Trong đó, các type phụ H1N1, H2N2 và H3N2 được phát hiện ở châu Âu có đặc tính kháng nguyên và đặc tính di truyền khác với các type phụ được phát hiện ở châu Mỹ.. Đường lây truyền Virus
Trang 1Bệnh cúm heo
Do một loại virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae, có vỏ bọc Glycoprotein với chuỗi gen ARN Virus cúm type A ở heo có thể chia thành nhiều type phụ khác nhau dựa vào các protein Haemagglutinin(H) và protein Neuraminidase(N) Các type phụ thường phát hiện phổ biến ở heo gồm type phụ H1N1, H1N2 và H3N2 Ngoài ra một số type phụ khác cũng đã được tìm thấy ở heo gồm H1N7, H3N1, H4N6, H3N3, H9N2
Trong đó, các type phụ H1N1, H2N2 và H3N2 được phát hiện ở châu Âu có đặc tính kháng nguyên và đặc tính di truyền khác với các type phụ được phát hiện ở châu Mỹ
Đường lây truyền
Virus có nhiều trong dịch đường hô hấp của heo mắc bệnh, từ đây mầm bệnh có thể lây lan trực tiếp từ heo bệnh sang heo khỏe mạnh thông qua các dịch tiết, không khí khi heo bệnh hắt hơi, sổ mũi, ho…Mầm bệnh có thể lưu hành trên heo suốt cả năm nhưng thường gây dịch trong các tháng cuối mùa thu và mùa Đông Sự xuất hiện và lây lan của bệnh thường liên quan đến việc vận chuyển heo hoặc sản phẩm của heo chưa qua xử lý thích ứng, đặc biệt là vận chuyển qua biên giới
Triệu chứng
Thời gian nung bệnh từ 1-3 ngày Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, làm hầu hết heo trong đàn bị bệnh trong cùng thời điểm Heo mẫn cảm có thể đột ngột phát bệnh với các triệu chứng như: Ho, sổ mũi, chảy nhiều nước mũi, khó thở, sốt 40,50 C- 41,70C, mệt
Trang 2mỏi, bỏ ăn, heo con nằm co cụm lại một chỗ, da mẩn đỏ Nếu heo bệnh không bị các loại mầm bệnh kế phát thì làm heo bị bệnh cúm thường trầm trọng hơn, tỷ lệ chết tăng lên
Bệnh tích
Tập trung ở đường hô hấp như viêm phổi với các đám đỏ (xuất huyết) trên các thùy, đặc biệt là thùy đỉnh, thùy tim; khí quản, phế quản chứa đầy dịch nhày có bọt khí trong phế quản, hạch phổi thường sưng to Khi cắt phế quản, tiểu phế quản và bóp thấy chảy ra một chất dịch đục, dính, màu đỏ hoặc xám, phế quản và phế nang chứa nhiều tương dịch
Chẩn đoán phân biệt
+ Đối với bệnh dịch tả heo: Sốt cao 410-42,50C ổn định trong 4-5 ngày liền (trong khi đó bệnh cúm heo sốt thất thường và không ổn định) và có đặc trưng bệnh dịch tả heo
+ Tụ huyết trùng heo: Có triệu chứng và bệnh tích ở đường hô hấp (phổi có những vùng bị gan hóa cứng ở sâu trong phổi và phía sau, đường tiêu hóa viêm dạ dày và ruột, thuỷ thũng ở hầu)
+ Bệnh suyễn heo: Có triệu chứng và bệnh tích ở đường hô hấp, viêm tụy tạng hoá
ở các thùy đỉnh, thùy tim, thùy hoành, thở khó, thở thóp bụng, tần số hô hấp cao 80-200/phút, có khi cao hơn
Phòng bệnh
- Kiểm soát nghiêm nhặt động vật và sản phẩm động vật nhập khẩu, đặc biệt là vận chuyển heo, sản phẩm heo chưa qua chế biến
- Tăng cường công tác giám sát dịch bệnh, khi phát hiện có heo mắc bệnh khác thường có triệu chứng của bệnh như đã nêu trên thì báo ngay cho cán bộ thú y và chính quyền ấp, xã để xác minh dịch và lấy mẫu gửi về phòng thí nghiệm
- Heo mua về nuôi phải có nguồn gốc xuất xứ, có giấy chứng nhận kiểm dịch
- Do virus cúm heo có đặc điểm phát tán, lây lan chủ yếu qua đường tiếp xúc trực
Trang 3tiếp, do đó khi nghi ngờ heo mắc bệnh với những triệu chứng, bệnh tích nêu trên thì cần phải cách ly ngay những con heo để hạn chế lây lan Đồng thời thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng toàn bộ khu chuồng nuôi và các khu vực tiếp giáp xung quanh để tiêu diệt mầm bệnh bằng các loại hóa chất như đã sử dụng trong phòng chống cúm gia cầm (Navetcid); tăng cường công tác chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý đàn và áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi và thực hiện tiêm phòng đầy đủ các loại vaccin theo hướng dẫn của cơ quan thú y
- Những kiến thức hiện nay cho thấy các virus cúm không lây truyền sang người thông qua ăn thịt heo đã chế biến hoặc các thực phẩm khác có nguồn gốc từ thịt heo
- Việc dùng nhiệt thường được sử dụng trong chế biến thịt (700C) sẽ nhanh chóng tiêu diệt nếu virus cúm có trong thịt heo
- Các cơ quan chức năng và người tiêu dùng cần đảm bảo rằng thịt heo bệnh hoặc chết không được chế biến để làm thức ăn cho người trong bất cứ điều kiện nào
Thạc sĩ Đặng Thanh Tùng