Nguyễn Thế Bảo – Góc học tập YAB41 CTUMPBài soạn cô đọng các phần quan trọng nhất dịch từ: Goldberger’s clinical electrocardiography 8th edition 1.. ECG electrocardiogram: biểu đồ điện t
Trang 1Nguyễn Thế Bảo – Góc học tập YAB41 CTUMP
(Bài soạn cô đọng các phần quan trọng nhất dịch từ: Goldberger’s clinical electrocardiography 8th edition)
1 ECG (electrocardiogram): biểu đồ điện thế theo thời gian của nhịp tim, bằng cách đo dòng
điện với các điện cực đặt trên các vị trí của cơ thể (cánh tay, chân, và thành ngực hay trong trường hợp cấp cứu/ khoa ICU, có thể chỉ đo với 1 hoặc vài điện cực trên thành ngực là đủ) (a): Bình thường, nút xoang nhĩ (nằm ở nhĩ phải gần lỗ tĩnh mạch chủ trên, là tập hợp các tế bào đặc biệt có khả năng phát xung điện tự động) là nút khởi phát nhịp (chủ nhịp chính) do:
- Bản chất có tính tự động
Trong những điều kiện đặc biệt, các tế bào khác ngoài nút xoang (tại tâm nhĩ, tại AV junction, hay ở tâm thất) có thể trở thành các ổ phát nhịp độc lập (thứ phát)
Ví dụ: trong trường hợp suy nút xoang, AV junction sẽ là ổ phát nhịp hỗ trợ (nhịp thoát)
- Nút xoang nhĩ phát nhịp với tần số nội tại tương đối nhanh hơn nên sẽ “đè” các ổ phát nhịp thứ phát (ngoại lai) bên ngoài nút xoang
Tuy nhiên, đôi lúc tính tự động của các ổ phát nhịp này tăng lên một cách bất thường, chúng
sẽ giành quyền chủ nhịp với nút xoang
Ví dụ: các ổ phát nhịp ngoại lai ở nhĩ như nhịp nhanh nhĩ
(b): Từ nút xoang nhĩ, xung điện lan tới nhĩ phải → nhĩ trái
- Dòng điện từ nhĩ phải, nhĩ trái là tín hiệu cho nhĩ co và tống máu cùng lúc xuống hai thất
- Dòng điện tiếp tục qua mô dẫn truyền đặc biệt là AV junction (chỗ nối nhĩ thất)
+ AV junction nằm ở vách gian nhĩ kéo dài xuống đến vách gian thất, gồm 2 phần: nút AV (phần trên) và bó His (phần dưới)
+ Bó His sau đó chia thành 2 bó chính: bó nhánh phải và bó nhánh trái
- Dòng điện dẫn truyền xuống 2 thất qua bó nhánh phải và bó nhánh trái
- Dòng điện được dẫn truyền vào cơ thất qua mạng lưới Purkinje → thất co bóp và tống máu vào 2 hệ tuần hoàn
- Tính dẫn truyền:
+ Chậm nhất ở nút AV → giúp tâm thất có thời gian đổ đầy máu trước khi co
+ Nhanh nhất ở mạng lưới Purkinje → nhờ tác dụng dẫn truyền nhanh ở hệ His-Purkinje giúp hai thất co bóp đồng bộ
(c): Quá trình điện – cơ: Sở dĩ dòng điện lan đến cơ tim làm cơ tim co bóp là do dòng điện làm hoạt hóa sự giải phóng của các ion Ca2+ trong tế bào cơ tim ở nhĩ và thất
2 Lưu ý: ECG chỉ đo các dòng điện lớn ở khối cơ đang hoạt động Những tín hiệu điện học nhỏ
hơn ở nút xoang nhĩ và nút nhĩ thất không thể thấy được trên ECG thường Khử cực của bó His chỉ có thể ghi nhận được từ bên trong tim với kĩ thuật điện sinh lý tim đặc biệt thực hiện với mục đích nghiên cứu
3 Lời nhắn: Nếu bạn nắm được sinh lý điện bình thường của tim, bạn sẽ có nền tảng để hiểu
được các bất thường trong sự phát nhịp và dẫn truyền của tim biểu hiện trên ECG, chẳng hạn: + Suy nút xoang do giảm tính tự động hay block dẫn truyền tại nút xoang
+ Nhịp nhanh do “vào lại” (reentry) là cơ chế xung điện “đuổi theo đuôi”, đường đi của dòng điện chỉ quanh quẩn tại đó, là nguồn gốc của các bệnh: nhịp nhanh trên thất (supraventricular tachycardias – PSVTs), cũng như các nhịp nhanh thất khác
+ Block dẫn truyền ở nút AV hoặc các con đường khác dưới nút này tạo block AV với các độ
Các tế bào tạo nhịp (a) tạo ra dòng điện → dòng điện lan đến cơ tim bởi mô dẫn truyền đặc biệt (b) → tạo tín hiệu gây co bóp cơ tim bởi hoạt động của chính cơ tim và thông qua “quá trình điện
– cơ” (c)
Trang 2Nguyễn Thế Bảo – Góc học tập YAB41 CTUMP
khác nhau
+ Block nhánh trái, nhánh phải làm dòng điện bất đồng bộ → gây suy tim