1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VĂN 11 văn XUÔI HIỆN đại, dàn ý

11 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 152 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu ô Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả rất ngọt ngào( Ngạn ngữ Hi Lạp) ÔN TẬP HỌC KÌ I – NGỮ VĂN 11 CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH CẢM NHẬN MỘT VẤN ĐỀ CÓ YÊU C.Tài liệu ô Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả rất ngọt ngào( Ngạn ngữ Hi Lạp) ÔN TẬP HỌC KÌ I – NGỮ VĂN 11 CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH CẢM NHẬN MỘT VẤN ĐỀ CÓ YÊU C.

Trang 1

ÔN TẬP HỌC KÌ I – NGỮ VĂN 11 CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH/ CẢM NHẬN MỘT VẤN ĐỀ - CÓ YÊU CẦU PHỤ NÂNG CAO

A Mở bài :

Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn Ông là một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp với phong cách tài hoa, uyên bác Dấu ấn đó được thể hiện ở truyện ngắn “Chữ người tử tù” Lúc

đầu truyện có tên “Dòng chữ cuối cùng” in năm 1938 trên tạp chí Tao Đàn Sau đó in trong tập truyện “Vang bóng một thời”(1940) – “một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ” (Vũ Ngọc Phan) Trong đó hình

tượng nhân vật Huấn Cao là nhân vật đẹp nhất trong đời văn của Nguyễn Tuân Ở Huấn Cao có sự kết hợp ở

mức lí tưởng của một đấng tài hoa nghệ sĩ, một bậc anh hùng nghĩa khí và một con người người ngời sáng thiên lương.

B Thân bài:

1 Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao

a Huấn Cao mang cốt cách của một nghệ sĩ tài hoa: tài năng viết chữ đẹp, được miêu tả gián tiếp qua

lời bàn luận và thái độ của nhân vật quản ngục và thầy thơ lại.

-Tài viết chữ “rất nhanh và rất đẹp”, nổi tiếng cả một vùng rộng lớn mọi người đều biết ngưỡng mộ đó là hiện tượng đặc biệt, giỏi, phi phàm, xuất chúng “ Cả vùng Tĩnh Sơn ta vẫn khen cái tài ” -> Tài không nhiều người có được, hi hữu.

- “Chữ ông Huấn đẹp lắm, vuông lắm” " là những nét vuông tươi tắn nó nói lên những cái tung hoành của một đời người" -> Tài năng không chỉ quý giá ở nét chữ mà còn thể hiện nhân cách cao khiết phi thường

của Huấn Cao, mỗi nét bút là sự tập trung cao độ, kết tụ tinh hoa và tâm huyết của người nghệ sĩ , mỗi nét chữ còn là sự hiện hình của những khát khao thầm kín mà mãnh liệt chất chứa trong sâu thẳm tâm hồn, nhân cách của người viết

-“Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời”, lo lắng, ân hận sợ không xin được chữ  Chữ của Huấn Cao đã trở thành niềm khao khát suốt cả đời của quản ngục“Biết đọc vỡ nghĩa sĩ thánh hiền ”

- Và để có được mơ ước ấy, quản ngục đã bất chấp nguy hiểm để xin chữ , dám coi thường quyền lợi của

một quản ngục và cả sự an nguy đến sinh mệnh của mình: quan sát với cặp mắt hiền lành, ánh nhìn kiêng nể biệt nhỡn đối với Huấn Cao, hành động biệt đãi, coi trọng, xuống tận phòng giam, quan tâm, chăm sóc ->

Nể trọng, quý cái đẹp, trọng cái tài, thái độ viên quản ngục đối với Huấn Cao cho thấy đây không phải tài bình thường mà đạt đến mức độ phi thường, siêu phàm.

1 Mở bài

- Giới thiệu tác giả: đặc điểm sáng tác, phong cách nghệ thuật

- Giới thiệu tác phẩm: xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính

- Nêu vấn đề nghị luận (chính + phụ)

2 Thân bài

- PT/ Cảm nhận vấn đề chính (chia thành nhiều luận điểm, mỗi luận điểm là một đoạn văn)

- Bàn bạc, nhận xét vấn đề phụ

- Đánh giá chung vể nghệ thuật, nội dung (chú ý phần tổng kết, thái độ, tình cảm của tác giả)

3 Kết bài

- Khẳng định lại vấn đề

- Liên hệ mở rộng: tình cảm của người đọc, phong cách tác giả hoặc sức sống tác phẩm…

Đề 1: Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân Từ đó, hãy trình bày cảm nhận về quan niệm thẩm mĩ của nhà văn.

Trang 2

Ca ngợi tài viết chữ đẹp của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã khơi dậy nét đẹp văn hóa cổ truyền ( nghệ thuật thư pháp ) của cha ông một thời bị mai một.

b Huấn Cao là người có khí phách của một trang anh hùng nghĩa liệt:

* Tinh thần nghĩa hiệp:

- Ông đi theo tiếng gọi của tự do đứng về phía nhân dân, cầm đầu một cuộc đại phản , có chí lớn chống lại triều đình phong kiến thối nát

- Dám chấp nhận hậu quả, khi bị bắt, ông nhận hết việc mình làm

* Tư thế đàng hoàng, hiên ngang, bất khuất: coi thường chốn lao tù, Huấn Cao thản nhiên trước sự đày

đọa của tù ngục, lạnh lùng chúc mũi gông đang đè lên cổ mình và năm người đồng chí của mình: "dỗ gông trừ rệp" xuống thềm đá tảng trại giam trước mặt ngục quan,“đánh thuỳnh một cái” bất chấp những lời đe dọa của bọn lính áp giải -> Đó không chỉ là hành động ngang nhiên, coi thường bọn lính mà còn là hành động biểu thị tự do, khiến cho mọi uy quyền của nhà tù trở nên vô nghĩa Cũng từ đó, Huấn Cao sừng sững

đi cho đến hết sinh mệnh của mình trong thiên truyện.

* Bản lĩnh cứng cỏi không sợ quyền uy, không sợ cái chết.

- Huấn Cao tỏ ra khinh bạc khi quản ngục khép nép hỏi ông Huấn " ngài có cần gì nữa xin cho biết Tôi sẽ

cố gắng chu tất" Ông trả lời: “ Ngươi hỏi ta muốn gì, ta chỉ muốn nhà ngươi đừng đặt chân vào đây” -> thái độ bất mãn, căm ghét, quản ngục trong mắt Huấn Cao chỉ thuộc hệ thống những kẻ tiểu lại giữ tù, nhà

tù xưa nay chỉ tồn tại sự lừa lọc, xấu, ác, kẻ giữ tù toàn bọn tiểu nhân độc ác, xấu xa, ác độc.

- Bản thân Huấn Cao cũng luôn ý thức về khí phách hiên ngang, cứng cỏi, bất khuất của mình: “Đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này” Đó là khí phách cứng cỏi, hiên

ngang của một người mà ngay cả trong hoàn cảnh bị trói buộc tù túng vẫn không bao giờ cúi đầu trước sức mạnh của quyền uy, của cái chết

- Điều kì lạ là quản ngục lại “xin lĩnh ý”, lễ phép lui ra và từ đó không bao giờ đặt chân vào buồng giam

Huấn Cao nữa Hóa ra, Huấn Cao mới là người làm chủ chốn ngục tù

- Huấn Cao tiếp nhận biệt đãi, Huấn Cao chưa hiểu lý do, Huấn Cao không quan tâm vì bọn cai tù là độc ác,

âm mưu “thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm” -> Cao hơn bạo lực tăm tối nhà tù, không sợ hãi âm mưu.

- Khi nghe tin mình sắp vào kinh chịu án, Huấn Cao mỉm cười, xác định trước kết quả tất yếu, thanh thản vì thực hiện lý tưởng cao đẹp của đời vì dân, cuộc sống, không nuối tiếc, vẫn bình thản cho chữ

- Đặc biệt khi thấu hiểu Quản ngục là " một tấm lòng trong thiên hạ", Huấn cao bằng lòng cho chữ trong tư thế " một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên mảnh lụa trắng tinh căng trên mảnh ván" -> Thể hiện ý chí gang thép , cường quyền và bạo lực không làm cho Huấn Cao nao núng

tinh thần, vẫn giữ được cái phong thái ung dung của người nghệ sĩ trong cảnh cho chữ

Huấn Cao là hiện thân sinh động của bậc đại trượng phu với phương châm sống "Bần cư bất năng di, phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất" (nghèo khó không làm đổi thay chí hướng, giàu có không làm

cho trở nên hư hỏng, cường quyền không thể khuất phục)

c Đáng quý nhất ở Huấn Cao là vẻ đẹp trong sáng của người có thiên lương: bên cạnh một con người

ngạo nghễ, hiên ngang còn có một tấm lòng biết trân trọng giá trị con người -> Cái tâm của một con người

trọng nghĩa khinh lợi:

- Không vì quyền lực, vàng bạc mà cho chữ: “Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ ông ít chịu cho chữ "

+ “Khoảnh” -> phần kiêu ngạo về tài năng của mình, ý thức rõ về tài năng, món quà đặc biệt mà thượng đế

chí công ban tặng cho Huấn Cao, mà người đời không phải ai cũng có dược món đồ này

+ “ Ít chịu cho chữ” -> Viết chữ không khó khăn gì, tôn trọng tài năng của mình, tôn trọng món quà mà

thượng đế đã trao tặng cho mình, dành tặng cho những tấm lòng trong thiên hạ, tặng cho ba người bạn thân

-> Coi trọng giá trị của tài năng, sử dụng tài năng giống như món quà chỉ để dành tặng đền đáp tấm lòng

thiên hạ.

- Có khí phách, khí chất, quan điểm cao quý, vàng ngọc không thể mua chuộc được những dòng chữ ấy,

quyền thế không bao giờ khiến Huấn Cao cúi đầu cho chữ “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”.“ Nhất sinh” -> Cả một đời, tâm nguyện lời thề mà Huấn Cao nghiêm

túc thực hiện không vì vàng ngọc, không vì quyền thế -> Nhân cách nhà Nho, con người cao quý

Trang 3

- Tưởng quản ngục là kẻ tầm thường, làm nghề thất đức, Huấn Cao không hề giấu diếm sự khinh miệt, thái

độ coi thường của mình Nhưng khi biết được sở nguyện cao quý của kẻ " liên tài", cảm được "tấm lòng biệt nhỡn liên tài ", Huấn Cao không những vui vẻ cho chữ mà còn xúc động thốt lên những lời hối hận chân

thành: " Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ." Câu nói cho thấy quan niệm nhân sinh và phẩm chất,

tâm hồn cao đẹp của Huấn Cao, sống là phải xứng đáng với những tấm lòng

-> Quan điểm sống: sống ở đời phụ lòng người là điều không thể tha thứ, còn giây phút nào cuối đời thì không cho phép phụ lòng người, biết sửa sai, bằng mọi giá đền đáp tấm lòng trong thiên hạ -> Biểu hiện thiên lương cao quý.

- Huấn Cao đã dặn dò, nhắn nhủ những lời tâm huyết tới viên quản ngục " Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi " -> Ông khuyên thầy

quản ngục nên lời khỏi chốn dơ bẩn, về quê để sống một cuộc đời thanh sạch, có vậy thú chơi chữ mới có

thể ngời sáng vẹn toàn giá trị Lời khuyên cho thấy một quan niệm sâu sắc của nhà văn: cái đẹp không thể chung sống chung với tội lỗi; cái thiêng liêng, thánh thiện không thể tồn tại trong một môi trường dung tục, tầm thường.

d Sự tỏa sáng ba vẻ đẹp trong cảnh cho chữ: Ba vẻ đẹp của Huấn Cao được kết tinh trong cảnh cho chữ:

* Vẻ đẹp của tài hoa: không còn đồn đại, đang hiện hình, nét chữ vuông tươi tắn, hoài bão tung hoành của

một đời người -> Minh họa cho bức tranh thư pháp hoàn hảo -> Lý tưởng của nam nhi thời xưa gói trọn trong nét chữ của Huấn Cao.

* Vẻ đẹp của khí phách: Huấn Cao mỉm cười, lặng người khi nghe thầy thơ lại thông báo, bộ dạng của

Huấn Cao khiến người khác dễ hiểu lầm, Huấn Cao không sợ hãi mà ông thương cho viên quản ngục, ái ngại cho viên quản ngục tâm tốt thẳng thắn mà phải ăn đời ở kiếp Cảnh tượng cho chữ đã tráo đổi vị trí cho nhau, thái độ quyền uy, ung dung đỡ viên quản ngục đứng lên

* Vẻ đẹp của thiên lương: Huấn Cao nhận lời cho chữ viên quản ngục, nhận ra tấm lòng trong thiên hạ,

hiểu được tấm lòng của viên quản ngục, dành nét chữ cuối cùng cho viên quản ngục Huấn Cao đỡ viên quản ngục đứng lên đĩnh đạc đưa ra lời khuyên chí tình, xuất phát từ chỗ Huấn Cao ái ngại tình cảnh của viên quản ngục, cảm hóa thiên lương của viên quản ngục

2 Cảm nhận về quan niệm thẩm mĩ của nhà văn: Qua hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân khẳng định:

- Cái đẹp là bất diệt, cái tài và cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời

- Cái đẹp có thể sản sinh từ nơi tội ác ngự trị nhưng không thể tồn tại cùng cái ác Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi giữ được thiên lương

- Cái đẹp không thể chung sống chung với tội lỗi; cái thiêng liêng, thánh thiện không thể tồn tại trong một môi trường dung tục, tầm thường

3 Đánh giá nghệ thuật, nội dung

- Nhân vật Huấn Cao ấn tượng như thế là nhờ nhà văn tạo dựng tình huống truyện độc đáo, đặc sắc

(cuộc gặp gỡ và mối quan hệ éo le, trớ trêu giữa viên quản ngục và Huấn Cao) Bên cạnh đó, nhà văn còn

sử dụng thành công thủ pháp đối lập, tương phản, ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính vừa hiện đại

- Ca ngợi Huấn Cao - con người hội tụ nhiều vẻ đẹp - Nguyễn Tuân đã khẳng định và tôn vinh sự chiến

thắng của ánh sáng, cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con người, đồng thời bộc lộ lòng yêu nước thầm kín mà sâu sắc

C Kết bài:

Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái "tài" và cái "tâm" Trong cái "tài" có cái "tâm" và cái "tâm" ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài hoa Cái đẹp luôn song song "tâm" và "tài" thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự Xây dựng hình tượng Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau mắt về bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí, Nam Cao đã cắm cho mình một cái mốc vinh quang trên con đường trở thành nhà văn lớn của văn học hiện thực và văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX

Trang 4

DÀN Ý RÚT NGẮN

A Mở bài :

Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn Ông là một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp với phong cách tài hoa, uyên bác Dấu ấn đó được thể hiện ở truyện ngắn “Chữ người tử tù” Lúc

đầu truyện có tên “Dòng chữ cuối cùng” in năm 1938 trên tạp chí Tao Đàn Sau đó in trong tập truyện “Vang bóng một thời”(1940) – “một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ” (Vũ Ngọc Phan) Trong đó hình

tượng nhân vật Huấn Cao là nhân vật đẹp nhất trong đời văn của Nguyễn Tuân Ở Huấn Cao có sự kết hợp ở

mức lí tưởng của một đấng tài hoa nghệ sĩ, một bậc anh hùng nghĩa khí và một con người người ngời sáng thiên lương.

B Thân bài:

1 Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao

a Mang cốt cách của một nghệ sĩ tài hoa: tài viết chữ đẹp, được miêu tả gián tiếp:

- Tài viết chữ “rất nhanh và rất đẹp”, nổi tiếng cả một vùng

- “Chữ ông Huấn đẹp lắm, vuông lắm”

- “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời”  quản ngục bất chấp nguy hiểm để xin chữ

của tử tù

Ca ngợi tài viết chữ đẹp của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã khơi dậy nét đẹp văn hóa cổ truyền của cha ông một thời bị mai một.

b Có khí phách của một trang anh hùng nghĩa liệt:

- Đứng về phía nhân dân, có chí lớn chống lại triều đình phong kiến thối nát Khi bị bắt, ông nhận hết việc mình làm

- Coi thường chốn lao tù:

+ Có tài “bẻ khóa và vượt ngục”.

+ Thản nhiên trước sự đày đọa của tù ngục: lạnh lùng chúc mũi gông nặng, “dỗ gông trừ rệp” trước mặt

ngục quan, sự đe dọa của bọn lính

+ Tỏ ra khinh bạc đối với quản ngục qua cuộc đối thoại có sự đối lập:

* Quản ngục: kính trọng (gọi là ngài), muốn được phục vụ tốt hơn

* Huấn Cao: khinh bạc (gọi là ngươi), có ý cấm quản ngục vào “Ngươi hỏi ta … đừng đặt chân vào đây” + Sẵn sàng đón nhận sự trả thù: “Đến cái cảnh…chẳng sợ.

- Không sợ chết, vẫn ung dung nhận rượu thịt như lúc bình sinh chưa bị giam cầm, vẫn bình thản cho chữ

Khí phách hiên ngang, bất khuất trước cường quyền bạo lực, một anh hùng theo quan điểm nhân dân.

c Sáng ngời vẻ đẹp trong sáng của người có thiên lương

- Không vì quyền lực, vàng bạc mà cho chữ: “Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ ông ít chịu cho chữ Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”.

- Yêu cái thiện, cảm động trước sở thích cao quý, thiên lương của quản ngục:“thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”  sẵn lòng cho chữ để đáp lại một tấm lòng.

- Khuyên quản ngục giữ lấy thiên lương  để cứu một con người lầm lạc

Cái tâm của một con người trọng nghĩa khinh tài  vẻ đẹp lãng mạn được lí tưởng hoá, khiến nhân vật

hiện lên rực rỡ, toả sáng vừa là một trang anh hùng vừa là một đấng tài hoa nghệ sĩ

d Ba vẻ đẹp của Huấn Cao kết tinh trong cảnh cho chữ - một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”:

* Hoàn cảnh cho chữ đặc biệt:

- Thời gian lúc nửa đêm

- Không gian sáng tạo cái đẹp là nhà tù - nơi tội ác đang ngự trị, có sự đối lập:

+ Ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu; tấm lụa trắng, chữ đẹp, mực tốt và thơm

+ Buồng giam tối tăm, chật hẹp, dơ bẩn “tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi những phân chuột, phân gián”

Đề 2: Phân tích vẻ đẹp nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Từ đó, hãy trình bày cảm nhận về quan niệm thẩm mĩ của nhà văn.

Trang 5

* Nghệ sĩ cho chữ - kẻ xin chữ đặc biệt, trật tự nhà tù bị đảo lộn:

- Người cho chữ là tử tù, sắp bị chết chém

+ “Cổ đeo gông, chân vướng xiềng”, tư thế oai phong đậm tô nét chữ, chủ động ban phát cái đẹp

+ Cảm hóa một con người lầm lạc, răn dạy quản ngục: thay chốn ở, thoát khỏi nghề này để giữ thiên

lương, thưởng thức chữ đẹp

- Người xin chữ là quản ngục có quyền thế:

+ Tư thế khúm núm, bị động

+ Vái lạy, cảm động, bái lĩnh lời răn dạy của Huấn Cao

Bức tranh lãng mạn - cảnh cho chữ càng làm nổi bật vẻ đẹp toàn diện của nhân vật Huấn Cao Ở đó, cái

đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con người đã chiến thắng, tỏa sáng

2 Cảm nhận về quan niệm thẩm mĩ của nhà văn: Qua hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân khẳng định:

- Cái đẹp là bất diệt, cái tài và cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời

- Cái đẹp có thể sản sinh từ nơi tội ác ngự trị nhưng không thể tồn tại cùng cái ác Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi giữ được thiên lương

- Cái đẹp không thể chung sống chung với tội lỗi; cái thiêng liêng, thánh thiện không thể tồn tại trong một môi trường dung tục, tầm thường

3 Đánh giá nghệ thuật, nội dung

- Nhân vật Huấn Cao ấn tượng như thế là nhờ nhà văn tạo dựng tình huống truyện độc đáo, đặc sắc

(cuộc gặp gỡ và mối quan hệ éo le, trớ trêu giữa viên quản ngục và Huấn Cao) Bên cạnh đó, nhà văn còn

sử dụng thành công thủ pháp đối lập, tương phản, ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính vừa hiện đại

- Ca ngợi Huấn Cao - con người hội tụ nhiều vẻ đẹp - Nguyễn Tuân đã khẳng định và tôn vinh sự chiến

thắng của ánh sáng, cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con người, đồng thời bộc lộ lòng yêu nước thầm kín mà sâu sắc

C Kết bài:

Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái "tài" và cái "tâm" Trong cái "tài" có cái "tâm" và cái "tâm" ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài hoa Cái đẹp luôn song song "tâm" và "tài" thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự Xây dựng hình tượng Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau mắt về bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí, Nam Cao đã cắm cho mình một cái mốc vinh quang trên con đường trở thành nhà văn lớn của văn học hiện thực và văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX

A Mở bài:

Nam Cao là một nhà văn hiện thực lớn của nền văn học Việt Nam trước Cách mạng Sau Cách mạng, ông hăng hái tham gia làm báo kháng chiến Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20.Chí Phèo là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng Bằng ngòi bút sắc sảo, nghệ thuật khắc họa nhân vật đặc sắc, Nam Cao đã làm nổi bật tấn bi kịch tha hóa của nhân vật Chí Phèo Thông qua bi kịch này, cũng cho thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

B Thân bài:

a Chí Phèo – người nông dân lương thiện

Đề 3: Phân tích bi kịch tha hóa của Chí Phèo từ người nông dân lương thiện thành thằng lưu manh

“con quỷ dữ” trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao Từ đó cho biết giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

Trang 6

- Sinh ra vô thừa nhận, bị bỏ rơi trong « cái lò gạch cũ bỏ không», được gói gém trong một chiếc váy đụp, tím ngắt đi vì lạnh và đói -> không được hưởng tình mẫu tử và sống nhờ vào lòng trắc ẩn của những con

người rất bất hạnh trong xã hội như bà góa mù, bác Phó cối

- Lớn lên không gia đình, không nhà cửa, không tấc đất cắm dùi, vậy mà tâm tính hiền lành, lương thiện, đầy nghị lực:

+ Làm canh điền cho Lí Kiến -> Chăm chỉ, trong sáng, kiếm sống bằng sức lao động

+ Biết ước mơ về một cuộc sống bình dị, giản đơn “ao ước có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải…….mua dăm ba sào ruộng làm”

+ Bị bà ba – vợ Lí Kiến dụ dỗ, sàm sỡ, gọi bóp chân, mà lại cứ bắt bóp lên trên, trên nữa “ Hắn thấy nhục hơn là thích”-> ý thức nhân phẩm, giàu lòng tự trọng.

=> Có hoàn cảnh riêng đặc biệt nhưng vẫn có nét đẹp chung của những người nông dân lao động hiền lành, lương thiện, chất phác.

b Chí Phèo - thằng lưu manh “con quỷ dữ”

- Từ một anh nông dân hiền lành như cục đất , không tội lỗi gì, bất ngờ Chí bị đẩy vào vòng lao lí, bị tước đoạt quyền sống chỉ vì sự ghen tuông của lí Kiến

- Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho địa chủ phong kiến để giết chết phần người trong Chí Phèo, biến một nông

dân lương thiện thành thằng lưu manh, “con quỷ dữ” gớm ghiếc, côn đồ và tàn bạo – một kẻ bị hủy hoại cả

nhân hình lẫn nhân tính:

* Nhân hình: Chí Phèo không thể mang khuôn mặt khoẻ mạnh và lành như đất của anh Chí ngày nào

-“Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng"

- " Hai mắt gườm gườm …Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ … cả hai cánh tay cũng thế Trông gớm chết!”

-> Đi tù về, Chí mang bộ dạng đáng sợ của một thằng lưu manh, một tên côn đồ, “trông gớm chết!”.

* Nhân tính: bị hủy hoại về linh hồn, Chí Phèo đã trở thành “con quỷ dữ”, nỗi ám ảnh kinh hoàng của dân

làng Vũ Đại:

- Lối sống vô thức, bất cần đời: Chí Phèo không cha, không mẹ, không một tấc đất cắm dùi Và để duy trì

sự sống, duy trì sự tồn tại sau khi ra tù, Chí Phèo chỉ có một cách là cướp giật, ăn vạ, liều mạng để tồn tại

Mà muốn vậy Chí phải gan, phải mạnh , phải liều, những thứ này Chí tìm thấy nơi rượu Và thế là, Chí chìm

ngập trong cơn say hết ngày này sang ngày khác, hết tháng này sang tháng khác

- Hành động:

+ Trong thời gian Chí say, Chí mù quáng gây ra biết bao nhiêu tội ác "Hắn say thì hắn làm bất cứ việc gì

người ta sai hắn làm Hắn tác oai tác quái cho bao nhiêu dân lành, phá bỏ bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người dân lương thiện"

- Và Chí cứ thế rơi sâu vào vực thẳm của đau thương , tội lỗi, trượt dài trên con đường tha hoá, trở thành

"con quỷ dữ" của làng Vũ Đại Và cái giá của con "quỷ dữ" là Chí bị đồng loại xa lánh Cả làng Vũ Đại

không ai muốn gần Chí, không ai muốn qua lại, không ai muốn nói một lời với Chí

- Ngôn ngữ: Chí Phèo vừa đi vừa chửi bới, nguyền rủa“Hắn vừa đi vừa chửi” Chửi tất cả: chửi trời, chửi

đời, chửi cả làng Vũ Đại Sau đó, tiếng chửi thu hẹp dần, " chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn", " chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thàng Chí Phèo) -> Dường như đằng sau tiếng chửi lảm

nhảm của Chí Phèo là ý thức mơ hồ về bi kịch về cuộc đời mình, là nỗi căm phẫn, bất mãn, vật vã, tuyệt

vọng của một con người thèm khát được giao tiếp với đồng loại nhưng bị gạt ra khỏi xã hội loài người Tiếng chửi là hình thức giao tiếp tồi tệ nhất của Chí , thể hiện cái khát vọng muốn giao tiếp, muốn chuyện trò, đơn giản chỉ là có được một tiếng người chửi lại với Chí nhưng Làng Vũ Đại để mặc hắn trong sự im lặng đáng sợ

- Trong nỗi cô đơn, đáp lại lời hắn họa may“chỉ có ba con chó dữ” -> Thành ra Chí Phèo cũng chỉ là một

con vật sống tăm tối giữa sự lạnh nhạt của xã hội loài người

=> Hiện tượng Chí Phèo là sản phẩm có tính quy luật của tình trạng đè nén, áp bức tàn bạo ở nông thôn

trước Cách mạng tháng Tám

c Giá trị hiện thực và nhân đạo :

Trang 7

- Giá trị hiện thực: phản ánh tình trạng một bộ phận nông dân bị tha hóa về nhân hình và nhân tính , mâu

thuẫn giữa nông dân – địa chủ, giữa các thế lực ác bá ở địa phương giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

- Giá trị nhân đạo: tư tưởng nhân đạo độc đáo, mới mẻ : cảm thương sâu sắc trước cảnh người nông dân bị

lăng nhục; phát hiện và miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người nông dân ngay cả khi họ biến thành “thú dữ”;

niềm tin vào bản chất lương thiện của con người

d Đánh giá chung:

- Xây dựng những nhân vật điển hình vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa sống động, có cá tính độc đáo và nghệ

thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo

- Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lô gích

- Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính

- Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện vừa gần gũi tự nhiên; giọng điệu đan xen biến hóa, trần thuật linh hoạt

- “Chí Phèo” tố cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa phong kiến tàn bạo đã cướp đi cả nhân hình và nhân tính

của người nông dân lương thiện; đồng thời nhà văn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của con người ngay cả khi tưởng như họ biến thành "quỷ dữ"

C Kết bài:

Quá trình tha hóa của Chí Phèo là bước miêu tả chân thực về số phận người nông dân Việt Nam trước

Cách mạng thánh Tám 1945 Từ một người nông dân hiền lành, chất phác, dân bị chèn ép đến mức phải tha hóa, phải từ bỏ lương thiện, từ bỏ lương tâm, phải chấp nhận trượt dài trên con đường tội lỗi, biến thành một con "quỷ dữ" , để rồi tuyệt vọng và đớn đau khi bị chối bỏ và bị khai trừ khỏi xã hội loài người Tác phẩm không chỉ lên án, tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đã đàn áp và bóc lột nhân dân lao động mà còn thể hiện sự đồng cảm của nhà văn với những nỗi khổ đau, bị đày đọa và bế tắc ở họ; phát hiện và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật; khao khát đổi thay thực tại để mang đến một cuộc sống tốt đẹp hơn

A Mở bài:

Nam Cao là một nhà văn hiện thực lớn của nền văn học Việt Nam trước Cách mạng Sau Cách mạng, ông hăng hái tham gia làm báo kháng chiến Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20.Chí Phèo là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng Bằng ngòi bút sắc sảo, nghệ thuật khắc họa nhân vật đặc sắc, Nam Cao đã làm nổi bật tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo Thông qua bi kịch này, cũng cho thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

B Thân bài:

* Gặp thị Nở, Chí Phèo thay đổi:

- Lần đầu tỉnh sau một cơn say dài:

+ Thấy miệng đắng, lòng buồn mơ hồ, người bủn rủn, chân tay không buồn nhấc, sợ rượu

+ Nghe “Tiếng chim hót … tiếng cười nói… gõ mái chèo đuổi cá“→ âm thanh quen thuộc của thiên nhiên,

cuộc sống -> tiếng gọi thân thiết của cuộc sống vang vọng đến đôi tai lần đầu tiên tỉnh táo của Chí sau 8 năm

ra tù

+ Tự nhớ khát vọng thời thanh niên: " ao ước có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải "

+ Nhìn lại cuộc đời mình:

.Quá khứ với ao ước chưa thành hiện thực: “có một gia đình nho nhỏ ….”.

Hiện tại đáng buồn: “già rồi mà vẫn còn cô độc”, “đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời”

Tương lai không tươi sáng: “đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau"

Đề 4: Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao Từ đó cho biết giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

Trang 8

Ý thức nỗi đau của đời mình, cái tình trạng bi đát, thê thảm của hiện tại : đói rét, ốm đau và cô độc, Chí

sợ cô độc.

- Lần đầu cảm nhận hương vị cháo hành - hương vị tình người đã đánh thức tính người, bản chất lương

thiện của Chí:

+ Ngạc nhiên, thấy “mắt mình ươn ướt” vì lần đầu được "một người đàn bà cho" -> ngạc nhiên, xúc động –

khóc -> cảm xúc đầy nhân tính, đánh dấu sự thức tỉnh lương tâm của Chí

+ Nhận ra cháo hành rất ngon: “cháo mới thơm làm sao!” → sự chăm sóc ân cần đầy tình người

+ Tự hỏi “tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm mùi vị cháo?” rồi tự trả lời “có ai nấu cho mà ăn ?”

→ cay đắng khi nhớ lại quá khứ

+ Thấy “lòng thành trẻ con”, “muốn làm nũng…” → con người hiền lành đã trở về.

+ Thèm lương thiện, muốn “làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn" xã hội bằng phẳng của con người lương thiện → khát khao được sống đúng nghĩa là một Con Người.

- " Hắn băn khoăn nhìn Thị Nở như thăm dò" -> Tâm trạng, khát vọng rất tội nghiệp: Chí đang khấp khởi hi

vọng, rưng rưng, bẽn lẽn trở về với cuộc đời

* Bị thị Nở từ chối, Chí Phèo rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, bị dồn đến đường cùng, giết

bá Kiến rồi tự sát

- Nguyên nhân: Bà cô thị Nở ngăn cản thị lấy Chí Phèo – một thằng không cha, rạch mặt ăn vạ.

+ Phát ngôn của bà cô chính là định kiến xã hội: xã hội chỉ nhìn thấy Chí là một con quỷ dữ, nhân hình méo

mó trong quá khứ nhưng không nhìn thấy sự thức tỉnh, khát vọng lương thiện của Chí trong hiện tại

+ Định kiến xã hội không cho Chí Phèo con đường trở lại làm người, cự tuyệt quyền làm người, quyền sống của Chí

- Tâm trạng, hành động của Chí Phèo:

+ Chí tưởng Thị đùa nên lắc lư cái đầu, ánh mắt ánh lên nụ cười nhìn Thị

+ Nghĩ ngợi rồi ngẩn người,“ngồi ngẩn mặt”, “không nói gì” thấm thía tình đời, tình người.

+ Hắn đuổi theo Thị, nắm lấy tay Thị như níu kéo hi vọng còn lại

+ Nhặt một hòn gạch vỡ toan đập đầu  bản tính cũ trỗi dậy.

+ Chí muốn uống cho say để quên đi nỗi đau nhưng "càng uống lại càng tỉnh ra" " Tỉnh ra, chao ôi, buồn!" -> Cái tỉnh của lương tri, tỉnh ra và đau đớn thay cho kiếp người bị cự tuyệt của mình

+ “cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành” -> thoang thoảng tình người mà Chí khát khao, tiếng gọi của

lương tri đang hiển hiện

+Vừa uống rượu vừa khóc, “ôm mặt khóc rưng rức” khóc cho bi kịch của cuộc đời mình, khóc cho khát

vọng được trở lại làm người lương thiện không thành -> đau đớn, tuyệt vọng

+ Đòi đâm chết cả nhà thị Nở nhưng lại xách dao đến nhà bá Kiến -> Ý thức được ai là kẻ thù, đã cướp đi quyền làm người lương thiện

+ Lên tiếng dõng dạc: “Tao muốn làm người lương thiện.” Nhưng Chí lập tức tự ý thức được bi kịch của cuộc đời mình : “Ai cho tao cho tao lương thiện?”, “Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai này?

Tao không thể là người lương thiện nữa Biết không Biết không!"

+ Câu hỏi đó Bá Kiến không trả lời được và Chí đã giết bá Kiến: kẻ trực tiếp gây nên bi kịch đời mình + Tự sát → không còn đường sống: không muốn trở lại kiếp sống thú vật, làm người lương thiện lại không ai chấp nhận Chí đã chết trên ngưỡng cửa trở về lương thiện để cho khát vọng lương thiện được sống

- Cái chết của Chí Phèo: “Giãy đành đạch … máu tươi Mắt hắn trợn ngược Mồm ngáp ngáp.”

+ Cái chết quằn quại, đau đớn, uất ức

+ Nói lên khát khao cháy bỏng được sống lương thiện của Chí Phèo

+ Tố cáo mãnh liệt xã hội thuộc địa phong kiến

+ Chứng tỏ cảm quan hiện thực sâu sắc của tác giả

-> Hình tượng nhân vật Chí Phèo là hiện tượng mang tính quy luật, người nông dân từ bần cùng hóa đến lưu manh hóa Con đường từ bần cùng đến lưu manh hóa rất là thuận chiều Nhưng con đường từ lưu manh đến người lương thiện đầy chông gai trắc trở và người nông dân rơi vào bi kịch.

* Giá trị hiện thực và nhân đạo:

Trang 9

- Qua bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí, qua cái chết tất yếu của Chí còn là một dụng ý nghệ thuật của Nam Cao để từ đó để làm sâu sắc hơn giá trị hiện thực của tác phẩm Phải để Chí Phèo chết thì ý

nghĩa tố cáo, lên án xã hội của tác phẩm mới mạnh mẽ gay gắt (xã hội ấy không chỉ đẩy người nông dân lương thiện vào con đường lưu manh tha hóa mà còn dồn họ đến mức đường cùng khiên họ phải tự hủy diệt

sự sống của mình)

- Để Chí Phèo chết cũng là một cách Nam Cao thể hiện chiều sâu trong tư tưởng nhân đạo của mình Nam Cao không nhẫn tâm nhìn Chí tiếp tục trượt dài trên con đường của sự tha hóa, chìm đắm trong kiếp sống của loài quỷ dữ Vì thế cần phải tìm một cách để giải thoát cho Chí và để cho anh tự sát là cách duy nhất để giải thoát Chí khỏi kiếp sống tăm tối này Một cuộc sống không ra sống thì chết chính là một sự giải thoát Trong cuộc sống có những cái chết biểu hiện cho sự hèn nhát, bế tắc, yếu đuối Nhưng cũng có cái chết lại là bước mở đầu cho sự sống mới, cho sự tháo cũi xổ lồng để giải thoát chính bản thân Cái chết ấy còn là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với xã hội đầy bất công, định kiến thiếu tình người

* Đánh giá chung:

- Xây dựng những nhân vật điển hình vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa sống động, có cá tính độc đáo và nghệ

thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo

- Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lô gích

- Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính

- Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện vừa gần gũi tự nhiên; giọng điệu đan xen biến hóa, trần thuật linh hoạt

- “Chí Phèo” tố cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa phong kiến tàn bạo đã cướp đi cả nhân hình và nhân tính

của người nông dân lương thiện; đồng thời nhà văn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của con người ngay cả khi tưởng như họ biến thành "quỷ dữ"

C Kết bài:

Bằng nghệ thuật bậc thầy trong miêu tả tâm lí nhân vật, Nam Cao đã để cho nhân vật Chí Phèo tự độc

thoại nội tâm, suy nghĩ về bản thân mình với tâm hồn mang nỗi đau quằn quại của một con người bị cự tuyệt quyền làm người, đã mang lại cho người đọc một cái nhìn hoàn toàn mới, ở một góc độ mới về nông dân: cái nhìn vào cõi tinh thần, vào chiều sâu bi kịch Viết những trang văn đau đớn thấm đẫm nước nhân đạo sâu sắc

A Mở bài

Thạch Lam là một cây bút truyện ngắn xuất sắc trong nhóm Tự lực văn đoàn, thành công nổi bật ở truyện ngắn, thường viết về những truyện không có chuyện Ông chủ yếu đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ, mỗi truyện của ông như một bài thơ trữ tình Tác phẩm của Thạch Lam thấm đượm tình cảm thương yêu, giọng văn nhẹ nhàng, văn phong trong sáng, giản dị Tiêu biểu cho lối

viết đó là truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938) Đọc tác phẩm, người đọc

không thể quên hình ảnh con người phố huyện lúc chiều tàn và về đêm sống nghèo khổ, tăm tối, quẩn quanh nhưng cũng mong đợi một ngày mai tươi sáng Từ đó, ta cũng cảm nhận rõ tư tưởng nhân đạo sâu sắc và đáng quý của nhà văn

B Thân bài

1 Cảm nhận hình ảnh con người phố huyện trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”

* Trong cảnh vật chiều tàn, chợ tàn, con người phố huyện là những kiếp người tàn tạ:

- Vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng hóa…

- Mấy đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom … đi lại … “nhặt nhạnh thanh nứa thanh tre”, những gì còn

sót lại → Những cảnh đời nghèo khổ đáng thương.

- Mẹ con chị Tí:

Đề 5: Cảm nhận của anh/ chị về hình ảnh con người phố huyện lúc chiều tàn và về đêm trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” – Thạch Lam Từ đó, trình bày cảm nhận về tư tưởng nhân đạo của tác giả

Trang 10

+ Mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước ra bán, chả kiếm được bao nhiêu nhưng “ngày nào cũng dọn hàng từ chập tối đến đêm” → vất vả.

+ Con chị Tí thì "loay hoay nhóm lửa để nấu nồi nước chè" -> tuổi thơ không được học hành, vui chơi mà

phải theo mẹ để mưu sinh

- Bà cụ Thi: hơi điên, nghiện rượu, “đi lần vào bóng tối”, “tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng →

kiếp sống tàn tạ, vô nghĩa

- Hai chị em Liên: trông cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, tối nào cũng tính tiền hàng, ngồi trên chiếc chõng tre cũ

nát sắp gãy đặt trước cửa hàng, ngồi lên nghe kẽo kẹt → kinh tế khó khăn, tàn lụi, nghèo khó

- Mẹ của Liên, An: "bận làm gạo" là người lao động chính của gia đình, trụ cột gia đình vào lúc thầy Liên

mất việc, cả gia đình phải từ Hà Nội dọn về ở phố huyện nghèo khổ, tối tăm

* Tâm trạng của Liên:

- Sự tinh tế, nhạy cảm trước sự chuyển biến của thiên nhiên trong thời khắc ngày tàn:

+ Sự cảm nhận của Liên về mùi riêng của đất quê trong cái phiên chợ tàn " mùi âm ẩm bốc lên của quê hương này" -> tình yêu dành cho phố huyện.

+ "Trong cửa hàng hơi tối ngây thơ của chị" “thấy lòng buồn man mác” trước cái thời khắc của ngày tàn -> Nghệ thuật miêu tả tinh tế, vừa gợi cái buồn cho buổi chiều quê vừa gợi nỗi buồn trong tâm hồn con người.

- Nhân hậu, yêu thương:

+ Liên trông thấy động lòng thương những đứa trẻ lam lũ, tội nghiệp nhưng “cũng không có tiền để cho chúng nó”

+ Ân cần quan tâm, yêu thương, ái ngại, xót xa cho gia cảnh của mẹ con chị Tí "Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế?"

+ Ánh mắt ái ngại nhìn theo đầy thương cảm, đầy xót xa dành cho bà cụ Thi

* Phố huyện lúc đêm khuya ngập đầy bóng tối, hình ảnh con người với những cảnh đời thật đáng thương , cơ cực, nghèo nàn:

- Chị Tí:

+ "chị phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng" -> Hàng vắng, ế khách, tiêu điều, ảm đạm

+ "Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ ?" -> ngồi trông chờ, mong đợi vẩn vơ khách hàng quen thuộc đến

mức nhàm chán -> Mức thu nhập chỏng hàng chị Tí không đáng bao nhiêu

+ Gia đình bác xẩm: kiếm sống bằng tiếng hát, tiếng đàn, ngồi trên manh chiếu, “chiếc thau sắt trắng

trước mặt”, thằng con bò ra đất nghịch nhặt những rác bẩn, “tiếng đàn bầu bật trong yên lặng”, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe → kiếp sống vất vưởng.

+ Bác Siêu bán phở: gánh hàng phở “kĩu kịt” trên vai, không có người mua (thứ quà xa xỉ, nhiều tiền) →

cuộc sống bấp bênh do buôn bán ế ẩm

- Chị em Liên:

+ Nhìn trẻ con chơi đùa, nói cười vui vẻ, hai chị em muốn hòa nhập, nhưng lại sợ trái lời mẹ dặn phải trông hàng -> thèm thuồng, cam chịu

+ "Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa" -> Liên đã từng rất sợ bóng tối nhưng mà ở trong

bóng tối đến một lúc Liên quen với bóng tối, Liên không sợ nữa -> cam chịu và tội nghiệp

- "Những người về muộn từ từ đi trong đêm" -> ai cũng mang nỗi niềm về gánh nặng mưu sinh đè nặng trên

vai mà chưa tìm được con đường giải thoát

-> Những kiếp người nghèo khổ, lam lũ, sống vật vờ trước Cách mạng tháng Tám.

* Ước mơ đổi đời: Đằng sau sự vất vả lam lũ, đơn điệu, vô vọng, quẩn quanh, con người phố huyện đều có

chung ước mơ " Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ” Ước mơ của họ chỉ là nỗi khắc khoải, mơ hồ, chập chờn và vu vơ, mờ mịt quá, không rõ ràng,

rất tội nghiệp Dù trong hoàn cảnh sống ấy, họ cũng không mất hết hi vọng, cho thấy vẻ đẹp của niềm tin,

niềm hi vọng, cơ sở để họ hướng đến ngày mai, vượt thoát khỏi hoàn cảnh sống hiện tại của mình Đây là

ước mơ đáng trân trọng

* Tâm trạng của Liên:

- Những rung động tinh tế trước cuộc sống xung quanh:

Ngày đăng: 30/10/2022, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w