1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bộ luật dân sự năm 2015

40 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Nội Dung Cơ Bản Của Bộ Luật Dân Sự Năm 2015
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 293 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 20151. BLDS năm 2005 (BLDS năm 2005) được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 1462005 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật dân sự Việt Nam, phát huy thành tựu của BLDS năm 1995 và kinh nghiệm gần 20 năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Sau hơn 9 năm thi hành, BLDS cơ bản đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm của chủ thể trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động v.v.. (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự), thể hiện trên một số điểm lớn như sau:Thứ nhất, BLDS đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) về tôn trọng, bảo vệ quyền công dân trong lĩnh vực dân sự; về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua việc ghi nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế ở nước ta, sự đa dạng và đồng bộ của các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu; hoàn thiện thêm một bước các quy định về quyền của người không phải là chủ sở hữu; ghi nhận sự bình đẳng giữa các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế;

Trang 1

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

1 BLDS năm 2005 (BLDS năm 2005) được Quốc hội khóa XI thông quangày 14/6/2005 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật dân sự Việt Nam,phát huy thành tựu của BLDS năm 1995 và kinh nghiệm gần 20 năm đổi mới,xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Sauhơn 9 năm thi hành, BLDS cơ bản đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước cũng như đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luậtđiều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí,độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm của chủ thể trong các lĩnh vực dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động v.v (sau đây gọi chung

là quan hệ dân sự), thể hiện trên một số điểm lớn như sau:

Thứ nhất, BLDS đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửađổi, bổ sung năm 2001) về tôn trọng, bảo vệ quyền công dân trong lĩnh vực dânsự; về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua việc ghi nhận sựtồn tại của nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế ở nước ta, sự đa dạng vàđồng bộ của các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu; hoàn thiện thêm một bước cácquy định về quyền của người không phải là chủ sở hữu; ghi nhận sự bình đẳnggiữa các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế;

Thứ hai, BLDS đã góp phần thúc đẩy sự hình thành, phát triển của quan

hệ thị trường thông qua việc ghi nhận nguyên tắc tự do hợp đồng; hạn chế sựcan thiệp quá mức của cơ quan công quyền vào quá trình hình thành, tồn tại vàvận động của các quan hệ hàng hóa - tiền tệ; tạo cơ chế pháp lý để thực hiện tinhthần của Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), theo đó, mọi cá nhân, tổchức được làm những gì mà pháp luật không cấm, với điều kiện các việc làm đókhông vi phạm lợi ích công cộng, đạo đức xã hội; ghi nhận nhiều biện pháp đểbảo đảm sự an toàn về mặt pháp lý cho các chủ thể trong các quan hệ dân sự nóichung và kinh doanh nói riêng Nhờ có các quy định có tính chất nền tảng này

mà về cơ bản, các quan hệ thị trường ở nước ta trong thời gian qua đã từng bướchình thành, phát triển;

Thứ ba, nhiều quy định trong BLDS đã có tính tương thích với thông lệquốc tế, góp phần thúc đẩy giao lưu dân sự, thương mại giữa Việt Nam với cácnước trên thế giới, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng và Nhànước ta về hội nhập quốc tế;

Thứ tư, đối với hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, BLDS

bước đầu đã thể hiện được vai trò là luật chung, luật nền Có được vai trò này lànhờ các quy định của BLDS đã ghi nhận được những nguyên tắc và quy định cơbản của việc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ dân sự; đồng thời, đã bao quát

Trang 2

được tương đối đầy đủ các vấn đề của đời sống dân sự Nhờ vậy, BLDS đã gópphần vào việc khắc phục được một bước những mâu thuẫn, chồng chéo của hệthống pháp luật về sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng, góp phần bảo đảm tính thốngnhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng

2 Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước, trước yêucầu thể chế hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết số 48 -NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW và đặc biệt là yêu cầu về công nhận, tôntrọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, về hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế được ghi nhậntrong Hiến pháp năm 2013 thì BLDS hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập,nổi bật là các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, một trong những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, đặc biệtsau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành là Nhà nước phải có cơ chế pháp lý

để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyềncông dân về dân sự Tuy nhiên, một số quy định của BLDS hiện hành chưa đápứng được yêu cầu này, cụ thể như: (1) chưa bảo đảm nguyên tắc quyền dân sựchỉ có thể bị hạn chế bởi luật trong những trường hợp đặc biệt như Hiến phápnăm 2013 đã ghi nhận; (2) nhiều quy định về chủ thể, giao dịch, đại diện, nghĩa

vụ và hợp đồng, thừa kế còn bất hợp lý, thiếu tính khả thi; (3) chưa tạo được cơchế pháp lý hữu hiệu để bảo vệ quyền, lợi ích của bên thứ ba ngay tình, của bênthiện chí, bên yếu thế trong quan hệ dân sự… Hạn chế này lại càng biểu hiện rõnét trong bối cảnh hiện nay khi mà Hiến pháp năm 2013 đã đặt ra nhiều yêu cầumới trong việc bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân ởnước ta;

Thứ hai, nhiều quy định của BLDS còn chưa thực sự tạo điều kiện thuậnlợi cho công cuộc xây dựng và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướngXHCN, cụ thể như: (1) BLDS hiện hành giành rất nhiều quy định về quyền sởhữu, trong khi đó lại có rất ít quy định về các quyền khác đối với tài sản (quyềncủa người không phải là chủ sở hữu tài sản) Thực trạng này đã dẫn đến hậu quả

là, pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và BLDS nói riêng chưa tạo cơ sở pháp

lý đầy đủ và thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng một cách tiết kiệm và hiệuquả các tài sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác của đất nước; (2) vấn

đề bảo vệ quyền sở hữu luôn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọnghàng đầu của bất cứ BLDS nào, trong đó có BLDS nước ta Tuy nhiên, BLDShiện hành chưa ghi nhận đầy đủ các cơ chế pháp lý để thực hiện nhiệm vụ này,

ví dụ như chưa ghi nhận được nguyên tắc quyền của tất cả các chủ sở hữu,không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế đều được pháp luật côngnhận và bảo vệ như nhau; (3) một số quy định của BLDS còn gò bó, không phùhợp với tính năng động của nền kinh tế thị trường, do đó đã ảnh hưởng khôngtốt đến chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanhnghiệp Ví dụ, theo quy định hiện hành về điều kiện có hiệu lực của giao dịch thìcác giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố vô hiệu do nhiều lý do khác nhau, do đó,

Trang 3

không đảm bảo tính ổn định của quan hệ hợp đồng như một yêu cầu tất yếu củanền kinh tế thị trường Quy định hiện hành của BLDS về việc một pháp nhân chỉ

có thể có một đại diện theo pháp luật và chưa có quy định về việc pháp nhân cóthể là đại diện theo ủy quyền là không phù hợp với nhu cầu rất tự nhiên, chínhđáng của các doanh nghiệp về đại diện, chưa bảo đảm tính chuyên nghiệp và tínhnhanh nhạy trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh, nhất là trong điều kiệnhiện nay khi mà các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng có nhu cầu và khả năng

mở rộng quy mô, địa bàn hoạt động của mình và việc tham gia tố tụng Nhữnghạn chế này cần phải được khắc phục sớm để tạo điều kiện cho các doanh nghiệpthực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách thuận lợi, hiệu quả, góp phầnxây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta;

Thứ ba, trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, BLDShiện hành còn chưa thể hiện được một cách đầy đủ vị trí, vai trò của mình với tưcách là bộ luật nền, luật chung, nhất là trong việc thực hiện ba chức năng: (1)quy định những vấn đề cơ bản nhất, chung nhất có liên quan đến tất cả các lĩnhvực thuộc đời sống dân sự; (2) định hướng cho việc xây dựng các văn bản phápluật điều chỉnh các quan hệ dân sự đặc thù, và (3) khi các luật chuyên ngànhkhông có quy định về một quan hệ dân sự thì quy định của BLDS được áp dụng

để điều chỉnh Bất cập này càng được thể hiện rõ hơn khi mà trong điều kiệnhiện nay, bên cạnh BLDS, đã và đang tồn tại ngày càng nhiều đạo luật điềuchỉnh các lĩnh vực dân sự đặc thù, như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật đấtđai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản, Luật thương mại, Luật hôn nhân

và gia đình, Luật sở hữu trí tuệ, Bộ luật lao động,… Kết quả là, BLDS nói riêng

và hệ thống pháp luật dân sự nói chung còn chưa đáp ứng được đầy đủ các yêucầu về tính ổn định, tính khái quát, tính hệ thống, tính dự báo và tính minh bạchtrong hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền;

Thứ tư, cấu trúc của BLDS có điểm chưa hợp lý, chưa bảo đảm tính đồng

bộ, tính hệ thống, tính logic giữa các phần và chế định của Bộ luật Nhiều quyđịnh được lặp lại giữa các phần và các chế định; một số quy định không bảođảm tính rõ ràng, tạo ra các cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho quá trình ápdụng pháp luật dân sự trong thực tiễn

Những hạn chế, bất cập nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực vàhiệu quả của BLDS nói riêng, pháp luật dân sự nói chung; chưa thực sự tạo môitrường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng nhưcho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền dân sự của ngườidân Do đó, việc xây dựng BLDS thay thế cho BLDS năm 2005 là rất cần thiết

II QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Việc xây dựng BLDS được thực hiện trên cơ sở quán triệt những quanđiểm chỉ đạo sau đây:

Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để côngnhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân

Trang 4

trong các lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như những tư tưởng, nguyên tắc cơbản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN về quyền sở hữu, quyền tự dokinh doanh, quyền bình đẳng giữa các chủ thể thuộc mọi hình thức sở hữu vàthành phần kinh tế đã được ghi nhận trong các nghị quyết Đảng, đặc biệt làtrong Hiến pháp năm 2013.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung các quy định còn bất cập, hạn chế trong thựctiễn thi hành để bảo đảm BLDS thực sự phát huy được ba vai trò cơ bản, đó là:(i) Tạo cơ chế pháp lỹ hữu hiệu để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảmquyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền, lợiích của bên yếu thế, bên thiện chí trong quan hệ dân sự; hạn chế đến mức tối đa

sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi, chấm dứt cácquan hệ dân sự; (ii) Tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, sửdụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, bảo đảm sự thông thoáng, ổn định tronggiao lưu dân sự, góp phần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,phục vụ hội nhập quốc tế;

Thứ ba, xây dựng BLDS thành bộ luật nền, có vị trí, vai trò là luật chung

của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ được hình thành trên cơ sở bìnhđẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm; có tính khái quát, tính

dự báo và tính khả thi để một mặt, bảo đảm tính ổn định của Bộ luật, mặt khác,đáp ứng được kịp thời sự phát triển thường xuyên, liên tục của các quan hệ xã hộithuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự;

Thứ tư, bảo đảm tính kế thừa và phát triển các quy định còn phù hợp vớithực tiễn của pháp luật dân sự, cũng như các giá trị văn hóa, tập quán, truyềnthống đạo đức tốt đẹp của Việt Nam; có sự tham khảo kinh nghiệm xây dựngBLDS của một số nước, nhất là các nước có truyền thống pháp luật tương đồngvới Việt Nam

III BỐ CỤC CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

BLDS số 91/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015 (sauđây gọi là BLDS năm 2015) có 689 điều, được bố cục thành 6 phần, 27 chươngvới những nội dung cơ bản sau đây:

- Phần thứ nhất Quy định chung, bao gồm 10 chương, 157 điều (từ Điều

1 đến Điều 157), quy định về những quy định chung; xác lập, thực hiện và bảo

vệ quyền dân sự; cá nhân; pháp nhân; Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơquan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự; hộ gia đình, tổhợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự; tàisản; giao dịch dân sự; đại diện; thời hạn và thời hiệu

- Phần thứ hai Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, bao gồm 4

chương, 116 điều (từ Điều 158 đến Điều 273), quy định nguyên tắc xác lập, thựchiện quyền sở hữu; quyền khác đối với tài sản; bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác

Trang 5

đối với tài sản; giới hạn quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản; chiếm hữu;quyền sở hữu; quyền khác đối với tài sản.

- Phần thứ ba Nghĩa vụ và hợp đồng, bao gồm 7 chương, 335 điều (từ

Điều 274 đến Điều 608), quy định những vấn đề chung về hợp đồng và nghĩa vụtrong giao kết hợp đồng; hợp đồng; một số hợp đồng thông dụng; hứa thưởng,thi có giải; thực hiện công việc không có ủy quyền; nghĩa vụ hoàn trả do chiếmhữu, sử dụng tài sản được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

- Phần thứ tư Thừa kế, bao gồm 4 chương, 54 điều (từ Điều 609 đến

Điều 662), quy định những vấn đề chung về thừa kế; thừa kế theo di chúc; thừa

kế theo pháp luật; thanh toán và phân chia di sản

- Phần thứ năm Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố

nước ngoài, bao gồm 3 chương, 25 điều (từ Điều 663 đến Điều 687), quy địnhnhững vấn đề chung; pháp luật áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân và pháp luật

áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân

- Phần thứ sáu Điều khoản thi hành, gồm 2 điều: Điều 688 và Điều 689,

quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp

IV MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Với mục tiêu là nhằm xây dựng BLDS thực sự trở thành luật chung của hệthống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn cácquyền của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự; góp phần hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phục vụ hội nhập quốc tế, ổn địnhmôi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội sau khi Hiến pháp năm

2013 được ban hành, trên cơ sở kế thừa và phát huy pháp luật dân sự cũ, BLDSnăm 2015 có những nội dung cơ bản sau:

1 Quy định Bộ luật dân sự là luật chung điều chỉnh các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm

1.1 Về nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

Trên cơ sở các nguyên tắc đã được xây dựng và áp dụng trong BLDS năm

2005 và các luật điều chỉnh trong lĩnh vực quan hệ dân sự cụ thể, BLDS năm

2015 quy định 5 nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, trong đó, nội dung cácnguyên tắc là sự bao quát ngắn gọn có chọn lọc của các nguyên tắc đã được ghinhận tại Chương II, phần thứ nhất của BLDS năm 2005, loại bỏ nguyên tắc tựhòa giải vì bản thân nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận đã bao hàmnội dung nguyên tắc này Việc quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý với địnhhướng xây dựng BLDS năm 2015 trở thành bộ luật chung, mang tính bao quátcao (chỉ ghi nhận những nguyên tắc cơ bản nhất điều chỉnh các quan hệ dân sự)

Trang 6

Điều 3 BLDS năm 2015 quy định các nguyên tắc như sau: “1 Mọi cá nhân,pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử;được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản 2 Cá nhân,pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ

sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạmđiều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với cácbên và phải được chủ thể khác tôn trọng 3 Cá nhân, pháp nhân phải xác lập,thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trungthực 4 Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không đượcxâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợppháp của người khác 5 Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việckhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”

Đây là những nguyên tắc cơ bản đã bao quát, định hướng tất cả các điềukhoản, các chế định nằm trong BLDS, bảo đảm tính thống nhất, logic, đồng bộcủa các luật khác trong việc điều chỉnh quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực dân sự

cụ thể, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án khi cần giải thích một điềuluật không rõ nghĩa hoặc có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau mà khôngthể tìm thấy đáp án thích hợp ở chính điều luật đó hoặc ở chế định bao hàm điềuluật đó thì cơ quan tài phán có thể viện dẫn các tập quán và các nguyên tắc nàycủa BLDS để giải thích điều luật Việc quán triệt các nguyên tắc này góp phầnbảo đảm tất cả quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân được Hiến pháp và pháp luậtcông nhận đều được tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và chỉ có thể bị hạn chếtheo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninhquốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng

1.2 Về áp dụng Bộ luật dân sự

Tại Điều 4 BLDS năm 2015 về áp dụng BLDS đã một lần nữa khẳng định

vị trí, vai trò của BLDS trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự,

cụ thể Điều 4 quy định: “1 Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân

sự 2 Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thểkhông được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tạiĐiều 3 của Bộ luật này 3 Trường hợp luật khác có liên quan không quy địnhhoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật nàyđược áp dụng 4 Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật này vàđiều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên về cùng một vấn

đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế”

Với quy định như trên, việc áp dụng pháp luật dân sự phải được thực hiệntrên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự đã được ghinhận trong BLDS, các chủ thể áp dụng pháp luật dân sự phải đồng thời có sự đốichiếu, so sánh giữa các quy định tại các đạo luật chuyên ngành điều chỉnh các

Trang 7

lĩnh vực cụ thể với các nguyên tắc và quy định tại BLDS Trường hợp có sựkhác nhau giữa quy định của Bộ luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hòaXHCN Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định củađiều ước quốc tế.

1.3 Bổ sung các công cụ pháp lý giúp Tòa án có đủ căn cứ giải quyết các

vụ việc dân sự

Một trong những điểm mới thể hiện rõ quyết tâm xây dựng BLDS trởthành luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự, đó là việc quy định cụ thể và bổsung thêm căn cứ pháp lý là án lệ, lẽ công bằng giúp Tòa án có đủ căn cứ giảiquyết các vụ việc dân sự, kể cả khi chưa có điều luật quy định để áp dụng thì ápdụng tập quán để giải quyết các vụ việc dân sự Theo đó, Điều 5 và Điều 6 quyđịnh như sau:

2 Trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không quy địnhthì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với cácnguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này

Điều 6 Áp dụng tương tự pháp luật

1 Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luậtdân sự mà các bên không có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không

có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệdân sự tương tự

2 Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tạikhoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quyđịnh tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”

Quy định như trên được xuất phát từ thực tiễn thi hành pháp luật, trong

đó, quy định của pháp luật dân sự nói chung và BLDS năm 2005 nói riêng cònnhiều khoảng trống, thiếu cụ thể hoặc chưa phản ánh được đầy đủ các quan hệdân sự phát sinh trong đời sống kinh tế - xã hội Điều đó đã gây ra không ít khókhăn cho Tòa án trong giải quyết các vụ việc dân sự Mặt khác, theo quy định tạikhoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xửđộc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, từ nguyên tắc hiến định này, trên thực tế,TAND thường từ chối giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp không cóquy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề tranh chấp, lúc này quyền lợi, nghĩa vụ

Trang 8

dân sự của các bên có liên quan, tranh chấp trở thành không có ai bảo vệ, canthiệp, giải quyết Điều này dường như đang đi ngược lại với nguyên lý quyền,lợi ích hợp pháp của công dân được nhà nước bảo hộ Do vậy, để đảm bảo đủcăn cứ pháp luật, bám sát thực tiễn trong giải quyết các vụ việc dân sự, cụ thểhóa nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013, BLDS năm 2015 đã quyđịnh cụ thể và rõ ràng hơn về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, bổ sungquy định về việc Tòa án có thể áp dụng án lệ, lẽ công bằng trong giải quyết các

vụ, việc dân sự, góp phần bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể tham gia quan hệdân sự, nâng cao vị thế, vai trò của cơ quan Tòa án đặc biệt là Thẩm phán tronggiải quyết các vụ, việc dân sự Với quy định như trên, Tòa án không được từchối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng (đã đượckhẳng định và quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 14 BLDS năm 2015)

2 Bộ luật sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của Bộ luật dân sự năm

2005 để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về xây dựng, hoàn thiện hơn các cơ chế pháp lý công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự

2.1 Bổ sung căn cứ pháp lý về xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự

BLDS năm 2015 đã xây dựng một Chương riêng về xác lập, thực hiện vàbảo vệ quyền dân sự, trong đó đã bổ sung thêm nhiều cơ chế pháp lý để bảo vệquyền dân sự của các cá nhân, pháp nhân tham gia quan hệ dân sự, trong đó:

- Cá nhân, pháp nhân thực hiện quyền dân sự theo ý chí của mình, khôngđược trái với quy định tại Điều 3 và Điều 10 của BLDS năm 2015 Việc cá nhân,pháp nhân không thực hiện quyền dân sự của mình không phải là căn cứ làmchấm dứt quyền, trừ trường hợp luật có quy định khác (Điều 9);

- Cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyền dân sự của mình gâythiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đíchkhác trái pháp luật Đây là quy định nhằm cụ thể hóa Điều 15 và Điều 46 Hiếnpháp năm 2013 và nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong pháp luậtdân sự, theo đó, trường hợp cá nhân, pháp nhân vi phạm giới hạn này thì Tòa ánhoặc cơ quan có thẩm quyền khác căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi viphạm mà có thể không bảo vệ một phần hoặc toàn bộ quyền của họ, buộc bồithường nếu gây thiệt hại và có thể áp dụng chế tài khác do luật quy định (Điều 10);

- Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó cóthể lựa chọn áp dụng phương thức tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền thực hiện các biện pháp theo quy định của BLDS, luật khác có liênquan (Điều 11), trong đó:

+ Trường hợp cá nhân, pháp nhân lựa chọn phương thức tự bảo vệ quyềndân sự thì việc tự bảo vệ phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến

Trang 9

quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân

sự (Điều 12)

+ Trường hợp quyền dân sự bị vi phạm mà có thiệt hại thì cá nhân, phápnhân có quyền yêu cầu người có hành vi vi phạm bồi thường toàn bộ thiệt hại,trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác (Điều 13)

+ Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệquyền dân sự của cá nhân, pháp nhân Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạmhoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụngtại Tòa án hoặc trọng tài Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính đượcthực hiện trong những trường hợp luật định Quyết định giải quyết vụ việc theothủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án

Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự vì lý dochưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định về áp dụng tậpquán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và lẽ côngbằng được áp dụng để xem xét, giải quyết (Điều 14) Đây là một trong nhữngđiểm mới được bổ sung trong BLDS năm 2015 nhằm tạo công cụ pháp lý bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân khi bị xâm phạm Quy định nàyphù hợp với nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôntrọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân về trách nhiệm củaChính phủ, TAND trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân (khoản 6Điều 96, khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013), theo đó “TAND có nhiệm vụbảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN,bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”

2.2 Tòa án chỉ được áp dụng thời hiệu khi giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp một bên hoặc các bên dân sự có yêu cầu

Thể chế hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết số NQ/TW và đặc biệt cụ thể hóa nội dung, tinh thần các điều 13, 14, 15, 16, 30,102 của Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôn trọng và có cơ chế pháp lý đầy

49-đủ, kịp thời để bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền dân sự, đồng thời để phù hợpvới bản chất pháp lý của thời hiệu trong quan hệ dân sự, BLDS 2015 quy định

về thời hiệu theo nguyên tắc cá nhân, pháp nhân phải yêu cầu tòa án, trọng tàigiải quyết vụ, việc dân sự trong thời hạn luật định, hết thời hạn đó mà cá nhân,pháp nhân mới có yêu cầu thì sẽ làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thểtheo điều kiện do luật quy định Trong đó, cá nhân, pháp nhân có quyền căn cứvào thời hiệu để bảo vệ quyền dân sự, theo đó, khoản 2 Điều 149 BLDS năm

2015 quy định: “2 Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu ápdụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa

ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc Ngườiđược hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừtrường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”

Trang 10

Quy định như vậy là phù hợp với bản chất pháp lý của thời hiệu, tạo công

cụ pháp lý tốt hơn để các chủ thể căn cứ vào đó mà bảo vệ các quyền dân sự củamình Việc quy định thời hiệu khởi kiện như hiện hành tuy có tác dụng tạo thuậnlợi cho Tòa án trong việc chứng minh, giải quyết vụ việc dân sự, đồng thời tạocăn cứ để Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự mà không phảiđưa ra phán quyết cụ thể để xác định quyền lợi, nghĩa vụ của các bên trong quan

hệ, nhưng lại có hạn chế là chưa giúp giải quyết được một cách triệt để các tranhchấp phát sinh Bên cạnh đó, khi không được Nhà nước bảo vệ quyền lợi thì cácchủ thể có thể sử dụng những biện pháp hành xử ngoài vòng pháp luật, gây mất trật

tự, an toàn xã hội Mặt khác, quy định như vậy là để hạn chế tình trạng Tòa án cóthể căn cứ vào thời hiệu mà từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc, góp phần cụ thể hóa

và triển khai thi hành khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013: “TAND có nhiệm vụbảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN,bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”

2.3 Hoàn thiện các cơ chế pháp lý bảo vệ tốt hơn quyền dân sự của người chưa thành niên, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người mất năng lực hành vi dân sự

Cụ thể hóa quy định về tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dânđược ghi nhận trong Hiến pháp và các nghị quyết của Đảng, khắc phục những bấtcập trong thực tiễn thi hành pháp luật, BLDS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổsung quan trọng về cá nhân, bổ sung cơ chế pháp lý mới, hợp lý để bảo vệ tốt hơnquyền của những cá nhân yếu thế về năng lực hành vi dân sự trong việc thực hiệnquyền, nghĩa vụ dân sự, đặc biệt là chế độ giám hộ đối với người chưa thành niên,người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi, cụ thể:

- Về người chưa thành niên: BLDS năm 2015 quy định cụ thể, có tính khả

thi hơn về năng lực hành vi của người chưa thành niên, đặc biệt là trong cácquan hệ dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu,theo đó, Điều 21 quy định: “1 Người chưa thành niên là người chưa đủ mườitám tuổi 2 Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theopháp luật của người đó xác lập, thực hiện 3 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủmười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diệntheo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngàyphù hợp với lứa tuổi 4 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đếnbất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu và giao dịch dân sự khác theoquy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”

- Về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: đây là quy định

mới được bổ sung trong BLDS năm 2015, theo đó, khoản 1 Điều 23 BLDS năm

2015 quy định: “Người do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khảnăng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân

sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan,

Trang 11

tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp ý tâm thần, Tòa án ra quyếtđịnh tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ”

Mục đích của quy định này là để bảo đảm bao quát được các nhóm ngườiyếu thế về năng lực hành vi không thuộc nhóm người chưa thành niên, ngườimất năng lực hành vi dân sự nhưng do bị khuyết tật hoặc do tình trạng thể chất,tinh thần dẫn tới tình trạng sức khỏe tâm thần không tốt, khả năng nhận thứckhông đầy đủ, thiếu chính xác, không rõ ràng về hành vi của mình nhưng chưa ởmức mất năng lực hành vi dân sự dẫn tới nhu cầu cần có người giám hộ trongxác lập, thực hiện hành vi pháp lý để có thể tiếp cận được các quyền dân sự củamình (trong xã hội hiện đại, cùng với tỷ lệ người già tăng lên thì cũng kéo theo

sự tăng lên về nhu cầu được trợ giúp trong xác lập, thực hiện hành vi pháp lý)

- Về chế định giám hộ: BLDS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm

bảo đảm tốt nhất lợi ích của người yếu thế về năng lực hành vi dân sự, cụ thể:

+ Bổ sung quy định về pháp nhân làm người giám hộ (các điều 46, 48 và50) và việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theoquy định của pháp luật về hộ tịch (Điều 46);

+ Bổ sung quyền, nghĩa vụ và điều kiện của người giám sát việc giám hộ,theo đó khoản 3, 4 Điều 51 quy định: “3 Người giám sát việc giám hộ phải có

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu là cá nhân, có năng lực pháp luật dân sựphù hợp với việc giám sát nếu là pháp nhân; có điều kiện cần thiết để thực hiệnviệc giám sát 4 Người giám sát việc giám hộ có quyền và nghĩa vụ sau đây: a)Theo dõi, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ; b) Xem xét, có ýkiến kịp thời bằng văn bản về việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự quy định tạiĐiều 59 của Bộ luật này; c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giám hộxem xét thay đổi hoặc chấm dứt việc giám hộ, giám sát việc giám hộ”

+ Quy định cụ thể hơn về việc cử, chỉ định người giám hộ, giám sát vàgiải quyết tranh chấp giữa những người giám hộ, theo đó, Điều 54 quy định: “1.Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không cóngười giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luậtnày thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có tráchnhiệm cử người giám hộ Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộquy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranhchấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ Trường hợp

cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thìphải xem xét nguyện vọng của người này 2 Việc cử người giám hộ phải được

sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ 3 Việc cử người giám hộ phảiđược lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ

cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ 4 Trừ

trường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này, người giám

hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định

Trang 12

trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của Bộ luật này Trường hợpkhông có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc

đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ”

+ Sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ của người giám hộ đối với ngườiđược giám hộ mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,làm chủ hành vi, theo đó, Điều 57 quy định: “1 Người giám hộ của người mấtnăng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây: a) Chăm sóc, bảo đảm việcđiều trị bệnh cho người được giám hộ; b) Đại diện cho người được giám hộtrong các giao dịch dân sự; c) Quản lý tài sản của người được giám hộ; d) Bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ 2 Người giám hộ củangười có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết địnhcủa Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này”

+ Bổ sung quy định về chấm dứt việc giám hộ phù hợp với quy định củapháp luật về hộ tịch, theo đó, Điều 62 quy định: “1 Việc giám hộ chấm dứttrong trường hợp sau đây: a) Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sựđầy đủ; b) Người được giám hộ chết; c) Cha, mẹ của người được giám hộ làngười chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ củamình; d) Người được giám hộ được nhận làm con nuôi 2 Thủ tục chấm dứtviệc giám hộ thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch”

Việc bổ sung các nội dung mới về giám hộ trong BLDS năm 2015 nhằmphù hợp với thực tiễn, khắc phục những bất cập, hạn chế trong quy định củaBLDS năm 2005 Trong đó, tạo ra cơ chế pháp lý phù hợp với yêu cầu cao nhấtcủa giám hộ là việc giám hộ phải vì quyền, lợi ích của người được giám hộ; xácđịnh rõ được giám hộ là một chế định pháp lý được áp dụng để trợ giúp chongười yếu thế về năng lực hành vi dân sự trong thực hiện, bảo vệ quyền dân sựthay vì quan niệm giám hộ là quan hệ hỗ trợ, nương tựa lẫn nhau mang tính đặcquyền giữa các thành viên trong gia đình còn phổ biến hiện nay (do tính chấtđương nhiên của việc giám hộ giữa những người thân thích còn dẫn tới việcgiám hộ rất ít được đăng ký hoặc không có đăng ký tại cơ quan nhà nước cóthẩm quyền); bảo đảm tôn trọng quyền tự quyết, quyền tự thỏa thuận trong cửngười trợ giúp, cũng như tính minh bạch, công khai trong áp dụng chế độ trợgiúp cho người yếu thế về năng lực hành vi dân sự

2.4 Hoàn thiện các quy định quyền nhân thân của cá nhân

Triển khai thi hành Hiến pháp về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảmquyền con người, quyền công dân, BLDS năm 2015 đã cụ thể hóa hơn tinh thầncủa Hiến pháp theo hướng, chỉ quy định mang tính nguyên tắc về các quyềnnhân thân của cá nhân, việc thực thi các quyền này được áp dụng theo quy địnhcủa văn bản pháp luật chuyên ngành

Một số quyền nhân thân đặc trưng trong quan hệ dân sự, như: quyền về

họ, tên; quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thânthể; quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác; quyền xác định lại

Trang 13

giới tính; quyền được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân;quyền tự do đi lại và cư trú, quyền tiếp cận thông tin, quyền lập hội… được sửađổi, bổ sung cụ thể hơn để giải quyết các vấn đề bất cập trong thực tiễn áp dụng

và yêu cầu cụ thể hóa thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013, cụ thể:

- Về quyền đối với họ, tên: các điều 26, 27, 28 BLDS năm 2015 quy định

họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó Họ của

cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận củacha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán

Trong trường hợp chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ, thì họ của cá nhânđược áp dụng theo quy định pháp luật về hộ tịch hoặc pháp luật về nuôi con nuôinếu cá nhân được nhận làm con nuôi Đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nướcngoài, pháp luật ghi nhận quyền thay đổi họ theo họ của vợ, của chồng trongquan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật củanước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thayđổi họ theo họ của vợ, chồng là người nước ngoài Những vấn đề cụ thể trongthực thi quyền này được thực hiện theo pháp luật về hộ tịch

- Về quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể, Điều 33 BLDS năm 2015 quy định: “1 Cá nhân có quyền sống, quyền

bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sứckhỏe Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật 2 Khi phát hiện người bị tainạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặcyêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện cần thiết đưa ngay đến cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có tráchnhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật vềkhám bệnh, chữa bệnh 3 Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thểngười; thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người;thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nàokhác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức

có thẩm quyền thực hiện Trường hợp người được thử nghiệm là người chưathành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ,chồng, con thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trường hợp

có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiếncủa những người nêu trên thì phải có quyết định của người có thẩm quyền của

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh 4 Việc khám nghiệm tử thi được thực hiện khithuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có sự đồng ý của người đó trước khichết; b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám

hộ nếu không có ý kiến của người đó trước khi chết; c) Theo quyết định củangười đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền trong trường hợp luật quy định”

Trang 14

- Về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác, Điều 35

BLDS năm 2015 quy định: “1 Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể củamình khi còn sống hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết

vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học khác 2 Cánhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học

có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học,dược học và các nghiên cứu khoa học khác 3 Việc hiến mô, lấy mô, bộ phận cơthể người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theoquy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến,lấy xác và luật khác có liên quan”

- Về quyền xác định lại giới tính, trên cơ sở Điều 36 BLDS năm 2005,

Điều 36 BLDS năm 2015 bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi

hộ tịch và quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại, theo đó,Điều 36 BLDS năm 2015 quy định: “1 Cá nhân có quyền xác định lại giới tính.Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giớitính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần

có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính 2 Việc xác định lại giớitính được thực hiện theo quy định của pháp luật 3 Cá nhân đã thực hiện việcxác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy địnhcủa pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xácđịnh lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”

- Bổ sung quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình, Điều 39 BLDS

năm 2015 quy định: “1 Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của

vợ, chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyềnnuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha

mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình Con sinh ra không phụ thuộcvào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền, nghĩa vụ như nhau đối vớicha, mẹ của mình 2 Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và giađình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình và luật khác cóliên quan”

3 Bộ luật hoàn thiện các chế định về chủ thể quan hệ pháp luật dân

sự, tài sản và quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng, pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

3.1 Về chủ thể quan hệ pháp luật dân sự

Tại Điều 1 BLDS năm 2015 đã xác định rõ chủ thể của quan hệ pháp luậtdân sự chỉ bao gồm cá nhân, pháp nhân Đối với các chủ thể khác như hộ giađình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân không phải là chủ thểcủa quan hệ dân sự, mà tùy thuộc vào từng quan hệ dân sự, việc tham gia củacác chủ thể này thực hiện thông qua các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp táchoặc thông qua người đại diện

Trang 15

- Về pháp nhân:

Để góp phần “hiện thực hóa” địa vị pháp lý của chủ thể này trong cácquan hệ dân sự, Bộ luật quy định mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền thành lậppháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác; pháp nhân được đăng ký tại cơquan có thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định pháp nhân khôngphải đăng ký; việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai Khoản 1Điều 74 quy định các điều kiện một tổ chức được công nhận là pháp nhân baogồm: “Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; có

cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật; có tài sản độc lập với cánhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danhmình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”

+ Để bảo đảm bao quát, dự báo được sự đa dạng của pháp nhân trongquan hệ dân sự, BLDS năm 2015 quy định 2 loại pháp nhân cơ bản, đó là:

(i) Pháp nhân thương mại: pháp nhân hoạt động vì mục tiêu chính là tìmkiếm lợi nhuận, lợi nhuận được chia cho các thành viên; Pháp nhân thương mạibao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác (Điều 75);

(ii) Pháp nhân phi thương mại: pháp nhân hoạt động không vì mục tiêuchính là tìm kiếm lợi nhuận và không phân chia lợi nhuận cho các thành viên.Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhândân, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xãhội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội

và các tổ chức phi thương mại khác (Điều 76)

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước, Nhà nước Việt Nam và cơ quan nhà nướctham gia ngày càng nhiều vào các giao dịch dân sự, thương mại, đặc biệt là cácgiao dịch có yếu tố nước ngoài với tư cách là một bên bình đẳng với các bênkhác trong các giao dịch này, ví dụ giao dịch vay nước ngoài, phát hành tráiphiếu quốc tế của Chính phủ, các hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công -

tư (bao gồm cả các hợp đồng BOT, BTO, BT) Trong các giao dịch này, để đảmbảo bên nhà nước thực sự bình đẳng với các bên khác, phía nước ngoài thườngyêu cầu Nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ quyền miễn trừ đối với bản thân Nhànước, cơ quan nhà nước và quyền miễn trừ đối với tài sản của Nhà nước và cơquan nhà nước Đây cũng là thực tiễn phổ biến trên thế giới đối với hoạt độngdân sự, thương mại quốc tế có sự tham gia của Nhà nước, cơ quan nhà nước

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, không chỉ Nhà nước ViệtNam và cơ quan nhà nước tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại với cánhân, tổ chức nước ngoài mà các nhà nước, cơ quan tổ chức nước ngoài cũngtham gia ngày càng tăng vào các giao dịch dân sự, thương mại với các cá nhân,

tổ chức Việt Nam

Trang 16

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa có căn cứ pháp lý quy định vềquyền miễn trừ cũng như cho phép Nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ quyềnmiễn trừ khi tham gia các giao dịch dân sự, thương mại quốc tế này Do vậy,việc bổ sung quy định này trong BLDS năm 2015 là thực sự cần thiết, tạo cơ sởpháp lý cho Nhà nước, cơ quan nhà nước tham gia vào các giao dịch dân sự,thương mại có yếu tố nước ngoài, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang thựchiện tái cơ cấu đầu tư công, tập trung vào phát triển mô hình đầu tư theo hìnhthức đối tác công - tư (PPP) để thu hút nhà đầu tư tư nhân tham gia vào đầu tưphát triển cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công cũng như cơ sở pháp lý chocác giao dịch dân sự, thương mại của các cá nhân, tổ chức Việt Nam với các Nhànước, cơ quan nhà nước nước ngoài.

Về nội dung, quy định này khẳng định về nguyên tắc của Nhà nước, cơquan nhà nước và tài sản của Nhà nước, cơ quan nhà nước được hưởng quyềnmiễn trừ khi tham gia các giao dịch dân sự Tuy nhiên, Nhà nước, cơ quan nhànước có thể từ bỏ quyền miễn trừ này nếu có thỏa thuận trong điều ước, thỏathuận quốc tế về việc miễn trừ đó Các quy định này cũng sẽ được áp dụng đốivới các nhà nước, cơ quan nhà nước của nước ngoài và tài sản của họ khi thamgia vào các giao dịch dân sự, thương mại ở Việt Nam

+ Về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, Điều 86 BLDS năm 2015quy định: “1 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của phápnhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhânkhông bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy địnhkhác 2 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu phápnhân phải đăng ký hoạt động, thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phátsinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký 3 Năng lực pháp luật dân sự của phápnhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân”

+ BLDS năm 2015 cũng đã sửa đổi, bổ sung một số quy định chung khác

về pháp nhân, như: điều lệ, tên gọi, trụ sở, tài sản, cơ cấu tổ chức, văn phòng đạidiện, chi nhánh của pháp nhân; hợp nhất pháp nhân, sáp nhập pháp nhân, chiapháp nhân, chuyển đổi pháp nhân

- Về sự tham gia của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự:

Cụ thể hóa Điều 51, 52, 53, 54, 55 Hiến pháp năm 2013, BLDS năm 2015quy định sự tham gia của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các cơ quannhà nước ở trung ương và ở địa phương trong quan hệ dân sự Trong đó, Nhànước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương và ở địaphương bình đẳng với chủ thể khác là cá nhân, pháp nhân khi tham gia quan hệdân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này

+ Về vấn đề đại diện, Điều 98 BLDS năm 2015 quy định, việc đại diệncho Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương và ở

Trang 17

địa phương tham gia quan hệ dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật

có liên quan về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quannhà nước Việc đại diện thông qua cá nhân, pháp nhân khác chỉ được thực hiệntrong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định

+ Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự, Điều 99 BLDS năm 2015quy định: “1 Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trungương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của mình bằng tài sản

mà mình là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, trừ trường hợp tài sản đãđược chuyển giao cho pháp nhân theo quy định tại khoản 2 Điều này 2 Phápnhân do Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương,

ở địa phương thành lập không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh từ quan hệdân sự của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trungương, ở địa phương 3 Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước

ở trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của phápnhân do mình thành lập, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, trừ trường hợp Nhànước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phươngbảo lãnh cho nghĩa vụ dân sự của pháp nhân này theo quy định của pháp luật 4

Cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa

vụ dân sự của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước khác ởtrung ương, ở địa phương, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”

+ Về trách nhiệm nghĩa vụ dân sự của Nhà nước Cộng hòa XHCN ViệtNam, cơ quan nhà nước ở trung ương và ở địa phương trong quan hệ dân sự vớimột bên là nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài, Điều 100 BLDS năm 2015quy định: “1 Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trungương và ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự do mình xác lập vớiNhà nước, khi không được hưởng quyền miễn trừ trong các trường hợp sau đây:a) Điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên có quy định vềviệc từ bỏ quyền miễn trừ; b) Các bên trong quan hệ dân sự có thỏa thuận từ bỏquyền miễn trừ; c) Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ởtrung ương và ở địa phương từ bỏ quyền miễn trừ 2 Trách nhiệm về nghĩa vụ dân

sự của nhà nước, cơ quan nhà nước của nước ngoài khi tham gia quan hệ dân sựvới Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địaphương, pháp nhân, cá nhân Việt Nam được áp dụng tương tự khoản 1 Điều này”

- Về sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có

tư cách pháp nhân (từ Điều 101 đến Điều 104):

Về sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có

tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự, kế thừa các quy định của BLDS năm

2005, Điều 101 BLDS năm 2015 quy định: “1 Trường hợp hộ gia đình, tổ hợptác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì cácthành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người

Trang 18

đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Việc ủy quyền phải đượclập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Khi có sự thay đổi ngườiđại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết Trường hợpthành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhântham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm ngườiđại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thựchiện 2 Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình

sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai”

Quy định như vậy là vừa để giải quyết được những vấn đề bất cập trongthực tiễn áp dụng pháp luật về hộ gia đình, tổ hợp tác vừa vẫn đáp ứng được yêucầu của các cá nhân tham gia các quan hệ dân sự thông qua hộ gia đình và tổhợp tác, dựa trên căn cứ sau đây: hộ gia đình và tổ hợp tác là các tổ chức không

có tư cách pháp nhân, đã và đang tham gia rộng rãi vào nhiều quan hệ trong giaodịch dân sự, việc quy định các vấn đề pháp lý liên quan đến các tổ chức này làcần thiết Tuy nhiên, quy định hộ gia đình, tổ hợp tác với tư cách là chủ thể củaquan hệ dân sự như BLDS năm 2005 thì cần phải hết sức cân nhắc vì để là chủthể thì phải nhân danh chính mình, chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình,nhưng trên thực tế hộ gia đình, tổ hợp tác khi tham gia các quan hệ dân sựthường không nhân danh mình, không chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng củamình mà thường nhân danh người đại diện, các thành viên phải chịu trách nhiệmbằng tài sản của họ đối với giao dịch liên quan đến hộ gia đình Thực tiễn tốtụng dân sự cho thấy, hầu như không có nguyên đơn hoặc bị đơn là hộ gia đình,

tổ hợp tác trong giải quyết các vụ việc dân sự

3.2 Hoàn thiện chế định tài sản và quyền sở hữu để bảo đảm tính bao quát, minh bạch trong quy định của pháp luật, huy động và khai thác được hết các nguồn lực vật chất trong xã hội

- Về chế định tài sản:

BLDS năm 2015 quy định tài sản bao gồm bất động sản và động sản, cóthể là vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản Bất động sản và động sản có thể làtài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai (Điều 105)

+ Quyền với bất động sản liền kề (từ Điều 245 đến Điều 256): BLDS năm

2005 đã không làm rõ được bản chất pháp lý của quyền đối với bất động sản liền

kề và yêu cầu của thực tiễn về bất động sản liền kề, cũng như tạo cơ chế pháp lýtrong bảo đảm sự ổn định của các quan hệ xã hội liên quan, hạn chế cá nhân, phápnhân lạm dụng việc thực hiện quyền dân sự của mình để vi phạm quyền, lợi íchcủa chủ thể khác Do đó, BLDS năm 2015 đã có sự sửa đổi, bổ sung theo hướngkhắc phục những tồn tại, hạn chế, đồng thời kế thừa một số quy định của BLDSnăm 2005 về “Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề” Theo đó, về quyềnnày, Điều 245 BLDS năm 2015 quy định đây là một quyền được thực hiện trênmột bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việckhai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất

Trang 19

động sản hưởng quyền) Quyền đối với bất động sản liền kề được xác lập theo địathế tự nhiên, theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc (Điều 246).Nguyên tắc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề được quy định như sau:Việc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề theo thỏa thuận của các bên.Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thực hiện theo các nguyên tắc sauđây: (1) Bảo đảm nhu cầu hợp lý của việc khai thác bất động sản hưởng quyềnphù hợp với mục đích sử dụng của cả bất động sản hưởng quyền và bất động sảnchịu hưởng quyền; (2) Không được lạm dụng quyền đối với bất động sản chịuhưởng quyền; (3) Không được thực hiện hành vi ngăn cản hoặc làm cho việcthực hiện quyền đối với bất động sản hưởng quyền trở nên khó khăn (Điều 248).

+ Quyền hưởng dụng (từ Điều 257 đến Điều 266):

BLDS năm 2015 bổ sung quy định về quyền hưởng dụng theo hướng,Quyền hưởng dụng là quyền mà chủ thể có quyền đó được khai thác công dụng

và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể kháctrong một thời hạn nhất định Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy địnhcủa luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc Quyền hưởng dụng được xác lập từthời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luậtliên quan có quy định khác Quyền hưởng dụng đã được xác lập có hiệu lực đốivới mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác

Người hưởng dụng có quyền tự mình hoặc cho phép người khác khai thác,

sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng; yêu cầu chủ sởhữu tài sản thực hiện nghĩa vụ sửa chữa đối với tài sản, trường hợp thực hiệnnghĩa vụ thay cho chủ sở hữu tài sản thì có quyền yêu cầu chủ sở hữu tài sảnhoàn trả chi phí; cho thuê quyền hưởng dụng đối với tài sản

Chủ sở hữu tài sản có quyền định đoạt tài sản nhưng không được làm thayđổi quyền hưởng dụng đã được xác lập; yêu cầu Tòa án truất quyền hưởng dụngtrong trường hợp người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình;không được cản trở, thực hiện hành vi khác gây khó khăn hoặc xâm phạm đếnquyền, lợi ích hợp pháp của người hưởng dụng; thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tàisản để bảo đảm không bị suy giảm đáng kể dẫn tới tài sản không thể sử dụngđược hoặc mất toàn bộ công dụng, giá trị của tài sản

Quyền hưởng dụng chấm dứt trong trường hợp thời hạn của quyền hưởngdụng đã hết; theo thỏa thuận của các bên; người hưởng dụng trở thành chủ sởhữu vật là đối tượng của quyền hưởng dụng; người hưởng dụng từ bỏ hoặckhông thực hiện quyền hưởng dụng trong thời hạn do luật quy định; tài sản là đốitượng của quyền hưởng dụng không còn; theo quyết định của Tòa án; căn cứ kháctheo quy định của Luật

+ Quyền bề mặt (từ Điều 267 đến Điều 273):

BLDS năm 2015 bổ sung quyền bề mặt, theo đó, quyền bề mặt là quyềncủa một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt

Trang 20

nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác Quyền nàyđược xác lập theo thỏa thuận, theo di chúc hoặc theo quy định của luật Quyền

bề mặt có hiệu lực từ thời điểm chủ thể có quyền sử dụng đất chuyển giao mặtđất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủthể có quyền bề mặt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan cóquy định khác Quyền bề mặt có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừtrường hợp luật liên quan có quy định khác Chủ thể quyền bề mặt có quyền khaithác, sử dụng mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước vàlòng đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác để xây dựng công trình, trồngcây, canh tác nhưng không được trái với quy định của Bộ luật này, pháp luật vềđất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên, khoáng sản và quy định khác của phápluật có liên quan Chủ thể quyền bề mặt có quyền sở hữu đối với các tài sảnđược tạo lập trên công trình, trồng cây, canh tác Trường hợp quyền bề mặt đượcchuyển giao một phần hoặc toàn bộ thì chủ thể nhận chuyển giao được kế thừaquyền bề mặt theo điều kiện và trong phạm vi tương ứng với phần quyền bề mặtđược chuyển giao

- Về chế định quyền sở hữu (từ Điều 186 đến Điều 244):

Để cụ thể hóa và để bảo đảm sự thống nhất với nội dung, tinh thần củaHiến pháp năm 2013 và trên cơ sở vận dụng nguyên tắc việc xác định các hìnhthức sở hữu cần phải dựa vào sự khác biệt trong cách thức thực hiện các quyềnnăng của chủ sở hữu, BLDS năm 2015 quy định hình thức sở hữu ở nước ta baogồm sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung Sở hữu toàn dân là sở hữuđối với tài sản công do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, baogồm đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển,vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản

lý (Điều 197) Sở hữu riêng là sở hữu của một chủ thể, bao gồm cá nhân hoặcmột pháp nhân (Điều 205) Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tàisản, được chia thành sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất (Điều 207)

Sự phân loại này bảo đảm tính thống nhất với nội dung, tinh thần của Hiến phápnăm 2013 về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được ghinhận tại các điều 32, 51 và 53, đồng thời cũng phù hợp với nguyên tắc xác địnhhình thức sở hữu, theo đó, khi xác định hình thức sở hữu thì cần phải căn cứ vào

sự khác biệt trong cách thức thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạtcủa chủ sở hữu đối với tài sản chứ không phải căn cứ vào yếu tố ai là chủ thể cụthể của quyền sở hữu như quy định tại BLDS năm 2005; mặt khác, theo quyđịnh của Hiến pháp năm 2013 thì Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhấtquản lý các tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do đó, có thể xác định Nhà nướcchính là chủ thể có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản này Vì vậy,trên cơ sở sở hữu toàn dân, BLDS năm 2015 đã ghi nhận cụ thể vai trò của Nhànước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản công; tài sản thuộc hìnhthức sở hữu toàn dân (trong BLDS năm 2005 được gọi là hình thức sở hữu nhà

Ngày đăng: 17/10/2022, 18:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w