1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi Lịch sử Đảng

17 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 41,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỊCH SỬ ĐẢNG Chủ đề 1 a Chứng minh Đảng ra đời là yếu tố khách quan? Đảng ra đời là tính tất yếu khách quan Về lý luận Vào giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển và trở th.

Trang 1

LỊCH SỬ ĐẢNG Chủ đề 1:

a. Chứng minh Đảng ra đời là yếu tố khách quan?

Đảng ra đời là tính tất yếu khách quan:

- Về lý luận:

Vào giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển và trở thành chủ nghĩa Mác – Lênin

Chủ nghĩa Mác – Lê nin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra đảng cộng sản Sự ra đời đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức, bóc lột

- Về thực tiễn:

• Thế giới:

Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga giành được thắng lợi Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước

Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

• Tình hình trong nước

– Sự khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp đã làm gay gắt thêm các mâu thuẫn

cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam

– Tình trạng khủng hoảng kinh tế –xã hội , đặc biệt là các mâu thuẫn dân tộc và giai cấp

đã dẫn đến nhu cầu đấu tranh để tự giải phóng

– Độc lập dân tộc và tự do dân chủ là nguyện vọng tha thiết cả nhân dân ta: là nhu cầu bức thiết của dân tộc

Sự ra đời của Đảng là kết quả của quá trình lựa chọn con đường cứu nước

– Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc tuy diễn ra liên tục mạnh mẽ, nhưng các phong trào đều lần lượt bị thất bại vì đã không đáp ứng được những yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc

– Trong khi phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị khác nhau đang bế tắc về đường lối thì khuynh hướng vô sản thắng thế: Phong trào dân tộc đi theo khuynh hướng

vô sản

Trang 2

– Đảng Cộng sản ra đời để giải quyết sự khủng hoảng này.

– Đảng ra đời là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam

– Từ sự phân tích vị trí kinh tế xã hội của giai cấp trong xã hội Việt Nam cho thấy chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng – Nhiệm vụ giải phóng dân tộc đã đặt lên vai giai cấp công nhân Việt Nam

– Phong trào công nhân ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử tồn tại tự nhiên Muốn trở thành phong trào tự giác nó phải được vũ trang bằng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; Vũ khí lý luận và tư tưởng của giai cấp công nhân

– Giai cấp công nhân muốn lãnh đạo cách mạng được thì phải có Đảng cộng sản

– Sự thành lập Đảng cộng sản là quy luật của sự vận động của phong trào công nhân từ tự phát thành tự giác, nó được trang bị bằng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin – Nguyễn ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tìm thấy chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường giải phóng dân tộc theo đường lối cách mạng vô sản

– Nguyễn ái Quốc thực hiện công cuộc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về chính trị , tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam – Chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền bá vào Việt Nam đã thúc đẩy phong trào công nhân

và phong trào yêu nước phát triển

- Đến 1929, ở Việt Nam đã xuất hiện 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản đảng,

An Nam Cộng sản đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn

- Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản lúc bấy giờ là một xu thế khách quan của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Các tổ chức cộng sản trên đã nhanh chóng phát triển trên

cơ sở trong nhiều địa phương và trực tiếp lãnh đạo các cuộc đấu tranh của quần chúng Nhưng các tổ chức đó đều hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng của nhau, thậm chí công kích lẫn nhau làm cho phong trào cách mạng trong cả nước có nguy cơ bị chia rẽ lớn

Tóm lại, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930) là một thực tế lịch sử không thể phủ nhận, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử

b. Ở Việt Nam cần thực hiện chế độ đa Đảng?

Các khái niệm :

*** Nguyên: là hệ tư tưởng

*** Đa Nguyên: là nhiều hệ tư tưởng, lập trường

Hiện nay ĐCSVN chỉ lấy mình CN Mác-Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Vì vậy VN không chấp nhận

đa nguyên

*** Đa Đảng: nhiều Đảng cùng tồn tại trong một quốc gia

Trang 3

Việt Nam không chấp nhận chế độ đa nguyên, đa Đảng vì:

–Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là chế độ chính trị của chế độ XHCN; nghĩa là nước nào đi theo XHCN thì không thể đa nguyên, đa đảng đối lập

–Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không bảo đảm được dân chủ đích thực, vì bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân Muốn thực hiện được dân chủ thì trước tiên người lao động phải xây dựng nên một chính đảng cùng một chính phủ duy nhất đại diện cho quyền lực của mình Với một chế độ xã hội, một đất nước, chỉ có: hoặc quyền lực thuộc về giai cấp bóc lột hoặc thuộc về giai cấp bị bóc lột Không có thứ quyền lực hay dân chủ cho mọi giai cấp Bản chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản bóc lột Vì vậy, đa nguyên, đa đảng không bao giờ tiến tới một nền dân chủ đích thực

– Lịch sử ở Việt Nam cũng có thời kỳ đa đảng Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản còn có

sự tồn tại của hai đảng đối lập là Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội, khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng đó cũng giải tán theo

Có thời kỳ ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, còn tồn tại Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng

Xã hội Việt Nam Cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Sau đó hai đảng này đã tuyên bố tự giải tán và chỉ còn Đảng Cộng sản Việt Nam Vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sản phẩm tự nhiên, mang tính khách quan của lịch sử đất nước

– Nhân dân Việt Nam đã thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân che chở, xây dựng Nhân dân Việt Nam trìu mến gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta” Bài học từ sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu còn nguyên giá trị Từ khi chấp nhận bỏ Điều 6, Hiến pháp Liên Xô, đã dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả

là Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ Các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ hơn ai hết, nếu chấp nhận đa đảng, chế độ XHCN sẽ sụp đổ, đất nước sẽ rối loạn, đời sống nhân dân cả vật chất và tinh thần rơi vào tay các thế lực không trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động

và của cả dân tộc ta

– Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tiễn 85 năm qua của cách mạng Việt Nam

– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20

– Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, đưa sự nghiệp đó đến thắng lợi hoàn toàn

– Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới đất nước gần 30 năm qua giành những thắng lợi to lớn

Trang 4

– Tất cả những lý do trên khẳng định rằng chỉ có Đảng ta mới xứng đáng là người duy nhất đảm nhiệm vai trò lãnh đạo CMVN

Chủ đề 2:

a. Chứng minh thắng lợi CMT8 là kết quả của quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng?

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng lên phá bỏ xiềng xích nô lệ gần một thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và hàng nghìn năm của chế độ quân chủ; giành quyền làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời mới Mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng lên phá bỏ xiềng xích nô lệ gần một thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và hàng nghìn năm của chế độ quân chủ; giành quyền làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời mới Mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH

+ Một là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng nhân dân được chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa khi thời cơ đến.

Quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành cao trào cách mạng

1930 - 1931 Đặc biệt, trong thời kỳ cao trào kháng Nhật, cứu nước (thời kỳ tiền khởi

nghĩa), sau chỉ thị “Nhật pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày

12-3-1945, Đảng lãnh đạo quần chúng tiến hành khởi nghĩa từng phần, làn sóng khởi nghĩa phát triển mau lẹ, kịp thời và dâng lên gần như đồng thời ở nhiều nơi Nhân dân Việt Nam, nhất là quần chúng trong các tổ chức Cứu quốc, từ lâu đã sẵn sàng hy sinh để giành độc lập, quyết tâm chiến đấu

+ Hai là, Đảng tích cực vận động, lôi kéo tầng lớp trung gian đứng về phía cách

mạng.

Trong hệ thống lý luận của giai cấp vô sản, vấn đề tranh thủ tầng lớp trung gian có tầm quan trọng lớn mặc dù về cơ bản tầng lớp trung gian không đóng vai trò đầu tàu quyết định trong những bước ngoặt của lịch sử Nhưng khi các tầng lớp trung gian ngả về phía cách mạng thì nó tạo thêm điều kiện thuận lợi cho cách mạng thành công Trái lại, nếu Đảng lãnh đạo cách mạnh không tranh thủ được tầng lớp trung gian, thì nhiều khi thời cơ đã chín muồi mà vẫn không thể làm cách mạng thắng lợi nhanh chóng được

Trang 5

Tình cảnh khó khăn của tầng lớp trung gian là tiền đề tạo ra khả năng lôi cuốn họ vào con đường đấu tranh chống Pháp - Nhật Nhưng từ khả năng đến hiện thực là cả một quá trình vận động Chính sách của Đảng với tầng lớp trung gian trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám là: phê bình, uốn nắn, vạch đường lối, chân thành đoàn kết cùng nhau đưa cách mạng đến thành công Đảng giúp đỡ các tầng lớp trung gian lập

ra tổ chức của mình để phát huy năng lực phục vụ Tổ quốc Sự phê bình, giúp đỡ của Đảng đã làm cho quần chúng trung gian dần dần tỉnh ngộ và đi theo cách mạng Mặt khác, thực tiễn chứng minh những điều phê bình chỉ dẫn của Đảng là đúng Ngày 13-8-1945, sau khi Nhật đầu hàng đồng minh tầng lớp trung gian nói chung đều theo cách mạng

+Ba là, Đảng tiền phong đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, sẵn sàng lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền

Ngay từ năm 1930 tại Hội nghị thành lập Đảng, Chánh cương vắn tắt của Đảng xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam "Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập"(4) Đường lối chiến lược

và sách lược của Đảng đúng đắn ngay từ đầu và không ngừng được bổ sung, phát triển cho phù hợp với từng giai đoạn cách mạng.Đặc biệt tại Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương (5-1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì đã

đề ra chủ trương thay đổi chiến lược cách mạng Hội nghị quyết định tiếp tục chủ

trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tranh thủ mở rộng Trong một thời gian dài chuẩn bị lực lượng từ năm 1930 Đảng sẵn sàng lãnh đạo quần chúng nhân dân chớp thời cơ nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đây là nhân tố vô cùng quan trọng để cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi

 Tóm lại, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kết hợp chặt chẽ điều kiện khách quan và chủ quan: Kết hợp chặt chẽ đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng với trí sáng tạo, tinh thần dũng cảm và sức mạnh đấu tranh của nhân dân ta Trong đó, nguyên nhân chủ quan đóng vai trò quyết định Vì thời cơ cách mạng xuất hiện như một tất yếu, lịch sử đưa quần chúng đến ngưỡng cửa của khởi nghĩa giành chính quyền rồi trôi đi một cách nhanh chóng Nếu Đảng tiên phong không chuẩn bị đầy đủ, không kịp thời chớp lấy thời cơ thì dù điều kiện khách quan có thuận lợi đến đâu cách mạng cũng không nổ ra được

b. Phê phán quan điểm cho rằng thắng lợi CMT8 là sự ăn may.

Trang 6

Thực tế lịch sử cho thấy không bao giờ có “một sự ăn may” nào đối với những thắng lợi mang tính bước ngoặt của lịch sử và thắng lợi của Cách mạng tháng Tám cũng không ngoại lệ Đó là kết quả tất yếu từ sự chủ động, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh

-Nguyên nhân khách quan: CMT8 nổ ra trong bối cảnh quốc tế rất thuận lợi,kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phát xít Nhật đã bị Liên Xô và các lực lượng dân chủ thế giới đánh bại.Bọn Nhật ở Đông Dương và tay sai đã tan rã, Đảng ta đã chớp thời cơ đó phát động toàn dân nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng

- Nguyên nhân chủ quan: CMT8 là kết quả tổng hợp của 15 năm đấu tranh của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã được rèn luyện qua ba cao trào CM rộng lớn:Cao trào 1930-1931,Cao trào 1936-1939 và Cao trào vận động giải phóng dân tộc 1939-1945.Quần chúng CM đã được Đảng tổ chức,lãnh đạo và rèn luyện bằng thực tiễn đấu tranh đã trở thành lực lượng chính trị hùng hậu,có lực lượng vũtrang nhân dân làm nòng cốt CMT8 thành công là do Đảng ta đã chuẩn bị được lực lượng vĩ đại của toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, dựa trên cơ sở liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng ta là người tổ chức và lãnh đạo CMT8, vì Đảng có đường lối CM đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, nắm đúng thời cơ và chỉđạo kiên quyết,khôn khéo,tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố chủ yếu nhất, quyết định thắng lợi của CMT8 1945

1. Kể từ mùa Xuân năm 1930, sau hơn 9 năm ra đời, mặc dù có những giai đoạn cách mạng Việt Nam phải trải qua những khó khăn, thách thức khó lường, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước khẳng định uy tín, sức ảnh hưởng và năng lực lãnh đạo của một chính đảng cách mạng

2. Về tình hình quốc tế, khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến giai đoạn kết thúc, các nước đồng minh đã giải quyết vấn đề Đông Dương trên cơ sở lợi ích của mình mà không tính tới nguyện vọng và đóng góp của nhân dân nơi đây trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa phát xít Từ đó, số phận của Việt Nam và Đông Dương đã bị chúng định đoạt theo kiểu áp đặt, có tính chất thỏa thuận lợi ích Danh nghĩa là “đồng minh giải giáp quân Nhật” nhưng bản chất là “thực hiện lợi ích đã được thương lượng” giữa các nước thắng trận

3. Trở lại với tình hình Việt Nam, thực hiện Quân lệnh số 1, công cuộc Tổng khởi nghĩa chính thức diễn ta từ đêm 13 rạng sáng ngày 14/8/1945 Đến ngày 28/8/1945, các địa phương trong cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa giành được chính quyền về tay nhân dân

4 Giữa lúc lực lượng cách mạng và phản cách mạng, giữa dân tộc ta và bọn Anh, Mỹ,

Tưởng, Pháp đang diễn ra cuộc chạy đua giành lấy quyền làm chủ Việt Nam và Đông

Dương từ tay Nhật thì chúng ta nhờ đã tích cực chuẩn bị từ trước về mọi mặt, luôn

Trang 7

trong tư thế sẵn sàng tổng khởi nghĩa, bám sát tình hình để chớp thời cơ Do vậy, chỉ

trong vòng hai tuần lễ, chúng ta đã lật ngược được tình thế, thay đổi số phận từng bị Pháp, Nhật thống trị và các nước thắng trận trong thế chiến thứ hai đã “an bài”, thành một nước độc lập, có chủ quyền; đồng thời, chúng ta cũng làm cho nhân dân thế giới thấy rằng, “nhân dân Việt Nam không phải chỉ riêng mình mà chiến đấu mà còn vì hoà bình, dân chủ và độc lập trên thế giới mà chiến đấu”[6]

Nếu đặt cuộc Cách mạng tháng 8/1945 của Việt Nam trong bối cảnh khu vực, thế giới lúc bấy giờ và trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, chúng ta càng thấy sự vĩ đại, càng khâm phục tài năng, tính sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Với nhận thức ấy, chúng ta có đầy đủ cơ sở lịch sử khách quan để khẳng định rằng, thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam không thể là

“một sự ăn may”

Chủ đề 3:

Phân tích làm rõ chủ trưởng, biện pháp của Đảng để giữ vững chính quyền CM trong thời kì 1945-1946? Vì sao tổ chức bầu cử Quốc hội 6/1/1946 được coi là một biện pháp

để giữ vững chính quyền?

1. Phân tích làm rõ chủ trương, biện pháp của Đảng để giữ vững chính quyền

CM trong thời kì 1945-1946

a) Hoàn cảnh nước ta sau Cách mạng tháng Tám:

- Sau CM tháng 8, nước VN dân chủ cộng hòa ra đời, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đứng trước bối cảnh vừa có những thuận lợi

cơ bản, vừa gặp nhiều khó khăn to lớn

- Thuận lợi:

+ Hệ thống XHCN do Liên xô đứng đầu được hình thành

+ Phong trào CM giải phóng dân tộc phát triển, đồng thời phong trào dân chủ

và hòa bình cũng vươn lên mạnh mẽ

+ Chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập

+ Lực lượng vũ trang được tăng cường

+ Toàn dân tin tưởng và ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chính phủ VNDCCH do Hồ Chí Minh làm chủ tịch

- Khó khăn:

+ Để lại hậu quả như: nạn đói, nạn dốt, ngân quỹ quốc gia trống rỗng

+ Cán bộ các cấp quản lý đất nước còn yếu

+ Nền độc lập của nước ta chưa được công nhận trên thế giới

+ Quân đội các nước đế quốc ồ ạt kéo vào chiếm đóng Việt Nam, khuyến khích bọn Việt gian chống phá chính quyền CM nhằm xóa bỏ nền độc lập, chia cắt nước ta

+ Anh, Pháp đồng lõa với nhau nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, hòng tách Nam

Bộ ra khỏi Việt Nam

Trang 8

+ “Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, đất nước lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”

b) Chủ trương kháng chiến kiến quốc của Đảng:

- 25/11/1945, BCH TW Đảng ra chỉ thị về kháng chiến kiến quốc, vạch đường cho CMVN trong giai đoạn mới

+ Về chỉ đạo chiến lược: Đảng xác định mục tiêu quan trọng là CMVN là giải phóng dân tộc, với khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”, nhưng không phải giành độc lập mà giữ vững độc lập

+ Về xác định kẻ thù: Đảng chỉ rõ “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”, vì thế cần phải “lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược”

+ Về phương hướng, nhiệm vụ: Đảng nêu lên 4 nhiệm vụ cấp bách là “củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân, chủ trương nguyên tắc thêm bạn bớt thù”

 Ý nghĩa: Chỉ thị đã xác định đúng kẻ thù chính của dân tộc VN là thực dân Pháp xâm lược, kịp thời chỉ ra những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược

CM, nêu rõ 2 nhiệm vụ chiến lược mới của CMVN là xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ đất nước; đề ra những biện pháp cụ thể để khắc phục nạn đói, nạn dốt, chống giặc ngoại xâm,

2. Vì sao tổ chức bầu cử Quốc hội 6/1/1946 được coi là một biện pháp để giữ vững Chính quyền?

- Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, cùng với việc bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là cũng

cố và tăng cường chính quyền

- Chính quyền nhà nước ở nước ta được xác lập ngay từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 02-9-1945 Tuy vậy, Nhà nước đó, xét về mặt pháp lý lẫn phương diện tổ chức bộ máy, vẫn chưa phải là một nhà nước hoàn chỉnh Trên thực tế, Nhà nước ta lúc đó mới chỉ có một bộ máy hành chính mang tính chất lâm thời

Để bảo đảm tính pháp lý và uy tín của Nhà nước trước toàn thể nhân dân và cộng đồng thế giới, mặc dầu tình hình lúc đó cực kỳ khó khăn, phức tạp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: "Phải bầu ngay Quốc hội, càng sớm càng tốt Bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được"

- Bên cạnh đó, Chính quyền nước ta ngay sau khi thành lập phải đứng trước tình thế bị các thế lực đế quốc và tay sai ráo riết chống lại, hòng lật đổ Chính quyền

CM còn non yếu và thiết lập một chính quyền phản động, tay sai cho đế quốc

- Mặt khác, chính quyền cách mạng còn phải tiếp quản một gia tài đổ nát do chế

độ cũ để lại: công nghiệp phá sản, nông nghiệp đình đốn, tài chính kiệt quệ,

Trang 9

nạn đói đe dọa trầm trọng Hơn 90% số dân mù chữ, tệ nạn xã hội đầy rẫy, kinh nghiệm quản lý chính quyền chưa có Giặc ngoài, thù trong, khó khăn chồng chất đặt chính quyền cách mạng đứng trước thử thách 'ngàn cân treo sợi tóc' Vận mệnh của Tổ quốc, nền độc lập vừa giành được của dân tộc đứng trước nguy cơ mất còn

- Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để củng cố và tăng cường chính quyền là phải thực hiện quyền dân chủ cho quần chúng, phải 'xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức

- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: 'Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống,…”

Chính vì thế, việc tổ chức bầu cử Quốc hội 6/1/1946 được coi là một biện pháp

để giữ vững Chính quyền.

Chủ đề 4:

PHÂN TÍCH LÀM RÕ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN 1945 – 1954? Ý NGHĨA THẮNG LỢI CỦA KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Trả lời:

1 Hoàn cảnh lịch sử nước ta sau CM tháng 8

Thực dân Pháp có dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa Đảng ta đi đến quyết định phát động cuộc kháng chiến trên quy mô cả nước Hồ Chủ Tịch ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

3. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp :

a Âm mưu của thực dân Pháp

- Phát động cuộc chiến tranh ở Nam Bộ ngày 23/9/1945, những phần tử hiếu chiến trong giới cầm quyền Pháp bộc lộ rõ âm mưu tái chiếm Đông Dương lần thứ hai Với sức mạnh quân sự và vũ khí vượt trội, TDP hy vọng là sẽ “đánh nhanh, thắng nhanh” Cho nên tất

cả các hoạt động đối ngoại từ phía nhà nước ta cuối cùng đều bị vô hiệu hóa bởi dã tâm xâm lược của TDP Vì mong muốn hòa bình chúng ta đã phải nhân nhượng, còn TDP thì tìm mọi cách để thực hiện âm mưu xâm lược nước ta nhanh hơn

b Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp

***Đường lối kháng chiến chống Pháp được thực hiện thông qua các văn kiện:

Trang 10

+ Chỉ thị kháng chiến kiến quốc 25/11/1945 + Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của trung ương Đảng (12-12-1946) + Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (19-12-1946) + Tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của đồng chí Trường Chinh (9-1947)

*** Nội dung của Đường lối xác định:

- Mục đích kháng chiến: Đánh phản động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và

độc lập

- Tính chất kháng chiến: Cuộc kháng chiến của dân tộc ta có tính chất dân tộc giải

phóng và dân chủ mới

- Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: “Đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính,

dân nhất trí… Động viên nhân lực, vật lực, tài lực thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến Giành quyền độc lập, bảo toàn lãnh thổ, thống nhất Trung, Nam, Bắc Củng cố chế độ cộng hòa dân chủ…Tăng gia sản xuất, thực hiện kinh tế tự túc…”

- Phương châm tiến hành kháng chiến: tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện

kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mạnh là chính

+, Kháng chiến toàn dân: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ Hễ là người Việt Nam phải đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xóm là một pháo đài

+, Kháng chiến toàn diện: Đánh địch về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao Trong đó:

Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính

quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hoà bình

Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân,

tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh chính quy, là "triệt để dùng du kích, vận động chiến Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài vừa đánh vừa võ trang thêm, vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ"

Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát

triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng

Về văn hoá: Xoá bỏ văn hoá thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hoá dân chủ

mới theo ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng

Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực "Liên hiệp với

dân tộc Pháp, chống phản động thực dân pháp", sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập

Ngày đăng: 10/11/2022, 20:42

w