CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ASEAN
2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN vào Việt Nam
2.1.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước còn lại vào Việt Nam
Nhìn chung các nước này có lượng FDI vào Việt Nam còn khá khiêm tốn do trình độ phát triển chỉ ở mức tương đồng với Việt Nam ,an ninh thì bất ổn định ,cơ sở hạ tầng thì nghèo nàn...nên các nước này mới chỉ tập trung chủ yếu vào thu hút FDI với mục tiêu tăng trưởng kinh tế .Tuy nhiên gần đây ,các quốc gia này đã bắt đầu có sự quan tâm đến việc thúc đẩy FDI ra nước ngoài ,bước đầu còn sơ khai song điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn ,thể hiện sự cố gắng nỗ lực của các quốc gia trong việc bình đẳng hơn trong quan hệ đối tác kinh tế của nhau .
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Philipin vào Việt Nam.
Tính đến năm 1995 ,Philipin có 11 dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với tổng số vốn đầu tư là 260 triệu USD.Cuối năm 2001 số dự án của Philipin tăng lên là 21 dự án với 260,97 triệu USD đã tạo ra hơn 5000 lao động cho Việt Nam. Ở thời điểm này thì Philipin là quốc gia đứng thứ 4 trong các nước ASEAN và đứng thứ 20/54 quốc gia ,lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Năm 2007 Philipin có 30 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 247 triệu USD, vốn thực hiện đạt 85,9 triệu USD. Tuy nhiên so sánh với các quốc gia khác thì số dự án và lượng vốn của Philipin ít ,trung bình 7 triệu USD cho mỗi dự án.
Dự án của Philipin tập trung vào lĩnh vực công nghiệp với 14 dự án và 157, 4 triệu USD (chiếm 63,5% tổng vốn đầu tư của Philipin). Lĩnh vực nông nghiệp có 8 dự án với 88,8 triệu USD. Lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ lệ vốn đầu tư ít nhất với 855.000 USD và 8 dự án. Các dự án FDI của Philipin vào Việt Nam tuy quy mô không lớn nhưng tương đối ổn định. Một số dự án lớn điển hình như : Liên doanh lắp ráp ô tô Hòa Bình (58 triệu USD vốn đầu tư ) ,Liên doanh xây dựng khách sạn Kim Liên (71,3 triệu USD)..
Lượng vốn đầu tư tập trung nhiều ở Hà Nội ,Ninh Bình ( chiếm 78% tổng lượng vốn đầu tư ) ,số còn lại đầu tư tại Hồ Chí Minh ,Khánh Hòa ,Bình Dương.
Hình thức đầu tư chủ yếu là liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài. Hình thức hợp doanh chưa phổ biến điều này nói rằng các nhà đầu tư
Philipin nói riêng ,các nhà đầu tư ASEAN nói chung còn có những lo ngại về rủi ro trong kinh doanh tại thị trường Việt Nam .Nếu như Việt Nam chú trọng hơn nữa vấn đề kêu gọi và tạo điều kiện cho nhà đầu tư Philipin kinh doanh các lĩnh vực mà họ có thế mạnh : Công nghiệp ,thực phẩm ,nuôi trồng ,đánh bắt thủy hải sản ,khách sạn - du lịch..thì chắc chắn Việt Nam sẽ thu hút đước nhiều hơn nữa các dự án FDI của Philipin.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Indonexia vào Việt Nam.
Trước khi Việt Nam là thành viên của ASEAN thì mức độ đầu tư FDI của ASEAN vào Việt Nam rất ít ,các dự án chỉ mang tính chất thăm dò tìm hiểu về mức lợi nhuận và rủi ro tại thị trường Việt Nam .Chỉ khi Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN thì mức đầu tư từ các quốc gia này mới tăng lên nhanh chóng ,và đầu tư FDI của Indonexia cũng trong tình trạng tương tự.
Bảng 2.6: FDI của Indonexia vào Việt Nam.
( Đơn vị : Triệu USD )
Năm 1995 12- 1997 12- 1999
Số dự án 13 14 18
Số vốn đầu tư 213 284 318,3
(Nguồn : Số liệu năm 1995 và 1997 trích từ quan hệ Thương mại – Đầutư...sđd trang 74-75.Số liệu năm 1999 của báo đầu tư ngày 5-8-2000.)
Khoảng tháng 11-2001 ,Indonexia có 7 dự án FDI với 110 triệu USD vốn đăng ký ,đến tháng 10-2004 có 12 dự án án và lượng vốn đăng ký là 123,05 triệu USD .Cuối năm 2005 ,Indonexia có 13 dự án và 130,09 triệu USD vốn đăng ký ,đứng thứ 27/75 quốc gia ,vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam .Năm 2007, tổng số vốn Indonexia đầu tư vào Việt Nam đạt trên 137,5 triệu USD với 13 dự án .Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu của Indonexia ở Việt Nam chủ yếu là ngân hàng ,khách sạn ,dầu mỏ ,than đá và công nghiệp nhẹ...
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Lào vào Việt Nam.
Do kinh tế còn kém phát triển nên mãi đến 2002 Lào mới có 4 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn là 11,5 triệu USD.Cuối năm 2005 Lào đứng thứ 44/75 quốc gia ,vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 7 dự án và 23.05 triệu USD ,trong đó có 1 dự án liên doanh ba bên với Thái Lan về lắp ráp xe gắn máy tại tỉnh Hưng Yên .Tuy lượng vốn và dự án đầu tư của Lào tại Việt Nam còn ít nhưng đó là toàn bộ những nỗ lực đáng khen ngợi của doanh nghiệp lào góp phần mở ra khả năng đầu tư FDI của doanh nghiệp Lào tại Việt Nam .
Mặc dù đã được chính phủ hai nước đặc biệt quan tâm ,tạo điều kiện thuận lợi nhưng việc đầu tư FDI của hai nước còn nhiều hạn chế do thiếu vốn ,công nghệ ,hạn chế về hệ thống pháp luật chưa đồng bộ...Để khắc phục vấn đề này ,Chính phủ hai nước đã ban hành nhiều quyết định đơn giản hóa thủ tục xin giấy phép ,quy định thời gian ,chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan bộ ngành ,địa phương.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Campuchia vào Việt Nam.
Cuối năm 2005 ,Campuchia có tất cả 4 dự án FDI đầu tư vào Việt Nam với 4 triệu USD vốn đầu tư ,đứng thứ 59/74 nước ,vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam .Số dự án không nhiều ,lượng vốn không đáng kể song đây là những tín hiệu đáng mừng trong quá trình hợp tác đầu tư FDI của Campuchia vào Việt Nam .
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Brunay vào Việt Nam.
Quan hệ đầu tư 2 nước còn ở mức rất thấp so với quan hệ chính trị tốt đẹp mà hai nước đã có được .
Tháng 10/2004 Brunay có 3 dự án với 5,4 triệu USD vốn đầu tư vào Việt Nam .Tuy nhiên đến cuối năm 2005 ,Brunay đã vượt qua Lào đứng thứ 6
trong các nước ASEAN và đứng thứ 38 trong các nước ,vùng lãnh thổ đầu tư FDI vào Việt Nam với 15 dự án và 34,2 triệu USD vốn đầu tư .
Triển vọng phát triển kinh tế - đầu tư giữa hai nước trong những năm tới còn rất khó khăn do những nội tại của nền kinh tế Brunay như thị trường nhỏ bé ,nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn ,bộ máy hành chính còn nhiều quan liêu ,đặc biệt trong chính sách đầu tư ra bên ngoài của Brunay chủ yếu tập trung vào bất động sản ,tài chính ,chứng khoán ở một số nước phương Tây như Anh ,Mỹ...mà chưa chú trọng tới thị trường Châu Á .
Về phía Việt Nam ,các doanh nghiệp cũng không mấy mặn mà vì thị trường này quá nhỏ bé .
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Myanmar vào Việt Nam.
Lâu nay Myanmar tưởng như một đất nước bị lãng quên và chìm trong sự cô lập ,nền kinh tế vẫn trong tình trạng gặp nhiều khó khăn .
Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng còn yếu kém mới chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu tiêu dùng trong nước .Do vậy mà hiện nay Myanmar vẫn chưa có bất kỳ một dự án FDI nào ở Việt Nam .Trái với những kết quả kinh tế nhỏ bé ,nguồn lực để phát triển của đất nước chùa Vàng phải khiến nhiều nước trên thế giới ghen tị .Với khoảng 50% diện tích là rừng núi trong đó có nguồn tài nguyên gỗ quý khổng lồ ,Myanmar còn sở hữu một trữ lượng dầu khí lớn (đã qua thăm dò và đứng thứ 11 trên thế giới ) ,tài nguyên khoáng sản cũng thuộc loại nhiều nhất trên thế giới .Do vậy Myanmar cũng là một thị trường hết sức tiềm năng ,Việt Nam nói riêng ,các quốc gia nội khối ASEAN nói chung cần thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp để cùng nhau khai thác những lợi thế so sánh của nhau để hai bên cùng có lợi .