NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ Nguyễn Tuân I Tiểu dẫn 1 Tác giả Nhân thân 1910 1987, sinh ra trong 1 gia đình nhà Nho khi nền Hán học đã tàn Quê ở làng Mọc, quận Thanh Xuân, Hà Nội Vị trí, vai trò, sự nghiệp..................................................................................................................................................................................................................
Trang 1NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
-Nguyễn Tuân-I/ Tiểu dẫn
1/ Tác giả
-Nhân thân: 1910-1987, sinh ra trong 1 gia đình nhà Nho khi nền Hán học đã tàn Quê ở làng Mọc, quận Thanh Xuân, Hà Nội
-Vị trí, vai trò, sự nghiệp của nhà văn đối với nền văn chương nước nhà: là 1 nhà văn lớn suốt đời đi tìm cái đẹp, là một người nghệ sĩ có vị trí quan trọng và đóng góp không nhỏ đối với nền văn học Việt Nam hiện đại
-Phong cách nghệ thuật:
+Độc đáo, uyên bác, tài hoa Ông đã cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú để tìm cho ra những chữ nghĩa xác đáng nhất có khả năng lay động người đọc nhất
+Thúc đẩy thể loại tùy bút và bút kí văn học đạt đến trình độ nghệ thuật cao
=> Nguyễn Tuân được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996
2/ Xuất xứ, HCST
*Xuất xứ: xuất bản năm 1960 gồm 15 bài tùy bút và 1 bài thơ
*HCST: đây là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của chuyến đi đầy gian khổ và hào hứng đến Tây Bắc Vào năm 1958, mục đích của Nguyễn Tuân để tìm kiếm chất vàng mười của thiên nhiên Tây Bắc và chất vàng mười đã qua thử lửa của tâm hồn những con người Tây Bắc, đồng thời thỏa mãn niềm khát khao
“xê dịch” làm thay đổi thực đơn cho giác quan của người đọc
II/ Tìm hiểu tác phẩm
1/ Ý nghĩa lời đề từ
-”Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông” đã hé mở:
+Nội dung cái đẹp của Sông Đà
+Hé mở cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là ngợi ca cái đẹp
+Hé mở phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là ông luôn nhìn và khám phá sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mỹ
-”Chúng thủy giai đông tẩu-Đà giang độc bắc lưu” đã hé mở:
+Sự độc đáo của Sông Đà
+Hé mở được cái phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân: ông ưa tìm những gì phi thường, mạnh mẽ, mãnh liệt đi vào trang văn
2/ Phân tích hình tượng nghệ thuật sông Đà
*Giới thiệu Sông Đà trong tự nhiên:
-Sông Đà bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc sau đó đã nhập quốc tịch Việt Nam tại huyện Mường Tè, Lai Châu sau đó chảy vào sông Hồng ở Tam Nông, Phú Thọ
-Chiều dài của sông Đà là 900km (khi chảy vào Việt Nam là 500km)
-Sông Đà là 1 nguồn tiềm năng rất lớn cho ngành công nghiệp thủy điện ở Việt Nam
a/ Chất hung bạo của sông Đà
*Thể hiện ở “cảnh đá bờ sông, dựng vách thành”:
-Hình ảnh “đúng ngọ mới có mặt trời”-> gợi cái độ cao của vách đá-> làm cho mặt sông ở chỗ này tối, lạnh, âm u, nhỏ hẹp
-Nghệ thuật so sánh: “có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu”; “Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách”; “Có quãng con nai con hổ vọt từ bờ này sang bờ kia”-> nghệ thuật so sánh kết hợp với sự liên tưởng, tưởng tượng gợi ra dòng sông nhỏ hẹp với lưu tốc của dòng chảy rất lớn nhất là vào mùa nước lũ vì vậy luôn /tiềm ẩn/ mối nguy hiểm đe dọa đối với con người
*Thể hiện ở “quãng mặt ghềnh Hát Loóng”
-Nghệ thuật nhân hóa “dòng sông chuyên đi đòi nợ thuê”:
+Đòi nợ 1 cách rất dữ dằn, gắt gao “cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”
+Đòi nợ 1 cách rất vô lí “đòi nợ xuýt /bất cứ/ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy”
+Đòi nợ 1 cách tàn độc “đòi bằng tính mạng”
=> Sông Đà không còn là consông vô tri vô giác trên bản đồ địa lý nữa mà có tính cách giống như con người
-Nghệ thuật điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc câu kế hợp với thanh trắc tạo nên âm điệu dữ dội, dồn dập của dòng nước trước sông Đà “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồn gió gùn ghè suốt năm lật ngửa bụng thuyền ra”
-Kết hợp với nhịp câu văn ngắn, dài theo lối tăng tiến-> tạo nên sự hợp sức xô đẩy của sóng, đá, gió giúp cho người đọc cảm nhận được dòng sông sôi trào, cuồn nộ bởi sự chuyển động liên tục của sóng, gió, đá ngày càng tăng=> đây /thực sự/ là mối nguy hiểm của con người
*Thể hiện ở “những cái hút nước chết người trên quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La”
-Sự khủng khiếp tàn độc của sông Đà được tái hiện từ nhiều góc nhìn khác nhau:
Trang 2+Nhìn từ trên cao xuống lòng sông (góc thực): “giống như cái giếng bê tông đổ xuống sông để làm móng cầu”
+Nhìn từ dưới đáy sông nhìn lên mặt sông (góc tưởng tượng): anh bạn quay phim táo tợn nhìn lên
“thành giếng được xây toàn bàng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy, cả người quay phim, cả người đang xem
-Sự khủng khiếp, tàn độc của Sông Đà còn được tái hiện từ các vị thế trải nghiệm khác nhau trên Sông Đà:
+Đó là cái vị thế trải nghiệm của người quay phim táo tợn, dũng cảm
+Vị thế trải nghiệm của người xem phim sợ hãi “lấy gân để ngồi giữu chặt ghế như ghì lấy mép của một chiếc lá rừng bị vứt vào cái cốc pha lê nước khổng lồ
-Sự khủng khiếp và tàn độc còn được tái hiện bằng các giác quan khác nhau:
+Thị giác (giống phần phân tích bên trên)
+Thính giác: “nước ằng ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”; “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”-> qua đó người đọc cảm nhận cái cường lực khủng khiếp của những cái hút nước ở trên sông
=> Giải pháp của người lái đò:
-Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy
-Chèo đò phải “vững tay lái và chèo nhanh y như ô tô sang số ấn ga vút qua quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực”, tuy vậy vẫn nhận hậu quả khủng khiếp: “nhiều bè gỗ rừng bị hút nước lôi tuột xuống;
có những con thuyền bị cái hút nước hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược, đến mươi phút sau mới thấy mới thấy tan xác ở khuỷnh sông”
*Thể hiện ở chiến trường Sông Đà: tác giả Nguyễn Tuân đã tập trung bút lực của mình để mô tả Sông
Đà với những cái tảng đá thành hình, thành khối trên chiến trường của Sông Đà
-Thính giác: với âm thanh của tiếng nước thác đã khủng bố tinh thần của người lái đò rất khủng khiếp:
“
+Âm thanh rất phong phú: “nghe như là oán trách, như là van xin, giọng gằn mà chế nhạo rồi lại khiêu khích, ” sau đó là “rống lên”-> nghệ thuật nhân hóa
+Âm thanh là sự cộng hưởng bởi 2 đối tượng:
.Tiếng của một /ngàn/ con trâu mộng đang lồng lộn để thoát thân ra khỏi rừng lửa
.Tiếng nổ của /rừng/ vầu, /rừng/ tre nứa
-> Nghệ thuật số nhiều kết hợp với vế câu dài liên tiếp tạo cảm giác như đang bị dồn đuổi, lấn lướt -Thị giác: được thể hiện qua các trùng vi thạch trận ở trên sông
*Trùng vi thạch trận thứ 1:
-Đối tượng thứ 1: Đá
+Cả một chân trời đá, hòn thì ngỗ ngược, hòn thì nhăn nhúm, méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này-> thể hiện sự giận dữ, tức tối của đá
+Chúng bày binh bố trận theo binh pháp của Tôn Tử: bao gồm có 5 cửa trận, 4 cửa tử và 1 cửa sinh lập
lờ về phía tả ngạn được chia thành 3 hàng: tiền về, trung vệ và hậu vệ Ở hàng tiền vệ thì “nó đứng nó nằm nó ngồi tùy theo sở thích tự động của đá to, đá bé” Ở hàng trung vệ, nhiệm vụ của chúng là “đánh khuýp quật vu hồi” nhằm đánh lừa con thuyền của đối phương Ở hàng hậu vệ, thì nhiệm của “những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở tuyến ba phải đánh tan cái thuyền và tiêu diệt tất cả thuyền trưởng
và thủy thủ ngay ở chân thác”
-Đối tượng thứ 2: Nước thác
+Hò la vang dậy thanh la não bạt nhằm uy hiếp tinh thần của đối phương
+Ùa vào bẻ gảy cáng chèo trong tay của ông lái
+Nước thác như thể quân liều mạng phóng thẳng vào đá trái, thúc gối vào bụng và hông thuyền có lúc chúng đội cả thuyền lên, sóng thì như một tên đô vật túm láy thắt lưng của ông đò và đánh đến miếng đòn hiểm đọc nhất “Cả cái nguồn nước vô sở ấy bóp chặt lấy cái hạ bộ của người lái đò”-> nhưng chúng vẫn không thể thắng được người lái đò
*Trùng vi thạch trận thứ 2: chúng liền thay đổi chiến thuật cho phù hợp
-Đối tượng thứ 1: Đá
+Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn +Chỉ có một luồng sinh là một cái thằng đá tướng đứng chiếm ở giữa để ngăn cản các thuyền đối phương vào
-Đối tượng thứ 2: Nước thác
+Dòng thác /hùm beo/ đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá
+Bốn năm bọn thủy quân thủy quân cửa ải nước bên bờ trái định liền xô ra định níu con thuyền lôi vào tập đoàn cửa
->Đây là một thử thách vô cùng khó khăn và gian nan đối với người lái đò và chúng vẫn chưa giành được lợi thế
Trang 3*Trùng vi thạch trận thứ 3: chúng vẫn tiếp tục thay đổi chiến thuật: ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cửa sinh lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác tạo nên một bức tường thép rắn chắc-> Sông Đà quả thật là đối thủ nham hiểm của những người lái đò
Tiểu kết: Nguyễn Tuân đã dùng sức mạnh điêu khắc của ngôn từ, đã thổi hồn vào từng thớ đá trên sông
Đà Đồng thời, ông đã huy động tất cả các giác quan cùng với vốn hiểu biết sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống nghệ thuật và lao động đã giúp cho người đọc cảm nhận được những nét hung bao hùng vĩ của vùng đất Tây Bắc mà tiêu biểu là con sông Đà “kẻ thù số một của con người” Đồng thời, nó còn mang nỗi đau sâu xa của tình yêu:
“Núi cao sông hãy còn dài Năm năm báo oán đời đời đánh ghen”
b/ Chất trữ tình của Sông Đà
*Góc nhìn từ trên cao: đã có vài lần, tác giả đi trực thăng nhìn xuống Sông Đà để chứng tỏ sự hiểu biết đến tận cùng mà không thể là sự hời hợt hay nông cạn khi ông bày tỏ trên trang văn của thể loại tùy bút Lúc này Sông Đà mang vẻ đẹp của một mỹ nhân
-Như 1 sợi dây thứng ngoằn nghòe ở dưới chân như 1 áng tóc trữ tình ( mở rộng “Dục Thúy Sơn”-Nguyễn Trãi): “con Sông Đà tuôn dài tuôn dài đốt nương xuân”
-Dòng nước như một áng tóc trữ tình:
+Nghệ thuật: so sánh, nhân hóa
+Vẻ đẹp hài hòa của núi rừng Tây Bắc: mái tóc giống như đang ôm trọn thân hình của cô gái Tây Bắc -> dòng sông được ví như mái tóc của 1 người con gái kiều diễm, ôm trọn lấy thân hình trông rất gợi cảm
+”bung nở hoa ban (màu trắng) hoa gạo (màu đỏ) tháng 2”: màu trắng tượng trưng vẻ đẹp thanh khiết, màu đỏ tượng trưng cho vẻ đẹp lộng lẫy, nguy nga-> màu sắc của 2 loài hoa căng tràn mùa xuân-> một sức sống mới đang trỗi dậy của vùng đất Tây Bắc
+”cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”-> người đọc liên tưởng đến 1 tấm voan huyền ảo của dòng sông
-Màu nước Sông Đà được thay đổi theo mùa: “mùa xuân dòng xanh ngọc bích phiết vào bản đồ lai chữ”
*Góc nhìn từ bờ bãi Sông Đà mang vẻ đẹp của một cố nhân, một tình bạn tri âm, tri kỉ:
-Nước Sông Đà-> giống như 1 miếng gương lóe sáng-> đó chính là trò chơi của con trẻ hồn nhiên và trong sáng
-Nắng Sông Đà-> Nguyễn Tuân cảm nhận như một thế giới của Đường thi -> vẻ đẹp thật nên thơ và thi
vị “Tôi nhìn cái miếng sáng lóe há Dương Châu”
-Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà thì giống như 1 khu vườn cổ tích, tuổi thơ với 1 tâm trạng rất ngỡ nagngf của tác giả “nó đầm đầm ấm ấm như gặp lại cố nhân”
*Góc nhìn từ giữa lòng Sông Đà mang vẻ đẹp của một người tình nhân
-Vẻ đẹp của một sự vắng vẻ, tĩnh lặng tạo nên sự vắng vẻ, yên bình “Cảnh ven sông ở đây lặng như tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”-> sự yên ả, tĩnh lặng đến tuyệt đối-> chứng tỏ rằng bao năm qua vẻ đẹp hoang sơ vẫn còn nguyên vẹn
-Vẻ đẹp tươi mới đầy sức sống: “Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”, “Thuyền tôi trôi qua lá ngô non đầu mùa”-> dấu hiệu cuộc sống mới được hồi sinh sau chiến tranh
-Một vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên tuổi xưa”->
vì vậy Sông Đà trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều thi nhân “Dải Sông Đà bọt nước lênh bênh- Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà)”
3/ Phân tích hình tượng nhân vật người lái đò Sông Đà
Bằng sự quan sát và khả năng miêu tả rất chuẩn xác, Nguyễn Tuân đã dựng nên hình tượng người lái
đò hết sức độc đáo
a/ Tuổi tác, công việc: thường gọi là người lái đò Lai Châu trên 70 tuổi ông đã dành phần lớn đời mình cho nghề lái đò
b/ Chân dung ngoại hình in đậm dấu ấn nghề nghiệp “tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông thì ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như mong một cái bến xa nào đó trong sương mù”-> qua những từ láy gợi hình, gợi cảm, những hình ảnh so sánh ví von, độc đáo gắn liền với hình ảnh của nghề nghiệp trên sông nước gợi ra hình ảnh một ông lái đò gân guốc, khỏe mạnh, lanh lẹ như một thanh niên cường tráng đặc biệt là: “cái đầu quắc khước đặt trên một thân hình cao to, gọn quánh như chất sần, chất mun”
-Thân thể ông cũng mang đậm dấu ấn nghề nghiệp: “Trên ngực có những vết bầm tím được xem như là những huân chương lao động siêu hang mà vùng đất Tây Bắc đã ban tặng cho ông lái đò”-> chứng tỏ ông là một con người rất yêu nghề, gắn bó với nghề và dày dặn kinh nghiệm
Trang 4c/ Vẻ đẹp phẩm chất của ông lái đò: một người lao động trí dũng, một người nghệ sĩ tài hoa trong
nghệ thuật vượt thác leo ghềnh
-Hoàn cảnh sống của người lái đò: là cuộc đấu tranh với thiên nhiên để giành sự sống từ tay nó về tay mình, hằng ngày người lái đò phải đối đầu với các kẻ thù trên sông nước: vách đá, những cái hút nước ghê rợn, thác nước và đá ở trên sông, chúng đã bày thạch trận như 1 la bàn khổng lồ, 1 trận đồ bát quái đã khủng bố tinh thần những người chiến sĩ làm nghề sông nước
-Ông đò là một con người từng trải, hiểu biết, thành thạo nghề lái đò và đã đạt đến trình độ “lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”
-Trí nhớ tuyệt vời của ông lái đò về Sông Đà thật đáng khâm phục, ông thuộc lòng con Sông Đà như thuộc một thiên trường ca, thuộc đến cả những dấu chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng -Người lái đò hiểu biết sâu sắc đối tượng, nắm vững được quy luật biến đổi và tính tình phức tạp của Sông Đà
-Ông biết bọn đá mai phục và dàn bày thạch trận trên sông, nào là đá tảng, đá hòn chia 3 hàng tiền vệ, nào là những boong-ke chìm ở tuyến 2 và những pháo đài nổi ở tuyến 3
-> ông lái đò hiểu biết đối phương, chúng rất ranh ma, xảo quyệt, nham hiểm nhưng con thuyền chỉ một mình đơn độc với 6 bơi chèo thật mạo hiểm, nhỏ bé, mỏng manh (nghệ thuật tương phản)
-Với lòng quả cảm, niềm tin vào bản thân, người lái đò như 1 viên tướng xung trận oai phong, tỉnh táo
để ứng phó linh hoạt qua 3 vòng vây thạch trận
*Vòng vây thạch trận thứ 1: bọn đá đứa thì hất hàm, đứa thì thách thức, mặt nước hò la vang dậy, ùa vào bẻ gãy cáng chèo, sóng nước thì đá trái, thúc gối vào bụng và hông thuyền như ông đò cố nén vết thương, 2 chân vẫn kẹp chặt cuống lái, mặt méo bệch đi nhưng tiếng chỉ huy vẫn ngắn gọn và tỉnh táo của người cầm lái
-> đây là cuộc tỉ thí giữa 2 đô vật quá chênh lệch về sức lực và thế võ nhưng người lái đò đã chiến thắng ở sự bình tĩnh, gan dạ, dũng cảm và quyết tâm cao độ
*Vòng vây thạch trận thứ 2: ông đò nắm chắc được binh pháp của thần sông thần đá và thuộc được quy luật phục kích của lũ đá Người lái đò cũng thay đổi chiến thuật: “cưỡi lên thác Sông Đà như cưỡi hổ”,
“chỗ thì rảo bơi chèo lên, chỗ thì đè sấn, chỗ thì chặt đôi ra để mở đường tiến”-> hàng loạt những động
từ cho thấy người lái đò thông minh, chủ động, đầy kinh nghiệm lấn lướt con Sông Đà
*Vòng vây thạch trận thứ 3: Sông Đà sắp đặt bên phải, bên trái đều là luồng chết, luồng sống thì ở chính giưã, người lái đò phóng thẳng thuyền chọc thẳng vào cửa giữa, vút vút, thuyền như mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước
-> với biện pháp nghệ thuật so sánh, nhằm thể hiện trình độ lái đò đạt tới sự tài hoa, điêu luyện, người lái đò táo bạo, quyết liệt, dũng cảm, thông minh và dày dặn kinh nghiệm Laí đò nhanh và chính xác như tên bay khỏi nỏ cắm trúng đích đến
-Đức tính ung dung và khiêm tốn của người lái đò: sau khi đưa con thuyền vượt qua 3 vòng vây thạch trận đầy khó khăn, nguy hiểm sau đó chẳng ai bàn thêm 1 lời nào về những chiến thắng vừa qua trên ải nước đầy những tướng dữ, quân tợn, họ chỉ bàn về những cá anh vũ, cá dầm xanh, -> chứng tỏ họ thật khiêm nhường, cái phi thường đã trở thành cái rất đỗi bình thường và chất chiến sĩ hòa vào phong thái tài hoa của người nghệ sĩ
Đề luyện tập: phân tích phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tác phẩm “Người lái đò Sông Đà”