và các khu vực thay đổi theo:
Kinh tế Mỹ phát triển nhanh và ổn định liên tục trong nhiều năm
và đến năm 2002 bắt đầu suy giảm; kinh tế Tây Âu không còn phát triển nhanh như các thập kỷ trước; kinh tế Nhật suy thoái chưa có lối ra;
các nước thuộc Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài, vài năm gần đây tăng trưởng tương đối khá;
kinh tế Trung Quốc phát triển ngoại mục; Đông Nam Á và Đông Á phát triển nhanh vào bậc nhất thế giới trong những thập kỹ trước, tuy nhiên
Trang 11vừa qua đã rơi vào suy thoái và nay đang hồi phục; Nam Á và nhất là Châu Phi vẫn chưa thoát khỏi tình trạng trì trệ kéo dài; kinh tế Mỹ Latinh còn khá hơn song vẫn chưa ổn định
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão Nó đang tác động đến tất cả các nước trên thế giới với những mức độ khác nhau, đưa lại những thành quả cực kỳ to lớn cho nhân loại và những hậu quả xã hội hết sức sâu sắc Công nghệ thông tin đang là nhân lõi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nó phản ánh giai đoạn mới về chất của sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm Công nghệ sinh học là bước đột phá vào thế giới đầy bí hiểm cuả cuộc sống, tạo ra một tiềm năng to lớn cho việc sản xuất ra các vật phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các vật liệu công nghiệp thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người
Công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ… mở ra một tiềm năng mới cho loài người chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ Tự động hoá trong sản xuất ngày càng giải phóng con người khỏi nhưng công viêc nặng nhọc, nguy hiểm, tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ xã hội
Xu thế toàn cầu hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng đến cơ
sở của tất cả các đân tộc trên thế giới Ngày nay các nền kinh tế của các quốc gia gắn bó hữu cơ với nhau, tuỳ thuộc vào nhau Tính thẩm thấu lẫn nhau của các nền kinh tế ra tăng Nền sản xuất thế giới mang tính toàn cầu Phân công lao động thế giới ngày càng cao Phương châm kinh doanh là lấy thế giới làm máy của mình, lấy các nước làm phân xưởng của mình, qua đó phân công lao động quốc tế có thể lợi dụng ưu thế kỹ thuật, tiền vốn sức lao động và thị trường của các nước, thúc đẩy
Trang 12quá trình quốc tế hoá sản xuất phát triển nhanh chóng Trong quá tình toàn cầu hoá, khu vực hoá, nổi lên xu hướng liên kết kinh tế dẫn đến sự
ra đời rồi hợp nhất của nhiều tổ chức kinh tế và thương mại, tài chính quốc tế và khu vực như : tổ chức thương mại quốc tế WTO, quỹ tiền tệ thương mại quốc tế IMF, ngân hàng thế giới WB, liên minh Châu Âu
EU, khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ NAFTA
Hiện nay các nước lớn, nhỏ đều dành ưu tiên cho phát triển kinh
tế, theo đuổi chính sách kinh tế mở Ngay những nước có tiềm năng, thị trường lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ… và cả một số nước vốn khép kín, theo mô hình tự cung tự cấp cũng dần mở cửa từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, khu vực
Mặt khác cộng đồng thế giới đang đứng trước những vấn đề mà không một quốc gia riêng lẽ nào có thẻ tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương như: bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân số, đẩy lùi bệnh dịch hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế…
Tuy nhiên trong xu thế đó các nước công nghiệp phát triển, đứng đầu là Mỹ, do có ưu thế về thị trường nắm được tiến bộ khoa học công nghệ, có nền kinh tế phát triển cao đã ra sức thao túng chi phối thị trường thế giới, áp đặt điều kiện với các nước chậm phát triển hơn, thậm chí dùng nhiều biện pháp thô bạo như bao vây, trừng phạt, làm thiệt hại lớn đến lợi ích các nước đang phát triển và chậm phát triển
Trước tình hình đó các nước đang phát triển từng bước tập hợp lại, đấu tranh chống chính sách cường quyền áp đặt của Mỹ để bảo vệ lợi ích của mình về một trật tự kinh tế bình đẳng và công bằng
Ở khu vực Đông Nam Á đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc Mặc
dù trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính trầm trọng trọng trong thời gian qua (1997 – 1998) song vẫn là khu vực có nhiều tiềm năng
Trang 13cho vị trí và địa lý kinh tế của mình, dung lượng thị trường lớn, tài nguyên phong phú, lao động rồi rào được đào tạo tốt, có quan hệ quốc
tế rộng rãi
Toàn bộ tình hình trên đã đem lại nhiều thuận lợi, đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức gay gắt với nước ta trong quá trình phát triển đất nước nói chung và quá trình hội nhập kinh tế nói riêng
Như vậy cùng với tình hình thế giới và khu vực hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu, là yêu cầu khách quan của Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay
2 Con đường hội nhập kinh tế ở Việt Nam và các thành công bước đầu
2.1 Các bước đi cuả nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
họ đưa ra vi phạm chủ quyền và lợi ích của ta nên đã bị ta bác bỏ
Ngày 25/7/1995 nước ta chính thức ra nhập ASEAN, đồng thời tham ra khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), cam kết thực hiện trương trình ưu đãi thế quan có hiệu lực chung (CEPT), loại bỏ hàng rào phi thuế quan và cắt giảm thuế quan xuống 0-5% vào năm 2006 với
Trang 14các thành viên ASEAN Ngoài ra chúng ta còn tham ra đàm phán hiệp định thương mại dịch vụ, tham ra trương trình hợp tác công nghiệp AICO và khu vực đầu tư ASEAN (AIA) cũng như các chương trình hợp tác trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vân tải của ASEAN
“Tháng 3/1995 Việt Nam đã là thành viên chính thức của hội nghị thượng đỉnh vể hợp tác Á Âu (ASEM), tham ra vào hoạt động của diễn đàn này để thuận lợi hoá thương mại, xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi xúc tiến sự hợp tác tương hỗ giữa các doanh ngiệp của các nước thành viên trong khối
Ngày 5/6/1996, Việt Nam đã gửi đơn xin ra nhập diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương APEC Tháng 11/1998 đã được công nhận là thành viên chính thức của tổ chức này Việt Nam đã xây dựng
và thực hiện trương trình hành động quốc gia IAP và tham ra trương trình hành động chung CAP làm thúc đẩy quốc tế tự do hoá và thuận lợị thương mại dịch vụ, đầu tư giữa các nước trong khối (Việt Nam sẽ hoan toàn mở cửa thị trường cho thương mại và đầu tư vào năm 2002).”
<9.12-13>
Tháng 1 - 1995 Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO với 135 quốc gia thanh niên, chi phối hơn 90% tổng kinh ngạch thương mại thế giới là một thể chế kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã trả lời các câu hỏi của WTO làm rõ về chế độ thương mại của mình và đã tiến hành các vòng đàm phán đầu tiên với ban công tác của WTO về việc gia nhập của Việt Nam
Hiện nay ta đã kí hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì và từng bước thực hiện có hiệu quả và khắc phục những tồn tại của hiệp định thương mại này
Trang 152.2 Những thành công bước đầu của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Do quán triệt tốt mục tiêu quan điểm chỉ đạo và nhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nên hơn một thập niên qua cùng với những bước đi đầu tiêu của mình chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng trên các mặt: thương mại, đầu tư, ngoại giao…
Chúng ta đã đẩy lùi được chính sách bao vây cấm vận, cô lập về kinh tế của các thế lực thù địch Tạo được môi trường kinh tế với 150 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới Trao đổi hàng hoá ngày càng tăng lên đáng kể, hàng hoá Việt Nam đã xâm nhập vào thị trường trên thế giới
Các ngành công nghiệp của ta từ chỗ không có mặt hàng nào có sức cạnh tranh đến nay đã có trên 200 mặt hàng được đánh giá là có khả năng tạo được chỗ đứng trên thị trường quốc tế
Trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài chúng ta đã đạt được những thành quả đáng khích lệ "Tính đến tháng 12/2001 chúng ta
đã thu được hơn 41,5 tỉ USD FDI của hơn 70 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, trong đó đầu tư vào công nghiệp và xây dựng chiếm 51% trong tổng số 3631 dự án FDI được cấp phép đầu tư ở nước ta Riêng các nước thành viên ASEAN, từ đầu năm 2002 đến nay đã đầu tư thêm 54
dự án với tổng số vốn đăng kí là 133,6 triệu USD, nâng tổng số dự án của hiệp hội đầu tư vào Việt Nam lên 530 dự án với tổng số vốn là 9,6
tỉ USD tạo việc làm cho khoảng 50.000 lao động trực tiếp Trong 10 tháng qua (2002) Malaixia dẫn đầu các nước ASEAN trong lĩnh vực đầu tư vào Việt Nam với 21 dự án trị giá 67,3 triệu USD Cùng với vốn FDI chúng ta còn tiếp nhận một lượng vốn không nhỏ qua kênh ODA
Nguồn vón ODA thực sự có ý nghĩa quan trọng trong phát triển cơ sở
hạ tầng trong Việt Nam Tính ra mức vốn nước ngoài hiện nay chiếm
Trang 16khoảng 30,5 tổng số vốn đầu tư xã hội Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn đầu tư trong GDP đều tăng lên qua hàng năm Điều quan trọng đó tạo lên việc làm cho gần 350 nghìn lao động trực tiếp là mang lại công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý và tạo ra một số ngành sản xuất mới ở nước ta " (6.61)
Cho đến nay tổng mức cam kết tài trợ cho nước ta của các tổ chức quốc tế ngày càng tăng nhanh Riêng tại hội nghị nhóm tư vấn lần thứ 7 tại Hà Nội tháng 12/1999 các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam 2,15 tỉ USD cùng với 700 triệu USD giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình đổi mới kinh tế Việc khai thông quan hệ với IMF và WB cũng đã tạo điều kiện cho nước ta giải quyết một bước quan trọng về nợ nước ngoài đã giảm được tới 70% nợ các nước từ 1993 trở về trước góp phần ổn định cán cân thu chi ngân sách tập trung nguồn lực cho các chương trình phát triển kinh tế, xã hội, mở ra khả năng vay được vốn qua các kênh khác
Cùng với việc mở rộng thu hút vốn nước ngoài gia tăng xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam đã mạnh dạn tham gia đầu tư ra nước ngoài, kể cả vào những nước phát triển như Nhật Bản Tính đến nay các doanh nghiệp Việt Nam đã có 63 dự án đầu tư ra nước ngoài với tổng
số vốn đầu tư đăng kí là 61 triệu USD, tập chung chủ yếu trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, dịch vụ thương mại, xây dựng… Đồng thời ta đã kí được các hợp đồng xuất khẩu lao động ra các nước trong khu vực và thế giới
Tiếp thu khoa học và kĩ năng quản lý, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kinh doanh Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo CP hội để nước ta tiếp cận với những thành quả của các cuộc cánh mạng đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới Nhiều công nghệ hiện đại, dây
Trang 17chuyền sản xuất, tiên tiến được sử dụng đã tạo nên bước phát triển mới trong các ngành sản xuất Đồng thời thông qua dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý sản xuất hiện đại
Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, nhờ đó tạo được uy tín làm ăn mới thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng, không ngừng vươn lên trong cạnh tranh và phát triển, và thực tế sức cạnh tranh của họ cũng nâng lên đáng kể Một tư duy mới, một nếp làm
ăn mới, lấy hiệu quả sản xuất và kinh doanh làm thước đo, một đội ngũ các nhà doanh nghiệp năng động, sáng tạo có kiến thức quản lý đang hình thành
Kết hợp nỗ lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp góp phần đưa đến những thành tựu kinh tế to lớn và nhờ đó giúp chúng ta tiếp tục giữ vững, củng cố độc lập tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa,
an ninh quốc gia, bản sắc văn hoá dân tộc Thực hiện hội nhập thời gian qua cho thấy: Đảng ta và Nhà nước ta có đủ bán lĩnh khắc phục khó khăn vượt qua thử thách, khai thác các lợi thế trên thị trường thế giới, bảo đảm sự phát triển của đất nước theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa
3 Những thuận lợi và yếu kém còn tồn tại khi xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3.1 Những mặt thuận của hội nhập kinh tế đối với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Trang 18Ngày nay, toàn cầu hoá diễn ra rộng khắp, và vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế trở thành yếu tố tất yếu khách quan Nó đem lại cho đất nước ta những mặt thuận lợi để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp Quá trình này buộc chúng ta phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăng của các nước và giữa các doanh nghiệp cả trong nước lẫn nước ngoài Sự cạnh tranh như vậy là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các doanh nghiệp luôn có đổi mới và hoàn thiện về mọi mặt để tăng tính hiệu quả và năng lực cạnh tranh của toàn
bộ nền kinh tế và của các doanh nghiệp
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội để ta tiếp cận, huy động các nguồn vốn, FDI, các công nghệ mới chất cắm, kĩ thuật nâng cao cấp từ bên ngoài để phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế cần thiết cho việc duy trì kinh tế độc lập tự chủ, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp tạo điều kiện để mở rộng, đa dạng hoá thị trường quốc tế, tránh bị lệ thuộc tập chung vào một số thị trường và đối tác nước ngoài, giữ độ an toàn cao hơn cho nền kinh tế, tạo cơ hội để tăng cường xuất khẩu và tính luỹ, nâng nguồn dự trữ quốc gia, tạo khả năng ứng phó cao hơn đối với các biến cố sẽ tài chính có thể xảy ra, hạn chế việc xin viện trợ bên ngoài
Quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế cũng tạo động lực thúc đẩy chúng ta phải cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng, lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia tạo điều kiện để phát triển kinh tế và từ đó hạn chế hết nguy cơ bị lệ thuộc bên ngoài về tài chính
Toàn cầu hoá tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để nắm bắt thông tin tri thức mới một cách nhanh chóng kịp thời và tối đa, từ đó giúp