1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chƣơng 6 LÝ THUYẾT HỆ THỐNG

18 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 676,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết hệ thống giúp NVXH hiểu được sự tương tác năng động, phức tạp, đan cài của các mối quan hệ giữa các cá nhân, gia đình, tổ chức và cộng đồng.. Các nguyên tắc của lý thuyết hệ th

Trang 1

Chương 6

LÝ THUYẾT HỆ THỐNG

Nội dung chương này giúp người học có khả năng:

 Giải thích được lý thuyết hệ thống,

 Bắt đầu làm quen, vẽ được sơ đồ thế hệ và sơ đồ sinh thái

 Ứng dụng kỹ năng nghề chuyên môn ở mức độ cơ bản: Kỹ năng lắng nghe, thấu cảm, soi gương, ghi chép, quan sát, đặt câu hỏi, tìm kiếm tài liệu <

 Ứng dụng kiến thức lý thuyết hệ thống và công cụ sơ đồ thế hệ và sơ đồ sinh thái để phân tích trường hợp điển cứu

NỘI DUNG CHÍNH

2 Lý thuyết hệ thống của Von Bertalanffy và các học giả khác

3 Vẽ và phân tích sơ đồ thế hệ và sơ đồ sinh thái

4 Ứng dụng lý thuyết hệ thống và công cụ sơ đồ thế hệ và

sinh thái vào phân tích case

5 Tóm tắt chương

6 Bài tập thực hành: câu hỏi ôn tập và phân tích trường hợp

điển cứu

Câu hỏi động não trước khi học C6

1 Gia đình bạn có hoạt động như một hệ thống? Hãy lý giải Mọi người trong gia đình của bạn giao tiếp với nhau ra sao? Ai yêu thương ai? Ai ghét ai? Ai nói chuyện với ai? Khi buồn chán, thất bại<, bạn chia sẻ với ai trong gia đình? Mô tả vai trò, cấu trúc, chức năng, nhiệm vụ của từng thành viên trong gia đình?

2 Hãy nghĩ đến chiếc xe máy chúng ta chạy hàng ngày Nếu không có xăng, chiếc xe này

có chạy, được không ? Bạn có thể lý giải lý do tại sao không ? Chiếc xe có phải là một

hệ thống không ? Chia sẻ suy nghĩ của bạn về hệ thống của chiếc xe

3 Tại sao lý thyết hệ thống lại quan trọng trong ngành CTXH?

Trang 2

“Gia đình là số một” hay “Gia đình là tế bào của xã hội” hay “Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ” Các câu nói của ông bà ta có liên quan tới quan điểm hay lý thuyết nào ?

Có, đó là lý thuyết Hệ thống Lý thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết trọng tâm của ngành CTXH, và thường đi cùng với quan điểm PIE/sinh thái và quan điểm Thế Mạnh khi giải quyết vấn đề Lý thuyết hệ thống giúp NVXH hiểu được sự tương tác năng động, phức tạp, đan cài của các mối quan hệ giữa các cá nhân, gia đình, tổ chức và cộng đồng Nói chung, NVXH dùng lý thuyết hệ thống để tìm hiểu và nhận diện một hệ thống hoạt động như thế nào, những khía cạnh nào của hệ thống đó có ảnh hưởng tiêu cực tới

TC và hiểu những yếu tố nào của hệ thống có thể tạo ra những thay đổi tích cực cho TC

Chương 6 sẽ cung cấp kiến thức về nguồn gốc của lý thuyết hệ thống, nguyên tắc, các khái niệm

của lý thuyết hệ thống và ứng dụng lý thuyết hệ thống vào phân tích trường hợp điển cứu

6.1 LÝ THUYẾT HỆ THỐNG

Nguồn gốc của lý thuyết hệ thống

Lý thuyết hệ thống được phát triển từ các nghiên cứu sinh học vào những năm 1920 Lý thuyết hệ thống tập trung nghiên cứu thế giới tự nhiên, các hệ thống nhỏ hơn, và các quy luật phổ biến chi phối các mối quan hệ trong các hệ thống Các nhà tư tưởng nổi tiếng đã nâng cấp lý thuyết Hệ thống trong ngành công tác xã hội gồm học giả Talcott Parsons, Robert Merton và Carel Germain Bà Carel đã làm việc với Alex Gitterman, người tiếp tục phát triển Lý thuyết Hệ thống và là người đã phát triển “Life Model, tạm dịch mô hình cuộc sống” từ lý thuyết hệ thống (Connolly & Harms, 2015; Doãn Thị Ngọc, 2013; Friedman & Allen, 2011; Germaine & Gitterman, 1996 ; Hutchison, 2008; Hutchison & Oltedal, 2014; Huỳnh Minh Hiền, 2013, 2014; Pincus & Minahan, 1973 ; Von Bertalanffy,1968)

Do đó, các học giả của ngành CTXH và Xã hội học cho rằng lý thuyết hệ thống nhấn mạnh vào giá trị xem một hệ thống như là một tổng thể, có được cái nhìn toàn bộ “thực thể”, trước khi xem xét từng bộ phận

Chính sự nhấn mạnh này đã định hình lên sự hình thành tư duy hệ thống và được ứng dụng trong thực hành CTXH từ những năm 1960 để thay thế cho các mô hình thực hành tâm thần trước đó Việc áp dụng quan điểm hệ thống vào giải quyết các vấn đề phức tạp

về tâm lý và xã hội là một cái nhìn mới mẻ, mà trong đó, khi một cá nhân có vấn đề sẽ tác động và ảnh hường tới các cá nhân, các bộ phận hay đơn vị có mối quan hệ với họ trong

hệ thống (Connolly & Harms, 2015; Doãn Thị Ngọc, 2013; Friedman & Allen, 2011; Hutchison, 2008; Hutchison & Oltedal, 2014; Huỳnh Minh Hiền, 2013, 2014; Pincus & Minahan, 1973, Von Bertalanffy,1968)

Do đó, khi thực hiện một tiến trình can thiệp cho TC thì thường không thể thiếu được quan điểm hệ thống Lý thuyết hệ thống là cách để NVXH xem xét, phân tích, lý giải, đánh giá vấn đề và lên kế hoạch can thiệp mang tính tổng hòa, hơn là tập trung vào từng

Trang 3

bộ phận hay từng thành tố riêng biệt Để giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu nhất,

NVXH cần giúp TC hiểu về các hệ thống và huy động các hệ thống hỗ trợ phi chính qui

như: gia đình, hệ thống bạn bè, hệ thống người thân, đồng nghiệp và hệ thống hỗ trợ chính qui gồm: câu lạc bộ, nhà thờ, nhà chùa, nhà trường, công đoàn, hội nhóm, và hệ thống xã hội như:

cơ quan chức năng tại địa phương (Connolly & Harms, 2015; Doãn Thị Ngọc, 2013; Friedman & Allen, 2011; Hutchison, 2008; Hutchison & Oltedal, 2014; Huỳnh Minh Hiền,

2013, 2014; Nguyễn Thị Oanh, 1998, 2012 ; Von Bertalanffy,1968)

Với quan điểm hệ thống, NVXH cần chỉ ra nguyên nhân gây ra vấn đề, chỉ ra được TC đang thiếu, đang cần, và đang có những hệ thống hỗ trợ nào xung quanh họ NVXH giúp

TC tìm ra được họ đang gặp trục trặc ở bộ phận nào, cấu trúc nào trong hệ thống và tìm cách giúp đỡ để họ sửa chữa, giải quyết ngay vấn đề đó NVXH giúp TC tiếp cận và tham gia vào các hệ thống một cách chủ động để họ tự thay đổi hệ thống và tự giải quyết các vấn đề của họ một cách có hiểu biết (Connolly & Harms, 2015; Doãn Thị Ngọc, 2013; Friedman & Allen, 2011; Hutchison, 2008; Hutchison & Oltedal, 2014; Huỳnh Minh Hiền,

2013, 2014 ; Von Bertalanffy,1968)

Chỉ khi nào TC được sự giúp đỡ, được tạo các điều kiện, và tham gia năng động vào các

hệ thống thì họ mới thực sự trở lại là chính họ Chỉ có TC mới biết họ mong muốn gì, họ cần làm gì và họ làm thế nào để hòa nhập, thích nghi nhanh vào với hệ thống - bối cảnh sống hiện tại Đây chính là cái đích cuối cùng mà CTXH hướng tới giúp TC tự quyết định, tự chọn trong hệ thống của họ

Các nguyên tắc của lý thuyết hệ thống

Theo các học giả Connolly & Harms (2015), Friedman & Allen (2011), Hutchison & Oltedal (2014), Von Bertalanffy (1968), những nguyên tắc dưới đây sẽ giúp NVXH định hướng và lên kế hoạch can thiệp gồm :

 Mọi hệ thống đều nằm trong một hệ thống khác lớn hơn

 Mọi hệ thống đều có thể được chia thành những hệ thống nhỏ hơn

 Các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi những ranh giới

 Mọi hệ thống đều tương tác năng động với những hệ thống khác, cái này tác động tới cái kia và ngược lại

 Mọi hệ thống đều cần đầu vào và đầu ra và phản hồi từ môi trường bên ngoài và bên trong để tồn tại, và

 Mọi hệ thống đều tìm kiếm sự cân bằng với những hệ thống khác, tìm cách thích nghi với các thay đổi trong và ngoài hệ thống

Những khái niệm của lý thuyết Hệ thống

Hutchison & Oltedal (2014), Huỳnh Minh Hiền (2013, 2014), Von Bertalanffy (1968),

Trang 4

NXVH áp dụng những khái niệm chính của lý thuyết hệ thống sau đây vào giải quyết vấn đề:

a Khái niệm hệ thống là tập hợp các bộ phận hay các thành viên phụ thuộc lẫn nhau và

tương tác qua lại năng động với nhau theo một trật tự nhất định và có ranh giới Nếu có

sự thay đổi trong một cá nhân hay một bộ phận trong hệ thống sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ

cá nhân khác hay bộ phận khác trong hệ thống

Ví dụ: Xe máy là một hệ thống, nếu xe máy hết xăng thì hệ thống xe máy sẽ không chạy được Hay gia đình là một hệ thống, các cá nhân trong gia đình là các tiểu hệ thống Các thành viên có sự tương tác, phụ thuộc qua lại với nhau Nếu một cá nhân bị đau ốm thì không chỉ tác động đến tâm lý, tình cảm, giao tiếp, thái độ của cá nhân đó, mà còn tác động đến tất cả các thành viên khác trong gia đình Ngoài ra, khi một cá nhân trong gia đình có vấn đề có thể giúp gia đình thay đổi nhanh và sự thay đổi này có thể sẽ tác động đến tất cả những thành viên theo hướng tích cực hay tiêu cực

b Khái niệm tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ Các tiểu hệ thống được

phân biệt với nhau bởi các ranh giới Ví dụ con cái là tiểu hệ thống trong gia đình, vai trò làm con khác với vai trò làm cha mẹ

c Khái niệm năng động là sự chuyển động liên tục, bởi vì trong thực tế các sự vật hiện

tượng hay vấn đề liên tục thay đổi, liên tục diễn ra dù chúng ta có muốn hay không Ví dụ: sức khỏe con người thay đổi tùy theo từng thời điểm trong ngày vì cơ thể sinh học là một hệ thống và trong cơ thể chúng ta luôn có sự chuyển động và thay đổi bởi các tế bào sinh ra và chết đi và bị tác động bởi ăn uống, thời tiết, giao tiếp, tương tác

d Khái niệm tương tác là sự trao đổi, tác động liên tục trong các hệ thống với nhau Ví dụ:

im lặng hay nói nhiều đều là tương tác Im lặng có thể được hiểu là đồng ý, có thể được hiểu là kém hiểu biết nên im lặng, có thể hiểu là chịu đựng, có thể hiểu là chiến tranh lạnh Sự tương tác này có thể tích cực hay tiêu cực

e Khái niệm đầu vào trong hệ thống là năng lượng, hay thông tin, hay giao tiếp từ môi

trường bên ngoài được đưa vào hệ thống thông qua ranh giới của hệ thống Ví dụ: Thức

ăn hay nước uống là đầu vào hay năng lượng để chúng ta duy trì sự sống

f Khái niệm đầu ra trong hệ thống cũng là năng lượng, hay thông tin, hay giao tiếp được

tác động trong các hệ thống thông qua ranh giới và phản hồi Ví dụ: đầu vào là thu nhập của gia đình thì đầu ra sẽ là chi tiêu Lời nói có hiểu biết là đầu vào và đầu ra là sự hài lòng, vui vẻ, nể phục hay hạnh phúc

g Khái niệm phản hồi là thông tin, năng lượng, hay giao tiếp được chạy qua hệ thống do

kết quả đầu ra có tác động tới môi trường, qua đó thấy rằng phản hồi có kết quả từ đầu ra

Khái niệm phản hồi tích cực làm gia tăng khả năng thay đổi, tăng khả năng tự điều chỉnh, tăng khả năng tổ chức và phát triển Trái lại, phản hồi không tích cực thì sẽ làm cho cá

Trang 5

nhân nản chí, làm giảm nhiệt huyết, làm giảm khả năng thay đổi và giảm khả năng tự điều chỉnh

h Khái niệm ranh giới trong hệ thống là giới hạn cho chúng ta biết cái gì nên làm và cái gì

không nên làm, hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không được chấp nhận

Ví dụ: Khi nghĩ tới ranh giới, chúng ta nghĩ ngay tới hàng rào, cửa, ổ khóa, quần áo, quy tắc chung, v.v để phân biệt đâu là bên trong và bên ngoài của hệ thống Các hệ thống có những ranh giới khác nhau Ranh giới giúp chúng ta hiểu về qui tắc, ứng xử, chuẩn mực, luật pháp, chính sách, giúp chúng ta có những hành xử văn minh, lịch sự, chất lượng cuộc sống tốt, an toàn, giúp chúng ta không vi phạm quyền của người khác và giúp chúng ta thiết lập mối quan hệ chuyên nghiệp Ranh giới giữa cha mẹ và con cái, ranh giới giữa thấy cô và sinh viên Ranh giới có thể xuyên qua được hoặc không xuyên qua được Theo các nghiên cứu, có ba loại ranh giới: ranh giới cứng nhắc, lỏng lẻo, và lành mạnh

Thứ nhất, khái niệm ranh giới cứng nhắc thể hiện sự xa cách rõ ràng giữa các cá nhân

trong gia đình hay tổ chức hay cộng đồng, giao tiếp giữa các thành viên thường bị tắc nghẽn, thái độ né tránh, cho qua hoặc khi nói chuyện thường cãi mắng nhau, đánh đập nhau, không bình bĩnh, không kiểm soát được hành vi, và không nghe khuyên bảo một cách dễ dàng

Kế đến, khái niệm ranh giới lỏng lẻo là ranh giới không rõ ràng, mất tính cách riêng tư,

độc đáo, khác biệt của từng cá nhân, khiến các cá nhân trong hệ thống quá phụ thuộc, quá gắn bó với nhau dẫn tới khó phân định đâu là cái riêng và đâu là cái chung, mất đi sự phát triển độc lập và mất đi bản sắc cá nhân

Cuối cùng, khái niệm ranh giới lành mạnh là ranh giới linh hoạt, uyển chuyển, và rõ

ràng Mọi người trong hệ thống có thể tin tưởng, cởi mở trao đổi, tôn trọng lẫn nhau, dám thảo luận, tranh luận, thẳng thắn với nhau nhưng vẫn duy trì sự gắn bó giữa các thành viên trong hệ thống, đồng thời, vẫn tạo được sự phát triển độc lập, tham gia chủ động, tự quyết, mức độ riêng tư, và trưởng thành của từng người

i Khái niệm hệ thống đóng là các cá nhân hay bộ phận khép kín, ít trao đổi, ít ảnh hưởng

từ môi trường bên ngoài Ví dụ một gia đình có hệ thống đóng có nghĩa là các thành viên trong gia đình đó giao tiếp hạn chế với nhau Khi có vấn đề xảy ra, họ có thể không bình tĩnh lắng nghe nhau, dễ hiểu sai nhau, dễ hờn trách, mắng mỏ nhau, hay dùng quyền lực

để kiểm soát, uy hiếp, đe dọa, lấn áp ý kiến, sự im lặng để an toàn nhưng thực ra là ấm

ức, không thừa nhận ý kiến đóng góp hay hành động của nhau

j Khái niệm hệ thống mở là sự tương tác, trao đổi thường xuyên với môi trường bên ngoài

Ví dụ: một gia đình có hệ thống mở có nghĩa là hệ thống này giúp cho các thành viên trong gia đình vừa có tính tự chủ vừa có tính phụ thuộc, cùng có cơ chế duy trì sự ổn định bản sắc trong gia đình, đồng thời giúp mọi thành viên thể hiện tính linh hoạt để thích

Trang 6

nghi và có khả năng tự thay đổi với môi trường xung quanh Đây là sự thăng bằng trong gia đình được duy trì qua sự phản hồi, ranh giới và quy tắc, chuẩn mực

k Khái niệm cân bằng là khuynh hướng duy trì sự ổn định và trạng thái cân bằng bất kể có

biến động trong hệ thống Trạng thái hệ thống mất cân bằng là khi hệ thống không thể duy trì bản chất cơ bản hay do những thay đổi hay biến cố lớn trong cuộc sống Ví dụ: khi

ta bị bệnh ung thư thì không chỉ hệ thống cơ thể sinh học của chúng ta bị mất cân bằng,

mà toàn bộ hệ thống gia đình của cá nhân đó cũng bị tác động về tình cảm, cảm xúc, thu nhập, thời gian v.v

l Khái niệm trạng thái thích nghi là dù bị tấn công bởi những lực bên trong hay bên ngoài,

dù có khoảng thời gian không ổn định do những biến đổi, biến cố thì hệ thống sẽ tự tìm cách thích nghi với vấn đề đó Nghĩa là mọi hệ thống đều có khả năng tự thay đổi, nhưng vẫn duy trì khả năng thích nghi với những biến động của môi trường Ví dụ: Khi mới phát hiện bị bệnh ung thư, chúng ta có thể sốc, buồn rầu, suy sụp, nhưng chúng ta có ý chí, được điều trị, được người thân quan tâm chăm sóc thì dần dần ta có dũng khí, bản lĩnh để thích nghi với bệnh tật và ổn định cuộc sống và sãn sàng chống chọi với bệnh hiểm nghèo

Tóm lại, chúng ta vừa tìm hiểu xong nội dung quan trọng của lý thuyết hệ thống, bao gồm: Nguồn gốc của lý thuyết hệ thống, những nguyên tắc của lý thuyết hệ thống, và các khái niệm của lý thuyết hệ thống Khi làm việc với TC, NVXH cần phải nắm vững lý thuyết hệ thống và các khái niệm để có thể hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề của họ Cách tiếp cận của lý thuyết hệ thống là cách tiếp cận thiên về điểm mạnh và nhấn mạnh cái tổng hòa trong toàn hệ thống, cái tổng thể quan trọng hơn là từng cá thể Tất cả những điều này ảnh hưởng tới môi trường ở cả 3 cấp độ thực hành :vi mô, trung mô & vĩ mô

6.2 CÔNG CỤ SƠ ĐỒ THẾ HỆ VÀ SƠ ĐỒ SINH THÁI

Chúng ta dùng công cụ sơ đồ thế hệ và sơ đồ sinh thái để phân tích, đánh giá và lên kế

hoạch can thiệp theo quan điểm hệ thống

6.2.1 Sơ đồ thế hệ:

Sơ đồ thế hệ được vẽ hay thực hiện cùng với thân chủ để có được một cái nhìn tổng quát

về cách thức quan hệ trong gia đình của TC Sơ đồ thế hệ biểu hiện mối quan hệ khi chúng ta xem xét gia đình hay con người trong mối liên hệ từ thế hệ này sang thế hệ khác

Sơ đồ thế hệ là một công cụ để đánh giá gia đình, nhìn thấy được hệ thống tình cảm gia đình, giao tiếp, sự gắn bó, tương tác giữa các thành viên, văn hóa-ứng xử của gia đình, cách thức tổ chức và phân định các thành viên qua các thế hệ

Ví dụ: Tâm là thân chủ (Nguyễn, 2006)

Trang 7

Giải thích & ghi chú biểu tượng:

Trang 8

6.2.2 Sơ đồ sinh thái-ECO MAP

Sử dụng quan điểm con người trong môi trường (PIE), quan điểm sinh thái, quan điểm

thế mạnh trong thực hành công tác xã hội, NVXH cố gắng tìm hiểu cá nhân và gia đình

trong bối cảnh môi trường sống của họ Sơ đồ sinh thái là một công cụ trực quan để tổ

chức và làm rõ thông tin về các mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân/gia đình và các hệ

thống môi trường xung quanh tại một thời điểm cụ thể

Sơ đồ sinh thái được vẽ hay thực hiện cùng với thân chủ để đánh giá nguồn lực và nguồn

hỗ trợ và những căng thẳng trong sự tương tác của gia đình với môi trường xã hội của họ

Nó có thể được sử dụng trong các bối cảnh thực hành với các cá nhân và gia đình Sơ đồ

sinh thái đặc biệt hữu ích trong tiến trình đánh giá và lên kế hoạch can thiệp vì nó sẽ giúp

cho cả TC & NVXH hiểu rõ hơn về bản chất của các mối quan hệ trong gia đình với các cá

nhân, các nhóm, các tổ chức và cộng đồng

H

o

Taâ m

Vaâ n Lan

Tieân

Trang 9

Ghi chú:

-Đường kẻ đậm: có mối quan hệ tốt

-Đường kẻ đứt đoạn: Mối quan hệ không thường xuyên

-Không có đường kẻ: Không có tương tác hay mối quan hệ

Trang 10

6.3 ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT HỆ THỐNG ĐỂ PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP ĐIỂN CỨU (CASE)

Giả định Case 10: Căng Thẳng Trong Gia Đình Bà Lâm

Bà Lâm năm nay 80 tuổi, nhưng chỉ ở nhà làm nội trợ và chưa bao giờ đi làm Hiện nay,

bà Lâm bị bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, bệnh cao huyết áp, bị thoái hóa cơ xương khớp, bị bệnh tiêu hóa Bà Lâm nghe không rõ nên nói lớn mới nghe được và mắt nhìn không tinh Chồng bà Lâm mới qua đời được 6 tháng Bà mới dọn vào ở với con trai bà được 3 tháng và ở trên lầu, nhưng nhà vệ sinh lại ở dưới lầu Con trai bà là An năm nay

52 tuổi, đang bị bệnh tim và bị đột quỵ cách đây 1 năm và vừa bị sa thải Con dâu bà là Hằng vẫn đi làm với đồng lương chỉ đủ ăn, gánh thêm nhiều công việc nhà, chăm sóc cho

mẹ già và chồng Tiền trong nhà ngày càng cạn kiệt, chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cao

Bà Lâm rất ít nói, ngồi nhìn xa xăm, không muốn ăn uống, không chịu uống thuốc đều, hạn chế đi lại trong nhà, không muốn tập thể dục Bà cảm thấy mình là gánh nặng cho con cái, nhưng không than phiền gì về sự chăm sóc của con cái An thường xuyên nóng giận, quát mắng bà và thậm chí chửi bà là “người vô dụng, người ăn bám” Bà Lâm cũng thừa nhận mình vô dụng Gia đình bà Lâm hầu như ít giao du với hàng xóm, bạn bè, bà con họ hàng Bà Lâm có được thẻ bảo hiểm dành cho người cao tuổi, nhưng khi mua thuốc thì cần phải trả thêm tiền thuốc Bà lâm cũng không chịu đi khám bệnh, ít đi lại, ngồi im lặng và nhìn xa xăm

Phân tích case bà Lâm:

Những nghiên cứu gần đây nhấn mạnh sứ mệnh và mục tiêu của ngành CTXH là hướng đến mọi người trong xã hội, nâng cao tình trạng an sinh hạnh phúc, nâng cao sức khỏe về tinh thần, về thể chất, về xã hội cho cá nhân cần được giúp đỡ, trong đó đặc biệt quan tâm tới nhóm dân số nghèo, bị tổn thương, bị yếu thế, bị phân biệt đối xử, bị áp bức, bị gạt ra khỏi dòng chảy phát triển của xã hội và đáp ứng nhu cầu cơ bản cho TC (Bernstein & Gray, 1996; Hare, 2004; Huỳnh Minh Hiền, 2013,2014; IFSW, 2017; Lê Văn Phú, 2004; Lê Chí An, 2012; Nguyễn Thị Oanh, 1998, 2012 ; Von Bertalanffy,1968)

Bên cạnh sứ mệnh và mục tiêu của ngành CTXH, một trong những giá trị cốt lõi của ngành CTXH là NVXH cần tôn trọng nhân phẩm và giá trị con người, không vội vã phán xét hay định kiến khi gặp bất kỳ TC nào TC là con người, có nhân phẩm, có giá trị sống riêng và cần được tôn trọng và đối xử bình đẳng NVXH cần tôn trọng và chấp nhận những hành vi, suy nghĩ, quan điểm hay giá trị riêng của TC thì mới làm việc được với

họ NVXH cần lắng nghe, cần học cách hiểu và đánh giá các vấn đề của TC theo cách suy nghĩ và hệ giá trị riêng của TC NVXH không được áp đặt giá trị, niềm tin cá nhân của mình vào TC khi làm việc với họ Điều này không có nghĩa là NVXH đồng tình với những

gì họ làm hay họ nghĩ Việc chấp nhận ở đây có nghĩa là NVXH ghi nhận những vấn đề của họ, không đổ lỗi thêm và không phán xét những hành vi, suy nghĩ, thái độ của TC (Connolly & Harms, 2015; Doãn Thị Ngọc, 2013; Friedman & Allen, 2011; IFSW, 2017;

Ngày đăng: 13/11/2022, 22:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w