Microsoft Word thang 10 1 doc Y häc thùc hµnh (739) – sè 10/2010 79 c¬ ®uîc c¾t söa ®Ó l¹i kíp dµi 2cm tÝnh tõ ®êng lîc, phÉu tÝch nh vËy sÏ h¹n chÕ g©y sang chÊn cho c¸c c¬ quan cËn kÒ Ngoµi ra, m[.]
Trang 1Y học thực hành (739) – số 10/2010 79
cơ đuợc cắt sửa để lại kớp dài 2cm tính từ đường lược,
phẫu tích như vậy sẽ hạn chế gây sang chấn cho các cơ
quan cận kề Ngoài ra, miệng nối giữa đại tràng lành với
ống hậu môn được thực hiện gần giống kỹ thuật Soave,
có cải tiến hơn miệng nối thông thường là có 1cm ống
thanh cơ của kớp phủ ngoài miệng nối Chúng tôi tin
rằng với kỹ thuật nối này, miệng nối được cung cấp máu
tốt và giảm nguy cơ rò miệng nối Kớp để lại ngắn có thể
tránh được hiện tượng táo bón dai dẳng tồn tại sau mổ,
mà hiện tượng này thỉnh thoảng vẫn thấy còn tồn tại
trong phương pháp Soave cổ điển
Trong nghiên cứu này, đường qua HM đã được áp
dụng thành công, không những cho thể loại có đoạn vô
hạch dài ở trực tràng mà còn cho cả loại có đoạn vô
hạch dài tới sigma Có 23 trường hợp đã phải phối hợp
với đường bụng do một số trường hợp bị căng mạch mạc
treo, một số trường hợp khác có đoạn vô hạch dài quá
sigma và một trường hợp do sigma giãn to có chứa khối
u phân Sau mổ, tất cả bệnh nhân đều đại tiện được bình
thường Theo dõi lâu dài là cần thiết để đánh giá chức
năng, đặc biệt là chức năng đại tiện Qua kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy, phẫu thuật theo phương
pháp Soave cải tiến, bằng đường qua HM là một trong
những phương pháp phẫu thuật có hiệu quả tốt, an toàn
có thể được lựa chọn để điều trị bệnh PĐTBS với chiều
dài đoạn vô hạch ở cả trực tràng và sigma Phẫu thuật
nội soi cần được phối hợp khi hạ đại tràng bằng đường
qua HM đơn thuần gặp khó khăn
kết luận
Kết quả thu được từ 132 bệnh nhân bị bệnh PĐTBS
được phẫu thuật theo phương pháp Soave cải tiến bằng
đường qua HM cho thấy đây là một phương pháp phẫu
thuật an toàn, có thể khâu nối một thì nếu có đủ kiện an
toàn cho miệng nối Phẫu thuật có thể thực hiện được ở
tuyến chưa có điều kiện kỹ thuật cao, nhưng phải là nơi
có khoa phẫu thuật nhi và có phẫu thuật viên giầu kinh nghiệm về bệnh PĐTBS
tài liệu tham khảo
1 De la Torre Mondragon L, Ortega Salgado JA
Transanal endorectal pull-through for Hirschsprung’s
disease J Pediatr Surg 1998;33:1283-1286
2 De la Torre-Mondragon L, Ortega-Salgado JA Transanal versus open endorectal pull-through for
Hirschsprung’s disease J Pediatr Surg 2000;35:1630-2
3 Elhalaby EA, Hashish A, Elbarbary MM, et al Transanal one stage endorectal pull-through for
Hirschsprung’s disease: a multicenter study J Pediatr Surg 2004;39:345-51
4 Georgeson KT, Fuenfer MM, Hardin WD Primary Laparoscopic pull-through for Hirschsprung’s disease in
infants and children J Pediatr Surg 1995;30:1017-22
5 Hedlund H Posterior sagittal resection for rectal
aganglionosis preliminary results of a new approach J Pediatr Surg 1997;32:1717-20
6 Langer JC, Durrant AC, de la Torre-Mondragon L,
et al One-stage transanal Soave pull-through for Hirschsprung’s disease: multi-center experience with
141 children Ann Surg 2003;238:583-5
7 Nguyen Thanh Liem*, Bui Duc Hau, Hoang Thanh
Son Modified Soave procedure through the posterior
sagittal approach for Hirschsprung’s disease J Pediatr Surg 2005;40:547-550
8 Nguyen T Liem, Bui D Hau Primary Laparoscopic Endorectal Colon pull-through for
Hirschsprung’s disease: Early results of 61 cases Asian Surg 2006;29(3):173-5
Khảo sát các kiểu tế bào trán của xoang trán dựa trên MS-CT 16
trên 125 trường hợp
Nguyễn Triều Việt
Bộ môn Tai Mũi Họng- ĐH Y Dược Cần Thơ
TểM TẮT:
Việc nghiờn cứu khảo sỏt cỏc kiểu tế bào trỏn của
xoang trỏn đó được thực hiện bởi nhiều tỏc giả ngoài
nước như Han DM (n=404)… , tuy nhiờn trong nước
vẫn chưa cú nhiều nghiờn cứu về vấn đề này Trong
nghiờn cứu này chỳng tụi thực hiện việc khảo sỏt cỏc
kiểu tế bào trỏn của xoang trỏn trờn 125 bệnh nhõn (250
bờn) dựa trờn MS-CT 16
Phương phỏp nghiờn cứu là mụ tả cắt ngang trờn
loạt bệnh nhõn, cỏch thức chọn mẫu thuận tiện Cỏc
trường hợp này được chụp MSCT 16 vựng đầu tỏi tạo đủ
3 tư thế là axial, coronal và sagital Cỏc kết quả thu
được là: tỉ lệ xuất hiện tế bào trỏn là 76/250 (30.4%),
trong đú kiểu I 49/250 (19.6%), kiểu II 22/250 (8.8%),
kiểu III 5/250 (2%), kiểu IV 0/250 Kết quả cho thấy tỉ lệ
xuất hiện cỏc tế bào trỏn, và cỏc kiểu tế bào trỏn là khỏ
đa dạng nếu khụng được đỏnh giỏ chớnh xỏc trước phẫu
thuật cú thể dẫn đến việc khụng phải phẫu thuật vào vị
trớ xoang trỏn mong muốn
Từ khúa: xoang trỏn, MS-CT 16
Summary:
An analysis of frontal cells depending on MSCT 16
on 125 cases Many foreign authors (such as Han DM (n=404)…) have done the studies to investigate the types of the frontal cells based on MSCT 16, but domestic authors have not done frequently In this study we investigate the types of frontal cells of 125 cases (250 sides) The study method is a cross-sectional description in serial cases These cases have been done MSCT 16 in head region with the remodeling in three positions including axial, coronal, sagital position The results include: the presentation of frontal cells 76/250 (30.4%), type I 49/250 (19.6%), type II 22/250 (8.8%), type III 5/250 (2%), type IV 0/250 The results express the variable formations of frontal cells, and types of frontal cells Keywords: frontal cells, MSCT 16
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi khảo sỏt xoang trỏn và ngỏch trỏn, người ta ghi
Trang 2Y häc thùc hµnh (739) – sè 10/2010 80
nhận một loạt các tế bào trán được thấy nằm ngay trên
tế bào Agger nasi, dọc theo thành trước ngách trán
Kuhn đã phân loại các tế bào này dựa vào sự liên hệ
của chúng với tế bào Agger nasi Hiện nay, bảng phân
loại Kuhn cải tiến của Wormald và Chan được xem là
bảng phân loại toàn diện nhất Theo đó, các tế bào
xoang trán được phân thành 4 kiểu: I, II, III và IV [5], [6]
Dựa vào bảng phân loại này, nhiều nghiên cứu về tỷ lệ
của từng kiểu tế bào xoang trán đã được thực hiện Các
tác giả gần đây đã dựa trên hình ảnh MSCT để khảo sát
tần suất tế bào trán nói chung cũng như tần suất của
từng kiểu tế bào theo Kuhn – Wormald
Hiện tại ở Việt Nam việc khảo sát các kiểu tế bào
trán vẫn chưa được nghiên cứu rộng rãi, việc phẫu thuật
xoang trán vẫn chưa được thực hiện một cách có hiệu
quả do việc khảo sát cấu trúc trước mổ chưa đầy đủ Do
vậy chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu khảo sát các kiểu
tế bào trán của xoang trán dựa trên MSCT 16 để giúp
hiểu rõ hơn cấu trúc xoang trán giúp cho việc phẫu thuật
hiệu quả hơn Việc phân loại dựa vào bảng phân loại
theo Kuhn-Wormald
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mục tiêu tổng quát
Khảo sát các kiểu tế bào trán của xoang trán dựa
trên MS-CT 16
2 Mục tiêu chuyên biệt
Khảo sát tần suất tế bào trán theo phân loại của
Kuhn – Wormald
Khảo sát tần suất các kiểu tế bào trán theo phân loại
của Kuhn – Wormald
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Xoang trán
1.1 Sự phát triển
Xoang trán có nguồn gốc từ ngoại phôi bì, được cho
rằng phát triển vào tuần thứ 16 Tròn 1 tuổi xoang trán
vẫn là một túi nhỏ, mềm và kín, và vẫn giữ tình trạng đó
cho đến gần 2 tuổi, khi quá trình khí hóa thứ phát bắt
đầu Từ 1-4 tuổi, xoang trán có kích thước không quá
4-8mm dài, 6-12mm cao và 11-19mm rộng Từ 3 tuổi,
xoang trán có thể thấy được trên CT-scan, đến 8 tuổi,
xoang trán được khí hóa nhiều hơn, có thể thấy được
trên nhiều phương tiện hình ảnh học hơn Sự khí hóa
vẫn tiếp tục đến 18 tuổi [2]
1.2 Giải phẫu
Người trưởng thành thường có 2 xoang trán hình
tháp, dẫn lưu bằng ngách trán hình đồng hồ cát, với
điểm hẹp nhất là ở phễu Các giới hạn của nó bao gồm
mặt trước là bóng sàng, mặt sau là tế bào Agger nasi
hoặc đôi khi là mỏm móc, thành bên là xương giấy, giữa
là cuống mũi giữa, phía sau là thành trước của bóng
sàng [2]
2 Tế bào trán
Phân loại Kuhn cải tiến của Wormald và Chan về các
tế bào trán [5], [6]:
- Tế bào K I: Một tế bào trán đơn lẻ, ngay phía trên
tế bào Agger nasi
- Tế bào K II: Một dãy các tế bào trán, nằm phía
trên tế bào Agger nasi
- Tế bào K III: Một tế bào trán khổng lồ, mở rộng
vào xoang trán
- Tế bào K IV: Một tế bào trán nằm hẳn trong
xoang trán, chiếm trên 50% chiều cao xoang trán
3 Tần suất tế bào trán theo các tác giả
Bảng 1 Tần suất tế bào trán theo các tác giả
Tế bào Han DM (n=404) [3] Zhang L (n=98) [7]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
1.1 Đối tượng
Các bệnh nhân chụp MSCT 16 vùng đầu tại Bệnh viện Hoàn Mỹ ® Cửu Long, từ tháng 4/2009 đến tháng 5/2010
1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Bệnh nhân chụp MSCT 16 vùng đầu tại Bệnh viện Hoàn Mỹ ® Cửu Long
- Bệnh nhân chụp MSCT 16 vùng đầu không tiêm thuốc cản quang, có đủ ba tư thế coronal, axial, sagittal
1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân chấn thương vùng mặt, viêm xoang trán
- Bệnh nhân dưới 18 tuổi
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên một loạt ca lâm sàng
2.2 Số lượng mẫu
Chọn mẫu thuận tiện: toàn bộ bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ Trong thời gian
từ tháng 4/2009 đến tháng 5/2010, số lượng thực tế đã thu thập được là 125 bệnh nhân
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Bệnh nhân được chụp MSCT trên máy Toshiba Aquilion 16, không tiêm thuốc cản quang
KẾT QUẢ
Khảo sát 125 bệnh nhân, có tất cả 250 bên
1 Tần suất tế bào trán
Bảng 2 Tần suất tế bào trán
Tế bào trán Số lượng (bên) Tỷ lệ (%)
Không xuất hiện 174 69,6
Nhận xét Trên tổng số 250 bên được khảo sát, có
76 bên xuất hiện tế bào trán, chiếm tỉ lệ 30,4%
2 Tần suất các kiểu tế bào trán theo phân loại Kuhn – Wormald
Bảng 3 Tần suất các kiểu tế bào trán theo phân loại Kuhn – Wormald
Kiểu tế bào trán Số lượng (bên) Tỷ lệ (%)
Nhận xét
- Tế bào K I chiếm tỉ lệ cao nhất 19,6% (49/250),
kế đến là K II chiếm tỉ lệ 8,8% (22/25)
- Tế bào K III rất ít xuất hiện, chỉ chiếm 2% (5/250)
- Không ghi nhận được tế bào K IV
BÀN LUẬN
Tế bào trán mặc dù rất đa dạng nhưng xuất hiện
Trang 3Y học thực hành (739) – số 10/2010 81
khụng nhiều Cỏc tỏc giả trước đõy ghi nhận tần suất
vào khoảng 33-39% [3], [7]
Trong nghiờn cứu của chỳng tụi trờn 125 bệnh nhõn
chụp MSCT 16, khảo sỏt trờn cả 3 mặt phẳng, tế bào
trỏn xuất hiện cũng khụng nhiều Tần suất của tế bào
trỏn là 30,4% Tuy nhiờn, đõy cũng là một tỷ lệ đỏng chỳ
ý vỡ làm tăng khả năng gõy nhầm lẫn khi can thiệp phẫu
thuật xoang trỏn
Trong đú, cỏc kiểu tế bào xuất hiện với tần suất cũng
khụng giống nhau Tất cả cỏc trường hợp mỗi bờn chỉ
xuất hiện một kiểu tế bào Tế bào K I và K II là hai kiểu
tế bào trỏn thường gặp nhất Hầu hết cỏc bệnh nhõn
nếu cú tế bào trỏn đều rơi vào một trong hai trường hợp
này Trong khi đú, tế bào K III xuất hiện rất ớt, chỉ 2%
(5/250) và tế bào K IV khụng được tỡm thấy
Do đặc điểm về vị trớ của K I và K II là ngay trờn tế
bào Agger nasi nờn chỳng rất gần với ngỏch trỏn, làm
phức tạp hơn vựng giải phẫu này Với tần suất ghi nhận
được, 19,6% đối với K I và 8,8% đối với K II, việc gặp
khú khăn khi tiếp cận vựng ngỏch trỏn là khụng thể trỏnh
khỏi
Tế bào K III và K IV tuy chiếm một tỉ lệ rất ớt, hoặc
hầu như khụng cú, nhưng chỳng cú kớch thước lớn và
nằm trong xoang trỏn Do đú, phẫu thuật viờn rất dễ
nhầm lẫn xoang trỏn thật sự với cỏc tế bào này
KẾT LUẬN
Qua khảo sỏt 125 bệnh nhõn với 250 bờn trờn MSCT
16 ghi nhận kết quả như sau:
- Tần suất tế bào trỏn của xoang trỏn là 30,4%
- Tần suất cỏc kiểu tế bào xoang trỏn theo phõn
loại Kuhn – Wormald:
+ Tế bào K I: 19,6%
+ Tế bào K II: 8,8%
+ Tế bào K III: 2%
+ Tế bào K IV: 0%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Siow Jin Keat, MD (2007), Parasinal sinus anatomy: Radiologic, endoscopic and anatomical correlations, Endo-PressTM, Germany
2 Stilianos E Kountakis, Brent A Senior, Wolfgang
Draf (2005), The frontal sinus, Springer, Germany
3 Han D., Zhang L., Ge W., Tao J., Xian J., Zhou B (2008), “Multiplanar computed tomographic analysis of the frontal recess region in Chinese subjects without frontal sinus disease symptoms”, ORL J Otorhinolaryngol Relat Spec, 70(2), 104-112
4 Moeller T.B., Reif E (2007), Pocket Atlas of Sectional Anatomy, Computed Tomography and Magnetic Resonance Imaging, Vol 1: Head and Neck,
3rd ed, Thieme, Stuttgart
5 Wormald P.J (2006), “Three-dimensional building block approach to understanding the anatomy of the
frontal recess and frontal sinus”, Operative Techniques
in Otolaryngology, 17, 2-5
6 Wormald P.J (2003), “The Agger nasi Cell: The Key to Understanding the Anatomy of the Frontal
Recess”, Otolaringol Head Neck Surg, 129, 497-507
7 Zhang L., Han D.M., Ge W.T., Ni X., Xian J.F., Wang X.Z., et al (2006), “Spiral computed tomographic
analysis of frontal recess regions”, Zhonghua Er Bi Yan Hou Tou Jing Wai Ke Za Zhi, 41(10), 743-747
Nghiên cứu tác dụng kháng đông trên mô hình thực nghiệm tăng đông bệnh lý của bài thuốc Bổ dương hoàn ngũ thang và viên nang Não Thông lạc
Nguyễn Minh Hà, Nguyễn Công Thực
Viện YHCT Quân đội
Tóm tắt
Viên nang Não thông lạc (VNNTL) được bào chế từ
bài thuốc Bổ dương hoàn ngũ thang (BDHNT) Nghiên
cứu, đánh giá tác dụng kháng đông trên mô hình thực
nghiệm tăng đông bệnh lý của VNNTL và nước sắc của
bài thuốc BDHNT (NSBDHNT), kết quả nghiên cứu cho
thấy: VNNTL dùng liều 0,6g/kg/24h và NSBDHNT tỷ lệ
1/1 liều 5 ml/kg/24h có tác dụng chống đông máu rõ trên
mô hình thực nghiệm gây trạng thái tăng đông máu bệnh
lý, thể hiện qua kết quả làm hồi phục thời gian Howell,
thời gian Quick, thời gian APTT, Fibrinogen, số lượng
tiểu cầu và nghiệm pháp rượu sớm trở về âm tính Tác
dụng kháng đông lô dùng VNNTL và NSBDHNT là tương
đương trên tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu
Từ khoá: Tăng đông bệnh lý, Não thông lạc, Bổ
dương hoàn ngũ thang
SUMMARY:
The capsule of Nao thong lac was processed from
Bo duong hoan ngu prescription Nao thong lac capsule
and extract of Bo duong hoan ngu prescription were
reaserched anticoaglulation on thrombophilia experimental model The reasults shown that: Nao thong lac capsule with dose 0.6g/kg/day and extract of
Bo duong hoan ngu prescription (ratio 1:1) 5ml/kg/day had blood anticoaglulation effect on thrombophilia experimental model through reinstatement of Howell time, Quick time, APTT time, Fibrinogen, amount of plaletes, alcohol test coming back negative There are
no different between Nao thong lac capsule and Bo duong hoan ngu prescription in research criticals Keywords: thrombophilia, anticoaglulation, nao thong lac capsule, Bo duong hoan ngu prescription
Đặt vấn đề
VNNTL được nghiên cứu bào chế từ bài thuốc BDHNT gồm các vị thuốc: Hoàng kỳ, Đương quy, Xích thược, Địa long, Xuyên khung, Hồng hoa, Đào nhân để
điều trị chứng bệnh bán thân bất toại, khẩu nhãn oa tà, trở ngại ngôn ngữ sau trúng phong (di chứng liệt nửa người, miệng méo mắt sếch, nói ngọng do đột quị não) của y học cổ truyền [1], [2], [3] Để có cơ sở khoa học