1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Microsoft word lvtonghop 51

69 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 616,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ASEAN (4)
    • 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN (4)
    • 1.2 Sự cần thiết tham gia vào ASEAN của Việt Nam (10)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ASEAN (12)
    • 2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN vào Việt Nam (12)
      • 2.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore vào Việt Nam (15)
      • 2.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia vào Việt Nam (20)
      • 2.1.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan vào Việt Nam (22)
      • 2.1.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước còn lại vào Việt Nam (24)
    • 2.2 Đánh giá FDI của ASEAN vào Việt Nam (28)
      • 2.2.1 Đánh giá những thành công đạt được (28)
      • 2.2.2 Hạn chế của FDI của ASEAN vào Việt Nam (30)
      • 2.2.3 Nguyên nhân của sự hạn chế (31)
    • 2.3 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam vào các nước ASEAN (32)
    • 2.4 Đánh giá đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam vào các nước ASEAN (34)
      • 2.4.1 Ưu điểm chủ yếu (34)
      • 2.4.2 Hạn chế (36)
      • 2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế (37)
  • CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ASEAN (38)
    • 3.1 Phương hướng , mục tiêu thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp của (38)
    • 3.2 Quan điểm đẩy mạnh quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa Việt Nam và các nước ASEAN (43)
    • 3.3 Giải pháp nhằm thu hút FDI của các nước ASEAN (45)
      • 3.3.1 Giải pháp từ phía Chính phủ (45)
      • 3.3.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp (54)
    • 3.4 Giải pháp nhằm thúc đẩy FDI ra nước ngoài (55)
      • 3.4.1 Về công tác quản lý (55)
      • 3.4.2 Về cung cấp thông tin (56)
      • 3.4.3 Về chính sách ưu đãi ,hỗ trợ của nhà nước (57)
        • 3.4.3.1 Hỗ trợ nguồn vốn đầu tư (57)
        • 3.4.3.2 Chính sách ưu đãi về thuế (57)
        • 3.4.3.3 Tăng cường các hiệp định thỏa thuận song phương và đa phương (58)
  • KẾT LUẬN (59)

Nội dung

Microsoft Word lvtonghop 51 doc Luận văn Thực trạng quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa Việt Nam và các nước ASEAN LUAN VAN CHAT LUONG download add luanvanchat@agmail com LỜI MỞ ĐẦU  Tín[.]

TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ASEAN

Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN

Ngày 8-8-1967 sau khi các bộ trưởng bộ ngoại giao 5 nước ( Indonexia ,Malaysia ,Philipin ,Singapore ,Thái Lan ) ký tuyên bố Bangkok thì ASEAN chính thức ra đời ,và cho đến nay tổ chức này gồm 10 thành viên Năm 2007 ,kỷ niệm 40 năm thành lập hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN ,đây chính là mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển mình của ASEAN theo hướng xây dựng cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột :

Việc thiết lập cộng đồng An ninh (ASC) sẽ nâng cao mức độ tin cậy và ý thức cộng đồng trong ASEAN, thúc đẩy hợp tác chính trị và an ninh nội khối một cách toàn diện Đây là bước quan trọng nhằm tăng cường an ninh khu vực, tạo nền tảng vững chắc cho các hoạt động hợp tác liên kết trong ASEAN Áp dụng mô hình ASC giúp củng cố vị thế của ASEAN trong lĩnh vực an ninh, thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ giữa các quốc gia thành viên để đối mặt với các thách thức an ninh toàn cầu.

Việc thiết lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ thúc đẩy ASEAN trở thành một khối liên kết chặt chẽ với một thị trường thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông tự do hàng hóa, dịch vụ, đầu tư vốn và nhân lực có trình độ Điều này góp phần cải cách hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả nền hành chính quốc gia, mở rộng khả năng tiếp cận các yếu tố bên ngoài như vốn, thị trường và công nghệ hiện đại AEC giúp tăng cơ hội việc làm, nâng cao mức sống của người dân, đồng thời thúc đẩy sự cân bằng trong hợp tác khu vực và quốc tế Chính sách này cũng giúp ASEAN duy trì bản sắc và phong cách ứng xử truyền thống, phù hợp với lợi ích trước mắt và dài hạn của Việt Nam.

Việc xây dựng cộng đồng Văn hóa Xã hội chung (ASCC) giúp các quốc gia thành viên gần gũi hơn, thúc đẩy sự phát triển toàn diện dựa trên lợi ích chung thay vì lợi ích cá nhân Nhờ đó, các xung đột tôn giáo và sắc tộc sẽ giảm bớt, hướng tới sự hài hòa và ổn định trong cộng đồng quốc tế Cộng đồng này góp phần thúc đẩy hợp tác, hiểu biết lẫn nhau và xây dựng một môi trường hòa bình, cùng tiến bộ vì mục tiêu chung của toàn khu vực.

Một số mốc quan trọng trong sự phát triển quan hệ kinh tế của ASEAN nói chung ,quan hệ đầu tư nói riêng :

Năm 1971, ASEAN đã tuyên bố về việc xây dựng một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, nhấn mạnh quyết tâm duy trì trung lập để giữ vững hòa bình, ổn định và an ninh khu vực Quỹ đạo này nhằm hạn chế sự can thiệp của các lực lượng bên ngoài vào công việc nội bộ của các quốc gia trong khu vực, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và ổn định chính trị trong ASEAN.

Năm 1976, Hiệp hội ASEAN phát hành “Tuyên bố về Sự Hòa hợp ASEAN”, thể hiện quyết tâm hợp tác khu vực và gửi đi tín hiệu thân thiện tới các quốc gia trong khu vực Đồng thời, ASEAN ký “Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á” nhằm kêu gọi các quốc gia cùng hợp tác vì mục tiêu giữ gìn hòa bình và an ninh chung của khu vực Hiệp ước nhấn mạnh tầm quan trọng của giải quyết xung đột và tranh chấp bằng phương pháp hòa bình thông qua đàm phán.

Năm 1992, ASEAN đã ký “Hiệp định khung về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho Khu vực mậu dịch tự do ASEAN,” thúc đẩy hợp tác kinh tế trong khu vực Đồng thời, ASEAN cũng ra tuyên bố về Biển Đông, xác lập nguyên tắc giải quyết các tranh chấp ở khu vực này bằng các biện pháp hòa bình, thể hiện cam kết duy trì ổn định và hòa bình trong cộng đồng ASEAN.

Năm 1995, ASEAN ghi nhận hai bước tiến quan trọng, bao gồm việc kết nạp thành viên mới là Việt Nam, mở rộng ảnh hưởng khu vực Đông Nam Á Đồng thời, ASEAN ký kết "Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân", thể hiện cam kết thúc đẩy giải trừ quân bị và hiện thực hóa Tuyên bố ZOPFAN trong bối cảnh phong trào giải trừ quân bị toàn cầu sau Chiến tranh lạnh đang diễn ra mạnh mẽ.

Từ tháng 12/1997 đến năm 1998, ASEAN đã thông qua “Tầm nhìn ASEAN 2020” nhằm xây dựng một cộng đồng khu vực hòa bình, ổn định và phát triển Trong giai đoạn từ 1998 đến 2004, ASEAN bắt đầu triển khai các mục tiêu của Tầm nhìn ASEAN 2020, thúc đẩy hợp tác khu vực và tăng cường ổn định chính trị, kinh tế trong khu vực.

Năm 2003, để thúc đẩy liên kết khu vực ngày càng bền vững, ASEAN đã ban hành "Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN II" nhằm xác định mục tiêu thành lập một Cộng đồng ASEAN thống nhất và mạnh mẽ hơn.

Năm 2007, “Hiến chương ASEAN” được ký kết đánh dấu bước phát triển quan trọng nhất của ASEAN kể từ khi thành lập, bằng việc trao tư cách pháp nhân cho ASEAN Điều này đã tạo nền tảng pháp lý và thể chế vững chắc để xây dựng Cộng đồng ASEAN Sau khi Hiến chương có hiệu lực, ASEAN đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý, nhằm thúc đẩy việc Hiến chương đi vào cuộc sống thực tiễn và nâng cao hiệu quả hợp tác khu vực.

Vào tháng 2 năm 2009, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 14, ASEAN đã thông qua Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, bao gồm các kế hoạch tổng thể nhằm phát triển các cộng đồng trụ cột Chính trị-An ninh, Kinh tế và Văn hóa-Xã hội.

Năm 2010, Việt Nam với vai trò chủ tịch ASEAN đã xác định chủ đề “Hướng tới một cộng đồng ASEAN từ tầm nhìn đến hành động”, nhằm thúc đẩy sự đoàn kết và hợp tác trong khu vực Việt Nam cam kết đảm bảo ổn định tài chính, thúc đẩy phục hồi bền vững, phát triển kinh tế, nâng cao hạ tầng, và thúc đẩy phát triển bền vững trong ASEAN Đồng thời, Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc củng cố mạng lưới an ninh xã hội, tăng cường hợp tác giáo dục, đối thoại với khu vực tư nhân và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia trong ASEAN nhằm xây dựng một cộng đồng vững mạnh và đồng thuận hơn.

Những thành tựu ASEAN đã đạt được :

ASEAN đã đạt được những bước tiến đáng kể trong tự do hoá thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, thể hiện qua việc cắt giảm thuế quan đáng kể và giảm thiểu hàng rào phi thuế quan Khu vực ngày càng mở cửa thu hút đầu tư, hợp lý hóa thủ tục hải quan, hài hòa tiêu chuẩn và giảm khoảng cách phát triển giữa các thành viên Đồng thời, hợp tác nội khối mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau, tạo dựng nền tảng vững chắc cho liên kết khu vực và hỗ trợ tích cực các nước thành viên phát triển kinh tế-xã hội.

Thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực là ưu tiên hàng đầu của phát triển bền vững, trong đó các ngành như nông sản, thủy sản, đồ gỗ, dệt may, cao su, ô tô, điện tử, du lịch, hàng không, chăm sóc sức khỏe và e-ASEAN được tập trung hỗ trợ phát triển Việc nâng cao liên kết giữa các ngành này giúp thúc đẩy thương mại nội khối và hội nhập toàn diện trong khu vực ASEAN Các ngành ưu tiên này đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, tăng cường năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực.

Sự cần thiết tham gia vào ASEAN của Việt Nam

ASEAN là bước khởi đầu và then chốt cho tiến trình hội nhập khu vực và hội nhập thế giới của Việt Nam, đánh dấu sự chuyển đổi từ tư duy đổi mới sang hành động thực tế ở cấp độ khu vực Việc Việt Nam tích cực và chủ động gia nhập ASEAN đã góp phần xóa bỏ những kỳ vọng tiêu cực và quá khứ để lại trong các nước khu vực và thế giới, mở ra cơ hội phát triển toàn diện và thúc đẩy vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hợp tác ASEAN có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với Việt Nam, góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực Tổ chức này giúp duy trì môi trường quốc tế thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việc đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư trong khu vực tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập và phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh toàn cầu Đồng thời, hợp tác ASEAN còn nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế và mở rộng quan hệ với các quốc gia lớn.

Trong những năm tới, Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực thúc đẩy quan hệ hợp tác sâu rộng và hiệu quả hơn với các nước ASEAN nhằm thu hút nhiều vốn FDI hơn từ các thành viên nội khối Phần lớn nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN đến từ các quốc gia trong khu vực, điều này mở ra cơ hội lớn để Việt Nam tận dụng và tăng cường các mối quan hệ đầu tư chiến lược Chính sách mở rộng hợp tác ASEAN sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Những đóng góp của Việt Nam vào ASEAN :

 Sau khi gia nhập ASEAN ,Việt Nam đã thể hiện những nỗ lực đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình kết nạp các nước Lào, Myanmar và

Campuchia vào Hiệp hội và dẫn tới sự hình thành một ASEAN bao gồm 10 nước thành viên như ngày nay

Nỗ lực xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông đã góp phần thúc đẩy các bên liên quan ký kết tuyên bố chung về cách ứng xử phù hợp tại khu vực Thông qua các sáng kiến này, các quốc gia thể hiện cam kết duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác trong tranh chấp và hoạt động tại Biển Đông Các nỗ lực này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đối thoại, giảm thiểu xung đột và xây dựng lòng tin giữa các bên liên quan Việc ký kết tuyên bố thể hiện sự tiến bộ trong việc tìm kiếm giải pháp hòa bình và thúc đẩy hợp tác lâu dài tại khu vực Biển Đông.

Việt Nam đã cùng ASEAN phối hợp đưa ra Tuyên bố Hà Nội nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, góp phần quan trọng thúc đẩy đoàn kết và hợp tác toàn diện trong ASEAN Tuyên bố này cũng góp phần khôi phục hình ảnh của ASEAN trên trường quốc tế và định hướng cho sự phát triển, hợp tác của Hiệp hội trong những năm tiếp theo để đạt được tầm nhìn 2020.

Việt Nam đã đề ra các sáng kiến then chốt về phát triển kinh tế - xã hội thông qua Chương trình hợp tác phát triển Tiểu vùng Mê Công và các vùng nghèo dọc Hành lang Đông-Tây, góp phần thúc đẩy hợp tác khu vực Chính sách này phối hợp cùng các nước ASEAN trong quá trình đàm phán, thúc đẩy hợp tác và tự do hóa thương mại, dịch vụ, đầu tư không chỉ trong nội bộ ASEAN mà còn mở rộng ra các đối tác bên ngoài, hướng tới sự phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế.

Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các khuôn khổ hợp tác giữa ASEAN và các nước đối thoại như ASEAN+3 và ASEAN+1, góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển khu vực.

Năm 2010, với vai trò chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển của ASEAN Tại Hội nghị cấp cao ASEAN 16, Việt Nam đề xuất nhiều kế hoạch và mục tiêu nhằm thúc đẩy sự mở rộng và hợp tác của ASEAN, trong đó có việc xây dựng cộng đồng ASEAN với sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan hành pháp và lập pháp Việt Nam còn khuyến khích tổ chức quần chúng tham gia xây dựng cộng đồng và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ASEAN phát triển bền vững.

THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ASEAN

Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN vào Việt Nam

Trong những năm gần đây, nguồn vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam ghi nhận những bước thăng trầm, phản ánh rõ xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động và ngành nghề Đầu tư trực tiếp từ các nước ASEAN thể hiện sự thích nghi với xu thế phân công lao động toàn cầu, khi các nước phát triển trong khu vực có tiềm lực vốn và công nghệ lớn nhưng thiếu nguồn tài nguyên và lao động rẻ hơn Do đó, các ngành sử dụng nhiều lao động tại các nước này đã chuyển dịch sang các quốc gia kém phát triển hơn như Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước.

Trước khi Việt Nam gia nhập ASEAN, quy mô các dự án FDI còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng nội địa, chế biến nông lâm hải sản, khách sạn và du lịch Các dự án này nhằm khai thác nguồn tài nguyên sẵn có và lao động rẻ của Việt Nam, phần lớn mang tính chất thăm dò Đây chính là đặc điểm và hướng đi chung của đầu tư trực tiếp từ các nước ASEAN vào Việt Nam trong giai đoạn đầu.

Sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN, dòng chảy FDI từ ASEAN vào Việt Nam tăng đáng kể, với tổng số dự án đạt 328 và vốn đăng ký 7.815 triệu USD, chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư của các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Tuy nhiên, chỉ hơn một năm sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ trong khu vực Châu Á, ảnh hưởng tiêu cực đến các dự án đầu tư, hầu hết đều bị giảm tiến độ.

Bảng 2.1 Đầu tư của ASEAN vào Việt Nam tính đến hết năm 1998

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tổng vốn đầu tư thực hiện (triệu USD)

Doanh thu xuất khẩu (triệu USD)

( Nguồn: Vụ Quản lý Dự án – Bộ Kế hoạch và Đầu tư )

Đến cuối năm 2000, kinh tế các nước ASEAN đã phục hồi mạnh mẽ sau khủng hoảng, kéo theo nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trở lại và duy trì đà phát triển Sự hồi phục này thể hiện rõ qua số liệu thống kê, cho thấy sự tăng trưởng ổn định trong dòng vốn FDI, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của khu vực ASEAN.

Bảng 2.2 : FDI của ASEAN phân theo nước (tính tới ngày 15/9/2004 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Nước, vùng lãnh thổ Số dự án TVĐT (USD) Vốn pháp định

(USD) Đầu tư thực hiện (USD) Singapore 324 7.981.158.422 2.670.274.424 3.264.788.729 Thái Lan 116 1.381.489.492 468.366.046 635.004.348 Malaysia 158 1.251.321.949 598.013.518 799.110.669 Philippin 20 228.123.899 115.057.446 85.470.734

(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Tính đến hết tháng 5 năm 2007, ASEAN có tổng cộng 1.179 dự án đầu tư FDI tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký trên 16 tỷ USD, trong đó Singapore dẫn đầu với 474 dự án và hơn 9,07 tỷ USD còn hiệu lực, đứng thứ hai trong danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, tiếp theo là Malaysia với 219 dự án và 1,7 tỷ USD.

Trong bối cảnh dòng chảy vốn FDI vào Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, Việt Nam đứng thứ 12 trong xếp hạng chung chỉ số niềm tin FDI, cho thấy sự cải thiện trong môi trường đầu tư Tuy nhiên, xét về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh, Việt Nam xếp thứ 93, còn nhiều thách thức cần khắc phục Trong số các quốc gia Đông Nam Á nằm trong Top 25 của xếp hạng chỉ số niềm tin FDI 2010, Việt Nam vượt qua Indonesia (vị trí 21), Malaysia (vị trí 20), và Singapore (vị trí 24), thể hiện tiềm năng và lợi thế cạnh tranh của thị trường Việt Nam trong khu vực.

Trong năm 2009, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các nước ASEAN vào Việt Nam giảm do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng điều này không phản ánh thái độ của nhà đầu tư đối với thị trường Việt Nam Các tập đoàn lớn trên thế giới và các quốc gia phát triển trong khối ASEAN cũng gặp phải nhiều khó khăn do đại dịch tài chính vừa qua Trong khi đó, Việt Nam vẫn duy trì chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài, đây chính là yếu tố then chốt giúp quốc gia nâng cao hoạt động thu hút FDI trong các năm tiếp theo.

Việt Nam vẫn cần chủ động triển khai các giải pháp đồng bộ và hiệu quả để khắc phục các tồn tại như mất cân đối trong đầu tư theo ngành nghề và vùng lãnh thổ, tình trạng ô nhiễm môi trường, phá vỡ quy hoạch ngành, mối đe dọa an ninh năng lượng, gia tăng đầu cơ trên thị trường bất động sản và bất ổn trên thị trường vốn Đồng thời, cần cải thiện việc chuyển giao và sử dụng công nghệ lạc hậu, hạn chế các ưu đãi về thuế và đất đai, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững Việt Nam cũng cần khắc phục các nút thắt chính như thủ tục hành chính rườm rà, quan liêu, hạ tầng cơ sở yếu kém, nguồn nhân lực thiếu hụt và chi phí đầu vào cao để thu hút dòng vốn FDI hiệu quả hơn Công tác xúc tiến đầu tư cần nâng cao tính chuyên nghiệp nhằm tạo động lực thu hút các dự án đầu tư chiến lược, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và ổn định.

Các cơ quan Bộ ngành đã chủ trương vận động các tập đoàn lớn đang đầu tư tại ASEAN mở rộng đầu tư vào Việt Nam để tích hợp vào hệ thống sản xuất khu vực của các tập đoàn đa quốc gia Đồng thời, các biện pháp thúc đẩy dòng vốn từ các quốc gia này đang được triển khai nhằm tận dụng lợi thế về địa lý và các mặt quan hệ khác giữa Việt Nam và khu vực ASEAN.

Tính đến cuối năm 2009, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam từ các quốc gia ASEAN đạt hơn 16 tỷ USD, với Singapore là nhà đầu tư lớn thứ hai trong số 78 quốc gia và vùng lãnh thổ, giữ vị trí dẫn đầu với 474 dự án và 9,07 tỷ USD còn hiệu lực Malaysia cũng đóng vai trò quan trọng với 219 dự án và 1,7 tỷ USD vốn FDI, xếp thứ 10 trong danh sách các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Năm 2010, Việt Nam nằm trong nhóm 11 quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, tạo ra nhiều cơ hội đầu tư và khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư toàn cầu trong các năm tới.

2.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore vào Việt Nam

Với môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi và nền kinh tế tăng trưởng cao, Việt Nam đã trở thành thị trường lâu dài của Singapore Singapore liên tục khuyến khích các công ty của mình vào Việt Nam để khai thác các cơ hội kinh doanh có lợi thế cạnh tranh, trong khi phía Việt Nam cũng có nhiều nhu cầu phát triển Chính vì lợi ích của cả hai bên, kể từ năm 1973, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Singapore đã được thiết lập và phát triển bền vững.

Singapore đã tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ kinh tế và đầu tư giữa hai nước phát triển Từ năm 1995 đến 2000, Singapore luôn dẫn đầu trong nhóm các nước thành viên ASEAN về hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, thể hiện vai trò chiến lược và năng lực đầu tư mạnh mẽ của quốc đảo này trong khu vực.

Lượng vốn FDI ngày càng tăng qua các năm, thể hiện sự ổn định và phát triển của thị trường đầu tư quốc tế tại Việt Nam Các dự án FDI lớn như của TA Associates với trị giá 1,2 tỷ USD tại TP Hồ Chí Minh hay dự án khu đô thị Waterfront trị giá 750 triệu USD tại Đồng Nai cho thấy đặc điểm về quy mô vốn khổng lồ của các nhà đầu tư nước ngoài Định hướng đầu tư của Việt Nam đã chuyển dịch rõ ràng từ lĩnh vực dịch vụ du lịch, khách sạn đến sản xuất, và sau đó tập trung mở rộng sang các ngành viễn thông, hậu cần, ngân hàng và tài chính, phản ánh chiến lược đa dạng hóa và thu hút nhiều lĩnh vực kinh tế.

Singapore đã triển khai sáng kiến đầu tư hợp tác ba bên tại Việt Nam, nổi bật là dự án khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (VSIP) tại Bình Dương Vào tháng 5/1996, Thủ tướng Singapore đã thăm chính thức Việt Nam và khai trương khu công nghiệp này, đánh dấu một trong những dự án hợp tác thành công nhất của Singapore nước ngoài Kể từ đó, VSIP đã thu hút 235 dự án với tổng vốn đầu tư lên tới 1,5 tỷ USD và tạo việc làm cho hơn 40.000 lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và hợp tác đầu tư giữa hai quốc gia.

Hình 2.3 FDI của Singapore vào Việt Nam

(Nguồn: Singapore Department of Statistics, tháng 7, 2008)

Tính đến tháng 2 năm 2010 thì Singapore có 792 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 17,3 tỷ USD

Cơ sở của quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore vào ViệtNam :

Hai bên đã thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1973

Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Singapore được ký ngày 29 tháng 10 năm 1992

Vào tháng 3 năm 2003, Thủ tướng hai nước đã thống nhất đưa ra sáng kiến hợp tác đầu tư Việt Nam – Singapore nhằm thúc đẩy và xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các quốc gia thứ ba vào Việt Nam.

Đánh giá FDI của ASEAN vào Việt Nam

2.2.1 Đánh giá những thành công đạt được

Vốn đầu tư các dự án FDI của ASEAN vào Việt Nam ngày càng tăng về quy mô, vượt mức trung bình của cả nước và nhiều vùng lãnh thổ khác, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội Bình quân mỗi dự án FDI từ ASEAN đạt 25 triệu USD, cao hơn mức trung bình quốc gia là 16,6 triệu USD, thúc đẩy bổ sung nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế Việt Nam.

Khu vực FDI – ASEAN đóng góp quan trọng trong việc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, khi mức lương trung bình từ 80-85 USD/tháng, cao hơn nhiều so với mức lương của các doanh nghiệp trong nước Nhiều lao động trong khu vực này được đào tạo nâng cao tay nghề, tiếp cận công nghệ tiên tiến và tích lũy kinh nghiệm quản lý, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Nguồn vốn FDI của ASEAN đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm khoảng 37% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện Các dự án FDI tập trung chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm, góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển của các vùng kinh tế lân cận.

Thúc đẩy phát triển thương mại và du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế quốc gia Đây là những yếu tố giúp Việt Nam mở rộng cơ hội hội nhập ngày càng chủ động và sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Việc phát triển các ngành này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo điều kiện để Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Các doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới phương thức quản trị và kinh doanh Sự hiện diện của FDI giúp nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước thích nghi và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng.

Hầu hết các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường của quốc gia và đạt kết quả môi trường tốt hơn so với các doanh nghiệp trong nước Đặc biệt, 60% doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực chế biến thực phẩm đã lắp đặt thiết bị xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 10% của các doanh nghiệp trong nước.

2.2.2 Hạn chế của FDI của ASEAN vào Việt Nam

Trong thời gian gần đây, sự tăng đột biến của dòng vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam đã gây ra sự mất cân đối về ngành nghề và vùng lãnh thổ, do các nhà đầu tư ưu tiên lợi nhuận và chọn những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao Thứ tự ưu tiên trong lựa chọn địa điểm đầu tư thường là các khu vực có hạ tầng thuận lợi như thành phố lớn, cảng biển, cảng hàng không, thu hút nhiều dự án FDI Ngược lại, những khu vực hẻo lánh như miền núi, dân cư thưa thớt lại ít nhận được sự quan tâm của nhà đầu tư, điều này làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và tạo sức ép lớn về dân số và hạ tầng tại các đô thị đông đúc.

Sự yếu kém trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam xuất phát từ việc một số nhà đầu tư FDI lợi dụng sơ hở trong luật pháp và những thiếu sót trong công tác kiểm tra, giám sát tại các khu vực cửa khẩu Họ đã nhập khẩu các thiết bị cũ kỹ, lạc hậu và thậm chí là phế thải của các nước khác vào Việt Nam Hậu quả là các dự án đầu tư không đạt hiệu quả cao, gây lãng phí nguồn lực và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp trong nước.

Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn FDI hiện chưa được giải quyết kịp thời do nhiều doanh nghiệp không tuân thủ cam kết, như kéo dài thời gian học nghề và thời gian làm việc trong ngày Ngoài ra, một số doanh nghiệp FDI còn trả lương thấp hơn mức quy định của nhà nước và xử phạt lao động trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Mặc dù chúng ta đã nhận được nhiều cam kết về nguồn vốn FDI từ các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng tốc độ giải ngân vẫn còn rất chậm Trong khi cam kết FDI có thể đạt từ 10-16 tỷ USD, thực tế lượng vốn giải ngân chỉ mới đạt khoảng 4,1 tỷ USD, cho thấy nhiều nhà đầu tư chưa thực sự chuyển tiền vào thị trường Việt Nam Tình trạng này ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

2.2.3 Nguyên nhân của sự hạn chế

Việt Nam còn nhiều bất cập về hạ tầng, thiếu cảng nước sâu và hệ thống vận tải không đồng bộ, đặc biệt tại các vùng núi và vùng sâu vùng xa gây khó khăn trong giao thông đi lại Điều này khiến đất nước chưa thu hút được nhiều dự án FDI do chi phí cao và thiếu thuận tiện Ngoài ra, Việt Nam chủ yếu tập trung vào các yếu tố tài chính và ưu đãi thuế để thu hút FDI mà chưa đầu tư đúng mức vào phát triển nguồn nhân lực; đội ngũ lao động còn yếu về kỹ năng, và cán bộ quản lý thiếu kinh nghiệm, dẫn đến một số doanh nghiệp FDI dễ dàng qua mặt.

Chính sách quản lý giá cả chưa hiệu quả đã gây lo ngại cho các nhà đầu tư FDI về rủi ro lạm phát và các thách thức kinh tế của Việt Nam Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư và khả năng thu hút vốn ngoại, đặt ra yêu cầu cải thiện chính sách để đảm bảo ổn định kinh tế và thúc đẩy phát triển bền vững.

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam vào các nước ASEAN

Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư FDI, chủ yếu đến từ ASEAN Song song với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ ASEAN, nhiều doanh nghiệp trong nước đã quan tâm hơn đến đầu tư ra toàn cầu, với số dự án và vốn đầu tư ngày càng tăng Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã có mặt trên khắp các châu lục, tập trung chủ yếu tại khu vực châu Á, đóng góp vào sự phát triển bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế quốc tế.

Việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam là xu hướng toàn cầu, giúp mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh Đây còn là cơ hội để tiếp cận khách hàng quốc tế, tận dụng nguồn tài nguyên và nguyên liệu tại chỗ, giảm thiểu chi phí vận chuyển hàng hóa Đồng thời, đầu tư ra nước ngoài còn thúc đẩy chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý và trình độ tiếp thị trong khu vực và trên thế giới.

Dòng chảy đầu tư FDI giữa các nước ASEAN chỉ chiếm khoảng 18%, tức 10 tỷ USD trên tổng số 60 tỷ USD vào năm 2008, cho thấy mức độ hợp tác đầu tư còn khá khiêm tốn Để thúc đẩy hội nhập toàn diện, cần tăng cường đầu tư chéo giữa các thành viên ASEAN Trong những năm gần đây, Việt Nam liên tục đẩy mạnh FDI vào các nước như Lào, Campuchia và Myanmar Cụ thể, trong hai năm 2008 và 2009, Việt Nam đã đứng đầu về các dự án FDI tại Lào với khoảng 200 dự án và 2,1 tỷ USD trong lĩnh vực công – nông – lâm nghiệp Đến cuối năm 2009, Việt Nam có 63 dự án đầu tư tại Campuchia với tổng vốn đăng ký khoảng 900 triệu USD, trung bình mỗi dự án đạt 14,2 triệu USD, hiện đứng thứ 3 trong số 50 quốc gia và vùng lãnh thổ thu hút vốn đầu tư ra nước ngoài.

Xu hướng đầu tư FDI ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch từ các dự án nhỏ, đầu tư vào các ngành nghề đơn giản sang các dự án lớn hơn, đòi hỏi kỹ thuật và công nghệ cao Hầu hết FDI của các doanh nghiệp Việt Nam đổ vào Lào và Campuchia, đặc biệt sau khi Hiệp định Pari về Campuchia năm 1991 được ký kết, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam, Lào và Campuchia đã mở rộng từ hợp tác chính trị, quốc phòng, an ninh sang hợp tác toàn diện, trong đó có lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư.

Trong giai đoạn 1991-2005, Việt Nam là một trong những nước có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất vào Lào Trước năm 1996, Việt Nam có ba dự án FDI đầu tư vào Lào, nhưng đến tháng 3/2002, số dự án đã tăng lên 19 với tổng vốn đăng ký là 18,8 triệu USD, chiếm 35,25% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và xếp thứ 14/36 quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Lào Giai đoạn này, các dự án chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp với 8 dự án và 7,6 triệu USD vốn đăng ký, tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ với 7 dự án và 2,2 triệu USD vốn đăng ký, cùng lĩnh vực nông - lâm nghiệp với 4 dự án và hơn 2 triệu USD vốn đăng ký.

Trong tháng 9 năm 2006, số dự án của Việt Nam đầu tư vào Lào đã tăng lên 78 dự án với tổng vốn đầu tư đạt 745,665 triệu USD, đưa Việt Nam vươn lên đứng thứ hai trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Lào.

Cho đến nay Lào hiện đang đứng đầu trong số 46 quốc gia,vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam

Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn là một trong những nhà đầu tư lớn tại Lào với hai dự án thủy điện Nậm Ngum 4 và Nậm Sum, tổng vốn đầu tư lên tới 800 triệu USD Ngoài ra, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai của Việt Nam đã triển khai nhiều dự án đa dạng tại Lào, bao gồm trung tâm thương mại, căn hộ, văn phòng cho thuê, nhà máy chế biến gỗ, trồng cây cao su, xây dựng thủy điện, dự án mỏ sắt và đồng, với tổng vốn đầu tư đạt 260 triệu USD Những dự án này thể hiện tầm nhìn dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào, hứa hẹn nhiều dự án quy mô lớn trong tương lai gần.

Hợp tác đầu tư FDI giữa Việt Nam và Campuchia đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, nhưng vẫn còn hạn chế so với mối quan hệ Việt Nam – Lào Đến tháng 6/2006, Việt Nam mới có 4 dự án FDI tại Campuchia với tổng vốn đăng ký là 9,135 triệu USD, đứng thứ hai trong số 57 dự án Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.

Campuchia hiện nằm trong nhóm 3 quốc gia dẫn đầu về đầu tư trực tiếp tại đây, thể hiện sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực này Mục tiêu trong năm tới của Việt Nam là nâng mức đầu tư trực tiếp vào Campuchia lên khoảng 6 tỷ USD, nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai nước ngày càng bền vững và hiệu quả.

Đánh giá đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam vào các nước ASEAN

Hệ thống luật pháp về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đang ngày càng hoàn thiện, giúp thúc đẩy môi trường đầu tư quốc tế Thủ tục cấp phép cho các dự án FDI được cải thiện rõ ràng, nhanh chóng và gọn nhẹ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế Với sự cải thiện này, doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng tiếp cận các thị trường nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững.

Các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng có khả năng tài chính vững mạnh, chủ động mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ra thị trường quốc tế thông qua đầu tư FDI ra nước ngoài Việc này giúp các doanh nghiệp tận dụng hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, đồng thời tiết kiệm chi phí sản xuất và vận tải, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Các dự án quy mô nhỏ như mở nhà hàng ăn uống, kinh doanh chè hoặc cà phê đang có xu hướng giảm dần, nhường chỗ cho các dự án quy mô lớn đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao và vốn đầu tư lớn Xu hướng chuyển dịch này thể hiện sự tập trung vào các ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao như thăm dò khai thác dầu khí, sản xuất điện năng nhằm tối ưu hóa tiềm năng thị trường và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Mặc dù tổng số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế so với lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhưng đã thể hiện sự trưởng thành rõ rệt của doanh nghiệp Việt Nam trong năng lực tài chính, công nghệ, kỹ thuật, cùng với kinh nghiệm quản lý và đầu tư tích lũy qua quá trình phát triển.

Các dự án đã bước đầu triển khai thành công, thể hiện hiệu quả rõ rệt qua việc tăng vốn và mở rộng quy mô hoạt động đầu tư, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của các dự án này.

Các lợi ích chính của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm giúp nhà đầu tư chủ động tiếp cận thị trường tài chính quốc gia đó, xây dựng kênh phân phối hàng hóa hiệu quả, và nắm bắt tình hình tiêu thụ để điều chỉnh chiến lược kinh doanh Ngoài ra, hoạt động này còn giúp tối ưu hóa lợi nhuận nhờ tận dụng nguồn tài nguyên và nguyên liệu tại địa phương, giảm thiểu chi phí vận chuyển hàng hóa, và tận dụng hạn ngạch xuất khẩu của quốc gia sở tại.

Hoạt động này giúp các nhà đầu tư mở rộng thị trường và đa dạng hóa đối tác, đồng thời tạo cơ hội tiếp cận nguồn nguyên liệu và công nghệ kỹ thuật quan trọng Nó còn thúc đẩy vận động trực tiếp với đối tác đầu tư nước ngoài để cung cấp máy móc và công nghệ hiện đại, qua đó nâng cao hiệu quả và chất lượng các dự án đầu tư trong nước.

Các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn trong việc xúc tiến đầu tư do thiếu thông tin chính xác về chính sách đầu tư tại một số địa phương Điều này ảnh hưởng đến quá trình thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Việc cập nhật và nắm bắt các chính sách đầu tư mới là rất cần thiết để thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường quốc tế hiệu quả hơn Các cơ quan chức năng cần có các hoạt động truyền thông và hỗ trợ để doanh nghiệp có thể tiếp cận thông tin chính sách đầu tư nhanh chóng và chính xác hơn.

Hiện nay, việc thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án đầu tư ra nước ngoài diễn ra kéo dài so với thời hạn luật định, làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn thiếu một chiến lược tổng thể rõ ràng cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài, dựa nhiều vào mối quan hệ chính phủ hoặc địa phương Trong ngành dầu khí, ví dụ, Petro Vietnam cùng các đối tác Malaysia và Indonesia đã ký thỏa thuận thăm dò và khai thác dầu khí, nhưng Petro Vietnam gặp khó khăn trong việc chuyển tiền ra nước ngoài do chưa có giấy chứng nhận đầu tư, bất chấp có đủ nguồn tài chính Điều này đặt ra vấn đề về khả năng ra quyết định nhanh và thực hiện hợp đồng kịp thời trong ngành, cho thấy một số bộ phận và cá nhân chưa thực sự thể hiện tinh thần trách nhiệm trong công việc.

Việt Nam vẫn đang đối mặt với các hạn chế về tiềm lực vốn và công nghệ, cùng với kinh nghiệm quản lý còn hạn chế, khiến các doanh nghiệp Việt chưa đủ tự tin cạnh tranh quốc tế Vì thế, số lượng dự án đầu tư và quy mô đầu tư tại Việt Nam còn ở mức khiêm tốn, hạn chế khả năng phát triển bền vững.

Liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn FDI và doanh nghiệp nội địa còn hạn chế, gây khó khăn trong việc hình thành mối quan hệ hợp tác bền vững Thậm chí, các doanh nghiệp Việt Nam còn cạnh tranh gay gắt thay vì hợp tác, dẫn đến thiếu sức mạnh chung trong việc thương lượng với các cơ quan có thẩm quyền tại nước sở tại Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế địa phương.

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế

Việt Nam hạn chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để tập trung phát triển nguồn vốn nội địa, nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước và đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.

- Sự hỗ trợ của Chính phủ đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ra nước ngoài còn ở mức hạn chế

- Vướng mắc trong thủ tục hành chính ,văn bản pháp luật.

ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ASEAN

Ngày đăng: 14/11/2022, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS Đỗ Đức Bình, TS Nguyễn Thường Lạng ( chủ biên ), 2002 , Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Lao động – Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quốc tế
Tác giả: GS.TS Đỗ Đức Bình, TS Nguyễn Thường Lạng
Nhà XB: NXB Lao động – Xã Hội, Hà Nội
Năm: 2002
2. PGS.TS Dương Văn Quảng, 2007, Xingapo đặc thù và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia ,Học viện quan hệ quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xingapo đặc thù và giải pháp
Tác giả: Dương Văn Quảng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
3. TS Nguyễn Thị Hiền, 2008, Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
4. Chu Hảo ( chủ biên ),2008, 20 năm đầu tư nước ngoài nhìn lại và hướng tới 1987-2007, NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm đầu tư nước ngoài nhìn lại và hướng tới 1987-2007
Tác giả: Chu Hảo
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2008
5. PGS.TS Phạm Đức Thành- Trần Khánh, 2006, Việt Nam trong ASEAN – nhìn lại và hướng tới, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong ASEAN – nhìn lại và hướng tới
Tác giả: Phạm Đức Thành, Trần Khánh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2006
6. PGS.TS Phạm Đức Thành, 2006, Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Đức Thành
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2006
7. TS Võ Thanh Thu, 2001, Quan hệ Thương mại – Đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN ,NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Thương mại – Đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN
Tác giả: TS Võ Thanh Thu
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2001
8. Th.S Nguyễn Văn Tuấn, 2005, Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Th.S Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
9. Vũ Dương Ninh ( chủ biên ), 2004, Việt Nam- ASEAN quan hệ song phương, đa phương, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam- ASEAN quan hệ song phương, đa phương
Tác giả: Vũ Dương Ninh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
10. Nhiều tác giả, 2007, Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới 1986- 2006 thành tựu và những vấn đề đặt ra Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới 1986- 2006 thành tựu và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2007
11. Vũ Trọng Lâm ( chủ biên ), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, 2006, NXB Chính trị Quôc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Vũ Trọng Lâm ( chủ biên )
Nhà XB: NXB Chính trị Quôc gia
Năm: 2006
1. Sử dụng FDI để tạo ra đột phá mới, Báo đầu tư số 37[2084] ngày 26/03/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng FDI để tạo ra đột phá mới
Nhà XB: Báo đầu tư
Năm: 2010
2. Báo nghiên cứu Đông Nam Á, số 2(107)/2009 và số 7(112)/2009 ,Viện KHXHVN – Viện nghiê cứu ĐNA.C. Một số trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số trang Web
Nhà XB: Báo nghiên cứu Đông Nam Á
Năm: 2009
2.www.fia.mpi.gov.vn : Cục đầu tư nước ngoài . 3. www.gso.gov.vn : Tổng cục thống kê .4 www.hoianexpress.net Khác