Friday, January 26, 2012 – Mùng 4 Friday, January 26, 2012 – Mùng 4 Tình dục đối với Phật giáo Vấn đề tình dục, vốn là vấn đề có tính “tabou”, cấm kỵ, trong hầu hết các nền văn minh nhân loại Cho đến[.]
Trang 1Friday, January 26, 2012 – Mùng 4
Tình dục đối với Phật giáo
Vấn đề tình dục, vốn là vấn đề có tính “tabou”, cấm kỵ, trong hầu hết các nền văn minh nhân loại Cho đến tận thế kỷ 19, vấn đề này mới dần dần được người Tây Phương nghiên cứu, ban đầu, trong sự phản ứng của xã hội và cả giáo hội Kyto , nhưng nay đã dần sáng tỏ Tuy thế, nó lại bộc lộ vấn đề “ám ảnh tình dục” nặng nề của xã hội Tây phương (Freud) khi họ nói nhiều về vấn đề “khoái lạc giác quan” hơn là “đạo đức tình dục”
Ngày nay, với nhiều trào lưu văn hoá, khoa học, bệnh học, …vấn đề tình dục tại Tây phương đã được soi rọi dưới nhiều lăng kính khác nhau
Ngược lại, truyền thống các xã hội Đông Phương vẫn còn là điều cấm kỵ , nên chỉ khép kín và tế nhị giữa mẹ và con gái, hay bạn cùng phái với nhau, để bảo vệ đạo đức xã hội nhưng lại thiếu
cơ sở khoa học và bệnh học Vì thế , vấn đề này vẫn còn trong hàng rào “tabou” bằng các hình thức giáo dục nhẹ nhàng (vì vẫn chưa dám đi vào chi tiết, do truyền thống đạo đức) , hoặc “tự kiểm duyệt” , hay dùng văn chương ẩn dụ
Còn truyền thống Phật giáo VN, vấn đề này không được đề cập đến, mà chỉ đề cập khía cạnh đạo đức theo giới điều thứ Ba của Ngũ giới
Theo Tâm-sinh-lý-học, Tính dục chỉ là một hành vi hướng-mục-đích của bản năng sinh tồn
của mọi sinh vật Tính dục là một giải pháp tuyệt vời của tiến hoá trong mục đích duy trì sự tuôn chảy của dòng sông sự sống vô hình, đó là sự bảo tồn và phát triển theo mọi hướng vốn gen của mẹ tự nhiên
Hiện tượng này, đã được các nhà khoa học khảo sát qua sự sinh sản của tất cả mọi sinh vật, từ thể đơn bào đơn giản nhất, đến những loại lưỡng tính, và các loài biệt tính Tính dục là hiện tượng tự nhiên như nó là, là một điều-kiện-tính của tồn sinh và tính dục, nó đã điều-kiện-hoá sự tồn sinh của mọi cá thể, mọi loài sinh vật Không có tính dục, chúng ta có tồn tại để nói về điều này ?
Xin phép được lướt qua cái nhìn về dục tính của các ngành khoa học, có thể là rườm rà, nhưng chắc chắn lại cần thiết cho sự phân tích vấn đề này :
Trích nhiều tài liệu :
…
Hệ Limbic, hệ viền bao quanh lõi trung tâm bộ não, hệ Limbic liên quan đến các hành vi xúc cảm và tính dục, cũng như ăn uống và gây gỗ Hệ Limbic là phần tiến hoá sau lõi trung tâm Cấu trúc hệ
Limbic chỉ có mặt tại các loài có Vú , cấu trúc này có liên quan đến các ứng xử có động cơ (động cơ thúc đẩy các hành vi), các trạng thái cảm xúc và các quá trình của trí nhớ (một số loại trí nhớ) Do ba đặc tính chung nhất này có ý nghĩa cốt lõi cho khả năng sinh tồn , nên các nhà tâm lý học xem hệ Limbic này như là một bộ phận của “não súc vật”, bởi nó đã hiện diện ở tất cả các loài có Vú và cũng có các
chức năng điều hoà thân nhiệt, huyết áp, nồng độ đường trong máu Nó giữ thế cân bằng bên trong cơ thể (cân bằng nội môi) lẫn thế cân bằng giữa cá thể với môi trường
Hệ Limbic có 3 cấu trúc :
Hải mã (hippocampus) : là phần lớn nhất của hệ Limbic, đóng vai trò quan trọng trong Trí nhớ, đặc
biệt là trong việc lưu trữ thông tin dài hạn (quá khứ xa) Sự tổn thương Hải mã làm ảnh hưởng đến khả năng nhớ các thông tin ( là đặt các thông tin mới vào trí nhớ dài hạn )
Hạnh nhân (amygdala) : Có vai trò quan trọng trong “tính gây gổ” , mặc dù cũng có liên quan đến
ăn uống và hành vi tình dục
Vùng dưới đồi (hypo-thalamus) : là cấu trúc nhỏ nhất của não, nhưng lại đóng vai trò sống còn trong
nhiều hành vi hàng ngày Nó gồm nhiều bó nơron điều hoà các quá trình sinh lý liên quan đến ứng
xứ có động cơ (như ăn uống, điều hoà thân nhiệt, kích thích tình dục) Nó còn điều hoà các hoạt
Trang 2động của hệ nội tiết và chế tiết ra các hormone Về mặt cơ bản, vùng dưới đồi duy trì một cân bằng nội tại (nội môi)
………
Hệ Nội tiết ( nội dịch) : là một mạng lưới các tuyến hoạt động và chế tiết ra các thông tin hoá học , là các
hormone Các tuyến nội tiết được kích thích theo 3 cách :
Nồng độ của các hoá chất trong máu
Các hormone khác có trong máu
Các xung động thần kinh từ não
Các hormone tiết ra, theo máu để đến các mô tế bào mục tiêu và chỉ ảnh hưởng tại chính nơi đó , có tính chất di truyền
Vùng dưới đồi có chức năng phụ trách một hệ nội tiết , như một đài tiếm sóng ; những tế bào chuyên biệt trong vùng dưới đồi này nhận các thông tin từ các tế bào khác của não ra lệnh cho tuyến Yên giải phóng một số hormone khác nhau
Tuyến Yên như một nhạc trưởng điều tiết sự tiết chế của hầu hết các tuyến nội tiết khác nhau , đồng thời
nó tiết ra hormone tăng trưởng
Tuyến Nội tiết Chức năng điều hoà của hormone tiết ra
Vùng dưới đồi Giải phóng các hormone tuyến Yên Thuỳ trước Tuyến Yên Tinh hoàn & Buồng trứng
Sản xuất sữa mẹ Chuyển hoá Các phản ứng với stress Thuỳ sau Tuyến Yên Bảo toàn lượng nước trong cơ thể
Tiết ra sữa mẹ
Co bóp tử cung Tuyến Giáp trạng Chuyển hoá
Tăng trưởng và phát triển cơ thể
Tuyến Tuỵ Chuyển hoá đường Thượng Thận Đáp ứng chống trả hoặc Bỏ chạy
Chuyển hoá Ham muốn tình dục ở Nữ Buồng trứng Phát triển các nét tính dục ở nữ
Sản xuất trứng Tinh hoàn Phát triển các nét tính dục ở nam
Sản xuất tinh trùng Ham muốn tình dục nam
………
Sự thành thục (maturation) :
○ Tại thời điểm mà trứng và tinh trùng của cha mẹ hợp tử nhau , chất liệu di truyền trong cả 2 bên cha mẹ
đã quyết định , trong một chừng mực nào đó , về cấu trúc cơ thể, sự ứng xử và sự phát triển của thai nhi tương lai
Sự di truyền áp đặt một số hạn chế nào đó, song, nó lại giúp bộc lộ một số ứng xử đặc hiệu mà không thể xảy ra cho các thành viên khác của các loài khác (về khác chủng loài)
Bản thiết kế do các gen cung cấp , hướng dẫn sự phát triển thế chất , cũng có trách nhiệm đối với sự xuất hiện một số các ứng xử đặc trưng tại cùng một thời điểm, đối với tất cả các thành viên bình thường của một loài ; mặc dù có những biến thiên về mặt văn hoá
Một số ứng xử cơ bản đề tồn tại (như động tác bú), nhưng một số ứng xử khác lại do những thúc đẩy từ bên trong, nhưng cần đôi chút trãi nghiệm (động tác ngồi hay đứng và đi)
Khi cấu trúc cơ bản về thể chất đã phát triển đầy đủ thì sự thành thạo trong ứng xử chỉ cần một môi trường thích hợp ở mức tối thiều và một chút thực hành (trãi nghiệm)
Trang 3Dường như các ứng xử được bộc lộ (thể hiện) từ “nội lực” theo một thời gian biểu được lập ra từ bên trong và do di truyền chi phối (đồng hồ sinh học), được xem là đặc trưng của các giống loài
Sự thành thục là nói về quá trình tăng trưởng điển hình cho mọi thành viên của một loài, trong cùng một điều kiện môi trường bình thường Sự thành thục gồm những thay đổi mang tính hệ thống trong sự vận hành của thân thể và ứng xử Những thay đổi mang tính hệ thống này chịu ảnh hưởng của :
Yếu tố di truyền
Yếu tố Hoá-Sinh (như dinh dưỡng…)
Yếu tố giác quan
Người ta cho rằng những yếu tố di truyền thúc đẩy những thay đổi thành thục, giúp cá thể chụẩn bị sẵn sàng cho những trãi nghiệm Ảnh hưởng của sự thành thục thể hiện rõ nét nhất trong thời kỳ đầu phát triển, nhưng nó vẫn tiếp diễn trong suốt cuộc đời
○ Thành thục về thể chất : sự bột phát phát triển tuổi dậy thì (pubescent growth spurt) Chỉ 2 hay 3 năm
sau khi bắt đầu bột phát, thì đưá trẻ bước vào tuổi dậy thì, còn gọi là chín mùi về tình dục Tuổi dậy thì đánh dấu trên Nam thanh niên bằng việc sản xuất ra tinh trùng ; Nữ thì bắt đầu hành kinh
Phần thành đạt một bản sắc cá nhân có liên quan đến thời hạn tập thành một cái “tôi” thực thể bằng cách
xuất hiện một hình ảnh thực tế chấp nhận ngoại hình của mình Sức hấp dẫn của “hình ảnh bản thân trong
tâm trí” ảnh hưởng đến cách chúng nhìn lẫn nhau trong tất cả các lứa tuổi
Trong thời kỳ này, mọi Aldo đều ngày càng quan tâm đến ngoại hình Thuật ngữ body image nói về con
người nhìn cái ngoại hình của mình một cách chủ quan Hình ảnh này không chỉ tuỳ thuộc vào các số đo lường, mà còn phụ thuộc vào các đánh giá của tha nhân và phụ thuộc vào các chuẩn mực văn hoá về vẻ đẹp ngoại hình (khuôn mẫu xã hội) Trong giai đoạn này, sự thay đổi gây ấn tượng về ngoại hình và ý nghĩa rất quan trọng và gia tăng về sự chấp nhận của bạn bè đồng trang lứa (nhất là các bạn khác giới) ,
có thể khiến mối quan tâm đến body image của chúng càng sâu sắc thêm Thông thường, ngoại hình là mối bận tâm lớn nhất của thiếu nữ , trong khi tài năng, thể lực là mối bận tâm lớn nhất của các thanh niên Với thời gian, các thanh thiếu niên dường như dễ chấp nhận hơn đối với ngoại hỉnh của mình Tuy nhiên, việc đạt đến body image tới mức chấp nhận được, có thể là một quá trình không dễ chịu
………
Tính dục -
Tính dục (sexuality) : Sự tạo thành các chuẩn mực ứng xử cá nhân hướng dẫn hoạt năng tính dục , họ có
thể phải đánh giá lại các giá trị bản thân và tha nhân trong ứng xứ tính dục mà trước đây chưa bao giờ được đặt ra
Đây là sự cân nhắc giữa xung năng và trí tuệ, giữa dục vọng và lý trí, giữa buông thả và trách nhiệm
Sự tiến hoá của tự nhiên không nhìn nhận sự sống độc thân và có xu hướng loại trừ nó rất nhanh : nếu trước đây, có xu hướng di truyền nào mang tính độc thân, thì các loài vật đó đã tuyệt chủng, trong khi, bất cứ xu hướng di truyền nào mang tính khao khát tính dục, cũng có thể tồn tại lâu dài do sinh sản
Do vậy, thiên nhiên đã ban tặng cho kích thích tính dục trở thành một khoái cảm mãnh liệt và là một nguồn động cơ độc nhất vô nhị theo nhiều cách :
Tính Dục là yếu tố cốt lõi cho sự sống sót các gen, chứ không phải cho cá thể mang gen đó
Tính Dục là động cơ thúc đẩy đủ loại ứng xử và các quá trình tâm lý không thường gặp
Tính Dục có thể xuất hiện độc lập với sự tước đoạt giới tính
Tính Dục có thể được đánh thức bởi hầu như bất luận kích thích nào : một sự xúc chạm, một
huyễn tưởng, hoặc một đối tượng , mà chúng là một sự tiêu biểu hoặc tượng trưng cho cơ hội được giao phối
Sự nghiên cứu về Tính Dục đã không được tiến hành một cách khoa học, nghiêm túc và cặn kẽ nhất,
do những cấm kỵ về mặt văn hoá, và tạo ra những ngăn ngại về mặt trãi nghiệm tâm lý một khi đề cập trực tiếp đến Tính Dục
………
Sự thức tỉnh tính dục không phải ở người (non-human sexual arousal) : các loài vật, sự thức tỉnh tính
Trang 4dục trước hết được quyết định bởi các quá trình sinh lý Con vật tiếp nhận giao hợp chủ yếu để đáp ứng với dòng chảy hormone được tuyến yên kiểm soát và do các tuyến sinh dục tiết chế ra
Ở các con đực, hormone này là androgene, chúng liên tục được tiết ra đủ để sẵn sàng giao hợp hầu như bất cứ lúc nào Tuy nhiên con cái thuộc nhiều loài, hormone giới tính là oestrogen được tiết ra tuỳ theo chu kỳ sinh học hay theo mùa Do đó, về mặt nội tiết, con cái không phải bao giờ cũng dễ dàng tiếp nhận giao hợp
Các hormone giới tính tác động lên cả bộ não lẫn các mô tế bào sinh dục, và thường dẫn đến một kiểu ứng xử rập khuôn (stereotyped sexual behavior) cho tất cả con vật thuộc cùng một loài
Các kích thích ngoại vi của một số loài có thể gây mẫn cảm hoặc hoạt hoá các kiểu đáp ứng bẩm sinh : cái nhìn, âm thanh, xúc chạm, …Một số loài khác tiết ra pheromone hấp dẫn bạn tình rất xa nhau
………
Nhiệm vụ của Tính Dục chỉ duy nhất là sinh sản Có 2 sự sinh sản :
o Không thông qua hoạt động tính dục : chỉ thích hợp với một môi trường có điều kiện ổn định cao
o Thông qua hoạt động tính dục : mang lại thuận lợi cho tính khả biến gen học, giúp cho thế hệ con được chuẩn bị về mặt gen học để tồn tại trong một môi trường luôn thay đổi Sinh sản theo phương cách này cần sự đồng bộ tính dục (sexual synchromy), nghĩa là :
o Một sự giao phối đích thực
o Đúng chỗ và đúng lúc
o Sẵn sàng mang thai
………
Tính Dục ở người : Phụ thuộc các yếu tố tâm lý nhiều hơn so với loài vật Mặc dù luôn vẫn tồn tại cái lõi động cơ đã tiến hoá của Tính Dục, để tồn tại của một sinh vật bậc cao, nhưng ứng xử tính dục của người còn mang theo tất cả những ràng buộc xã hội và những khích lệ hướng đến hoạt động tính dục
Các phases Tính Dục ở người bao gồm : Thức tỉnh Tính Dục do Kích thích gợi tình…
Tuy nhiên, theo các bằng chứng khoa học quan sát thì :
o Những trở ngại trong đáp ứng tính dục thường có nguồn gốc tâm lý Ở người, tính dục được quan
tâm về mặt thoả mãn các ước muốn nhận thức, ý nghĩa như niềm tin và các giá trị của tính dục….
o Những kịch bản tính dục là chương trình đáp ứng tính dục về mặt tập nhiễm xã hội
o Tính dục đồng giới và khác giới : đây là vấn đề cực kỳ phức tạp …………
………(Cơ sở Tâm lý học Ứng dụng – Chủ biên GS Đặng Phương Kiệt)
Như vậy, đối với con người, tính dục bao gồm 2 hoạt động
1 Hoạt động tự động do cơ chế sinh học tiến hoá khi có tiếp xúc khác giới (chỉ là điều kiện tiên khởi) Đây là bản năng , bản năng sinh tồn của một sinh vật và chỉ là một thực tại
đơn thuần
2 Hoạt động chủ động như là hệ quả của sự “in vết văn hoá vào trong tâm trí” trong nền
văn minh mà sản sinh ra các chuỗi “hành vi dục tính” trong từng cá thể và trong từng
nền văn minh, tính ngưỡng, đạo đức, tôn giáo Đây là bản năng trở thành thành thục
Cả hai điều này góp phần mạnh nhất làm “đẳng hướng” xã hội về chế độ hôn nhân và tổ chức thân tộc Các ngành Thân Tộc học, Ngữ học và Nhân chủng học cũng đã khám phá ra sự tương quan nhau giữa chuỗi hành vi tính dục và cấu trúc nhân chủng một cách có nhân quả
Tuy nhiên, “Ngọc bất trác, bất thành khí” , con người cũng chỉ là một sinh vật tiến hoá bậc cao
mà thôi, nên hoạt động tính dục này, nếu thiếu đi sự ràng buộc của đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội, và sự cưỡng chế nghiêm khắc của luật pháp, thì thực sự là một thảm hoạ
Với loài người, tính dục cũng thăng hoa thành sự chung thuỷ trong tình yêu Chẳng phải là những truyền thuyết hoa Forget-me-not hay Trương Chi-Mỵ Nương đã làm xúc động tuyệt đại
Trang 5đa số con người ?
Theo Tâm lý học Phật giáo – Abhidamma và Duy thức học – thì mỗi một hành vi hữu thức nào, (hành vi ở đây là hành vi biểu lộ qua cử chỉ và lời nói, hoặc chỉ là trong tư duy), dù nhỏ nhặt cách mấy, cũng ẩn dấu một hoạt động tâm trí đi trước đó, đó là dòng tư tưởng (tâm lộ)
Khi hành vi đã thành thói quen, thì dòng tư tưởng trở thành những rãnh tư duy đào sâu vào trong vô thức Sau này, chỉ cần một xúc chạm như ánh mắt, bóng dáng , tiếng nói … nói chung
là có thông tin liên quan kích thích giác quan, thì Tâm Lộ của thói quen thuần thục ấy trỗi dậy
và kích tác, sai sử những hành vi tạo nghiệp
Ví như, khi ta học lái xe, ban đầu, mọi hành vi tập lái đều là ý thức hữu thức – những Tâm lộ hoạt động để ghi nhớ vào não bộ (tâm Tadalambada) Khi ta đã chuyên rồi, thì lái xe chỉ là những hành vi tự động từ sâu trong vô thức hay tiềm thức , do đường tâm lộ này đã khoét sâu rãnh trong bộ nhớ tâm thức (Abhidamma và Duy thức gọi là Chủng tử tân huân)
Khả năng học tập lái xe nằm trong hoạt động tự động nói ở phần 1, là bản năng vận động của con người (chủng tử tiềm miên) ; khi đã thành chuyên rồi, thì bản năng trở thành thuần thục, chuyển qua hoạt động chủ động ở tầng mức 2 , tạo tác hành vi (nghiệp)
Dục tính cũng thế, lúc thơ ấu, đó là amour enfantine , chỉ là bản năng tiềm ẩn, nhưng là bản năng mạnh mẽ vô cùng , vì mẹ thiên nhiên tiến hoá đã ban cho nó sức mạnh để làm dòng sông
sự sống không ngừng tuôn chảy
Khi trưởng thành, thanh thiếu niên (Aldo) bị tập nhiễm qua bạn bè, sách báo, truyền hình, và có thể đã từng trãi, thì bản năng trở thành hiện thực: “biết cách lái xe thuần thục”, là amour sexualle, lúc này lộ trình tư duy bào thành rãnh sâu trong tiềm thức, tình dục đã trở thành phản
xạ có điều kiện lẫn vô điều kiện Nó sẽ thức dậy mãnh liệt một khi có xúc chạm và thúc đẩy con người đi đến hành lạc.
Đức Phật dạy : “….
1- Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
2 Ta không thấy một tiếng nào khác, …, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà Này các Tỷ-kheo, tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
3-.Ta không thấy một hương (thơm), một vị (ngọt), một xúc (chạm) nào khác, …, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương, vị, xúc (chạm của) người đàn bà Này các Tỷ-kheo, xúc (chạm của) người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
6 Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc người đàn ông Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn ông chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
7-10 Ta không thấy một tiếng (nói), một (mùi) hương , một vị , một xúc (chạm) nào khác Này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà, như tiếng, hương, vị, xúc (chạm của) người đàn ông Này các Tỷ-kheo, xúc (chạm của) người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.” – (Nikaya- Tăng Chi Bộ)
Nhiều tôn giáo đã tận dụng nỗi mê muội trong tính dục thuần thục của con người, để phát triển tôn giáo qua hình thức hôn nhân
Phật giáo không thế, Đức Phật chỉ dạy con người phải có hành vi tính dục phù hợp đạo đức, cao thượng và an toàn, điều mà tất cả những tiến bộ nhất của nền văn minh nhân loại xưa
Trang 6nay đều đã, đang và sẽ mãi mãi lấy làm chân lý
Trong truyện Nakulapita và Nakulamata, hai vợ chồng son trẻ,
Nakula thưa Phật : “Thưa Tôn giả, tôi đã cưới Nakulamata làm vợ từ ngày tôi còn trẻ Từ đó đến nay, tôi chẳng hề nghĩ đến sự phản bội đối với vợ tôi lần nào , huống chi là có sự ngoại tình Thưa Tôn giả, tôi luôn luôn muốn được có mặt bên Nakulamata trong đời này và cả trong các kiếp sống luân hồi nữa ”
Bà Nakulamata thưa Phật : “Thưa Tôn giả, tôi đã đến sống chung với Nakulapita trong ngôi nhà này của chàng, từ ngày tôi còn trẻ Từ đó đến nay, tôi chẳng hề nghĩ tưởng đến ai khác cả Thưa Tôn giả, tôi luôn luôn muốn sống bên cạnh Nakulapita trong đời này và cả trong các kiếp sống luân hồi nữa ”
Đức Phật dạy : “Nếu người đàn ông và người đàn bà sống chung nhau, hoà hợp muốn được ở mãi bên nhau trong nhiều đời kiếp, họ cần phải có chung một “niềm tin” , chung một “giới hạnh”, chung một lòng “từ mẫn” và một trình độ ngang nhau về “trí tuệ” hay “nhận thức” –
(Truyện Nakulapita và Nakulamata)
Và đạo đức tình dục , Phật dạy :
“….Ta không thấy một pháp nào đã thực hành rồi, đã thực hành nhiều rồi thành hạnh địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh ; (đó là) nếu sanh trong loài Người, ở nhà gian dâm không có tịnh hạnh, bị
người chê bai, thường bị phỉ báng Thế nào là một pháp ? Ðó là tà dâm.
- Nếu có người dâm dật vô độ, thích xâm phạm vợ người, liền đọa trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu sanh trong loài Người, khuê môn dâm loạn, ……
……hãy cẩn thận chớ dâm người khác Như thế, …hãy học điều này!” – (Tạp A hàm)
Còn rất nhiều truyện và kinh ngắn cho ta biết, Đức Phật còn dạy bổn phận làm vợ, bổn phận làm mẹ, bổn phận làm chồng, làm cha …
Đây là điều mà chẳng tôn giáo nào trong nhân loại có được, vì vậy, khi cho rằng Phật giáo cấm đoán tính dục một cách chung chung, là một sai lầm rất căn bản
Trong “Câu chuyện của dòng sông” do Herman Hesse viết, có đoạn ngắn “… sao dục lạc đắm say gần giống cảnh chết chóc đến như thế !” Nếu ta hiểu giáo lý Phật giáo và đã từng thực hành thiền, thì ta sẽ cảm nhận được nội hàm của câu này, “ý tại ngôn ngoại” !
Người ta đến với Phật giáo vì sự an lạc, vì hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho toàn thể chúng sinh, hoặc cao xa hơn, vì chứng ngộ minh trí, chứ không phải đến vì mục đích
“diệt dục” , một hội chứng masochism hay narcissism tiềm ẩn !
-o0o-Riêng , đối với Tăng đoàn cũng như Ni giới, những kẻ đã nguyện cắt ái, ly gia, vì hạnh phúc của thế nhân và của cả chư Thiên, thì vấn đề sinh hoạt tình dục là điều phải từ bỏ, từ bỏ từ trong ý chí và từ bỏ bằng cách xoá bỏ Lộ trình tâm thói quen tập khí dâm dục Vì đây là đời sống Sa Môn
Đức Phật dạy : (Nikaya-Kinh Sa Môn Quả): ….Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay
một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy (pháp giải thoát) Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai Khi có lòng tín ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: "Đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời Đời sống xuất gia phóng khoáng
như hư không Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh
Trang 7hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình" Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay tài sản
lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc.”…
Vậy, thời kỳ Phật tại thế, và cả sau này, khi các luận sư gọi là thời Nguyên Thuỷ, hay thời Thanh Văn, Duyên Giác, tình dục trong Tăng đoàn và Ni giới là điều phải từ bỏ, diệt tận Ái
Đến thời đại Phật giáo Phát triển, còn gọi là Đại Thừa, hay thời Bồ tát hạnh, tuy có sự tranh chấp trong Tăng đoàn, nhưng, tình dục vẫn là điều cần diệt tận
Trong bộ Đại kinh Maha-Prajna-Sutra, Đại Bát Nhã I – Quyển thứ 4 - Hội Thứ Nhất : Phẩm Học Quán thứ 2 – 2 , có đoạn : ……….
Khi ấy trời Bốn đại vương chúng ở thế giới kia cho đến trời Sắc cứu cánh, hoặc thấy hoặc nghe đều rất vui mừng đều khởi nghĩ này :
“Chúng ta phải làm các việc phương tiện để khiến Bồ tát này lìa phi phạm hạnh (Đại trí Độ :
xa lìa dâm dục) Từ sơ phát tâm cho đến thành Phật thường tu phạm hạnh
Sở vì sao? Vì nếu nhiễm sắc dục (Đại trí Độ: ngũ dục) , sinh nơi Phạm thiên vẫn có thể bị
chướng ngại, huống là được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề Cho nên Bồ tát đoạn dục (Đại trí Độ: diệt dâm dục) xuất gia là kẻ tu phạm hạnh, mới có thể được Vô thượng Chánh đẳng Bồ
đề, chớ chẳng phải kẻ chẳng đoạn.”
Tuy nhiên, Bồ tát đạo lý tưởng hoá việc nhập thế, cho nên kinh viết tiếp :
“Lúc ấy, Xá Lợi Tử thưa Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Các Bồ tát Ma ha tát là cần phải có cha mẹ, vợ con và các thân hữu sao ?
Phật bảo cụ thọ Xá Lợi Tử rằng: “Hoặc có Bồ tát có đủ cha mẹ vợ con quyến thuộc mà vẫn tu hạnh Bồ tát Ma ha tát
Hoặc có Bồ tát Ma ha tát không có vợ con, từ sơ phát tâm cho đến thành Phật, thường tu phạm hạnh chẳng hoại đồng chơn
Hoặc có Bồ tát Ma ha tát phương tiện khéo léo, thị hiện thọ ngũ dục rồi nhàm bỏ, xuất gia
tu hành phạm hạnh, mới được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Xá Lợi Tử! Ví như huyễn sư hoặc đệ tử y, giỏi nơi pháp huyễn, huyễn làm món món năm đồ
diệu dục, rồi với trong ấy tự lung cùng nhau vui khoái Nơi ý Ngươi nghĩ sao? Huyễn kia làm ra
là thật có hay chăng?
Xá Lợi Tử thưa: Chẳng vậy, Thế Tôn! Chẳng vậy, Thiện Thệ!
Phật bảo: Xá Lợi Tử! Bồ tát Ma ha tát cũng lại như thế
Vì muốn thành thục các hữu tình vậy, nên phương tiện khéo léo hóa thọ ngũ dục, thật thời
không có việc ấy Nhưng Bồ tát Ma ha tát này với trong ngũ dục rất sinh nhàm ghét, chẳng bị tội
lỗi ngũ dục làm ô nhiễm, nên mới đem vô lượng môn mà chê quở các món dục : Dục là lửa dữ,
vì đốt thân tâm vậy Dục là dơ uế, vì nhớp mình người vậy Dục là đầu sỏ, vì với đã sẽ đang thường làm hại vậy Dục là oán địch, vì đêm dài rình tìm làm suy tổn vậy Dục như đuốc
cỏ Dục như trái đắng Dục như gươm bén Dục như đống lửa Dục như đồ độc Dục như huyễn gạt Dục như giếng tối Dục như quỉ Chiên trà la giả trá kẻ thân thảy.
Xá Lợi Tử! Các Bồ tát Ma ha tát dùng vô lượng môn tội lỗi như thế thảy, để chê quở các món dục Đã khéo biết tội lỗi của các dục, thời đâu có chơn thật việc thọ các dục.”
Trang 8Bởi vì bản kinh đã nương nơi Đức Phật lịch sử – người đã từng có đời sống vợ chồng, nhưng đã cái ái, ly gia, diệt dục – và trở thành Bậc Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác
Tuy nhiên, câu kinh kế tiếp lại làm cho ý nghĩa bỗng trở nên nhập nhằng :
Nhưng vì nhiêu ích chỗ giáo hóa hữu tình, mới phương tiện khéo léo thị hiện thọ các dục
vậy thôi….
Vì có sự nhập nhằng chữ nghĩa, nên một số Tăng thoái hoá đã cố ý hiểu nhầm mà thế tục hoá Tăng nhân và Tăng đoàn, lìa xa đạo đức một bậc Chân tu , làm bại hoại Tam Bảo Họ là người ngoại đạo khoác áo Tăng già
Kinh Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận có đoạn :
"Bồ tát Văn Thù hỏi Phật: Sao gọi là Lục sư ngoại đạo ?
Đức Phật dạy : “Khi ta nhập diệt rồi, có nhiều thứ Ma ba tuần xen vào trong Pháp ta.
1 Ở chùa, cạo đầu, mặc áo Phật, chung lộn với người đời, ăn thịt uống rượu, nhơ bẩn đất Phật Đấy là ngoại đạo thứ nhất.
2 Còn có người dắt vợ, đem con vào chùa Học theo tà thuật, cho là để truyền lại cho đệ tử
Ăn thịt uống rượu Cũng đi làm chay, tụng kinh cho người Không phải ông thầy, không phải người tục Đó là ngoại đạo thứ hai.
3 Còn có những người tà, trên thì không có thầy truyền, dưới thì không có thầy chứng, bị
ma quỷ ám ảnh, mê muội Trí biết bậy bạ, cho là thông minh Chẳng có công tu, tự xưng thành đạo Bên ngoài làm giống theo Phật, trong tâm làm việc tà mị, phỉnh gạt người đời, theo vào đường tà, diệt hạt giống Trí của Phật Đấy là ngoại đạo thứ ba.
4 Lại có người làm theo việc hữu hình, học phép hữu vi, vẽ bùa, thỉnh chú, đuổi Quỷ, sai Thần, phỉnh gạt người đời , ác kiến càng nhiều thì chính kiến của Phật càng bị tiêu diệt Đây là ngoại đạo thứ tư.
5 Còn có người y theo việc tốt xấu, học theo chiêm quẻ, bàn luận cát hung, xem bói xem tướng, nói trước những điều họa phúc, dối chúng gạt người, tiêu diệt con mắt chính Pháp của Phật Đây là ngoại đạo thứ năm.
6 Lại có người sửa soạn hình tướng, bụng trống lòng cao Mình không có tài năng mà lòng
tự cao, cho mình là giỏi ; chưa có chứng ngộ, nói là đã chứng, đã ngộ Học được một hai câu nói của Phật, cho mình đã thấu lý Chẳng ăn dầu, muối, trà, quả, tương, dấm Chấp theo tà tướng, dối gạt người không Trí Chẳng cần xem Kinh, niệm Phật Chẳng cần làm Phúc tham Thiền Chẳng cần xuất gia thụ giới Chẳng cần tìm Thầy học Đạo Dám đem sắc thân uyển giả này mà ví cùng Phật không khác Lừa gạt người không biết vào nơi hắc
ám Dứt đoạn căn lành, tiêu diệt hạt giống Trí Tuệ Hay chấp trược những sự khờ khạo, ngu si Đây là ngoại đạo thứ sáu.
Sáu hạng ngoại đạo này là Ma ba tuần, đến thời mạt Pháp, xen vào giáo Pháp của ta, phá hoại Già Lam, huỷ báng chính Pháp của Phật, chê bai những giáo tướng, nghi thức tụng niệm
Nên, Phật dạy các vị Bồ tát Đại thừa phải đem nguyện lực, tùy chỗ ứng hiện Hoặc làm vị Đế vương, hoặc làm vị Tể quan, hoặc làm vị Trưởng giả, đều ở mỗi chỗ làm vị Đàn việt để tiêu trừ
tà đạo, ủng hộ chính Pháp, không cho tà ma tự tiện quấy phá, y theo lời Phật dạy Đây mới là Đệ
tử của Phật
Còn như thuận theo tà , là đồng với Ma ba tuần ngoại đạo, huỷ báng Pháp Đại thừa, đọa vào Địa
ngục như tên bắn Hễ đã mất thân người, muôn kiếp khó trở lại được.” ………….
Tóm lại, Phật giáo chỉ chấp nhận đạo đức tình dục của đời sống thế tục mà thôi Còn Tăng đoàn và Ni giới, những bậc tu hành tịnh hạnh, nằm giữ giềng mối giới bổn, thì phải diệt trừ, đoạn tận Khát Ái
Trang 9Tóm lại, biều đồ tiến hoá tính dục sau đây có thể cho ta có cái nhìn tổng quát :
Tiến hoá
Sự sống hình thành qua sự trao đổi chất
Để duy trì sự liên tục của chủng loài,
sự sinh sản bắt đầu xuất hiện
Quá trình tiến hoá thành sự ăn
Tháp thức ăn trong Sinh quyển
Và cái ăn là sự duy trì sinh tồn cá thể
được mã hoá thành di truyền tập
tính về cái ăn
Chưa phân ly giới tính Sinh sản vô tính
Bắt đầu phân ly giới tính Sinh sản lưỡng tính
Phân ly giới tính hoàn toàn Sinh sản hữu tính
Mã hoá vào hệ
di truyền tập tính và di truyền hình thái các loài sinh vật
Hệ di truyền của loài người chứa đến hơn 97% các mã di truyền của sự sống, dĩ nhiên, phải có chứa mã “trao
đổi chất” cho sự tồn sinh cá thể và mã “sinh sản” để duy trì dòng sông sự sống Các tế bào trong thân thể sinh vật, kể cả loài người, vẫn duy trì dạng sinh sản vô tính, trong khi vật chủ luôn sinh sản hữu tính (hoạt
động tự động tầng cấp1)
Đối với loài người, mã di truyền sinh sản hữu tính tác động trên các hiện tượng :
1. Hoạt động tự động do cơ chế sinh học tiến hoá khi có tiếp xúc khác giới ( chỉ là điều kiện tiên khởi), chỉ là một thực tại đơn thuần.
2. Khi trưởng thành, bị tập nhiễm qua bạn bè, sách báo, truyền hình, và có thể đã từng trãi, thì khả năng trở thành hiện thực “biết cách lái xe thuần thục” Những dòng tư tưởng trở thành rãnh sâu trong tiềm thức
Kết Luận : Sự thăng hoa hay chuyển hoá tính dục ở loài người chỉ có thể rơi vào một hoặc/và những
trường hợp :
1.- Những người có lý trí mạnh mẽ, họ ức chế, chế ngự và kiểm soát được hành vi tính dục Ở đây, những người này vẫn hoạt động tình dục theo hệ chuẩn mực luân lý đạo đức
2.- Những siêu ngã (super ego) theo Freud và Jung, những người này đã “thăng hoa” dục tính, chuyển hoá được mục đích & hành vi thấp kém của tính dục thành mục đích & hành vi cao thượng Trường hợp này, hoạt động tự động 1 – bản năng – vẫn còn, trong khi hoạt động chủ động 2 – lòng dâm – tuy vẫn còn nhưng đã thăng hoa , chuyển hoá hay chuyển hướng đối tượng hay mục đích.
3.- Những bậc Thánh Phật giáo, nơi họ, hoạt động 1 – bản năng – vẫn còn, nhưng hoạt đông 2 đã bị tận diệt, nghĩa là những lộ trình tâm dâm dục đã bị ủi phẳng, hoặc chí ít, chỉ còn tỳ vết mà thôi Bản năng này
có thể khôi phục lại bất cứ lúc nào, khi vị Tăng thiếu tu dưỡng, buông lung, mà hệ quả là họ “tu xuất”, trở thành cư sĩ tốt còn hơn là Tăng phạm trọng giới
Như vậy, chỉ có Phật giáo là có phương pháp dạy diệt trừ , san phẳng những lộ trình tâm bất thiện mà thôi.
Và do đó, nếu có người nào đã xuất gia, khoác Tăng bào, mà còn dâm dục, thì khó có thể cho người ấy là Tăng bảo, người đó chỉ là cư sĩ tại gia thôi hoặc như nhà truyền giáo Chiếc áo không làm nên thầy tu, trong trường hợp này