NN và PL – Một ngành khoa học pháp lý Lý luận chung về NN và PL – Một môn học Đối tượng nghiên cứu Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Quan hệ giữa Lý luận chung về NN và
Trang 1NN và PL – Một ngành khoa học pháp lý
Lý luận chung
về NN
và PL – Một môn học
Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận và phương pháp
nghiên cứu Quan hệ giữa Lý luận chung về NN và PL với 1
số khoa học XH khác
Quan hệ giữa Lý luận chung về NN và PL với các khoa học pháp lý khác
Nội dung môn học Mục đích, yêu cầu của
môn học
Trang 21 Đối tượng nghiên cứu của Lý luận chung về
nhà nước và pháp luật:
- Là các vấn đề mà khoa học này đề cập tới, đó là
nhà nước và pháp luật
Trang 3- Phải nghiên cứu NN và PL vì đó là 2 hiện tượng quan trọng nhất trong kiến trúc thượng tầng của XH:
a Chúng có cơ sở xã hội và phạm vi tác động lớn nhất
b Chúng có quan hệ trực tiếp tới việc bảo vệ lợi ích cơ bản, địa vị thống trị của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền, tới sự tổ chức và phát triển của toàn xã hội vì:
+ Chúng là công cụ đắc lực nhất nằm trong tay giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền
+ Chúng là công cụ hữu hiệu nhất để tổ chức và quản
lý xã hội nhằm tạo ra trật tự và sự ổn định tương đối cho xã hội để xã hội tồn tại và phát triển
Nghiên cứu NN và PL để sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất vào việc xây dựng và phát triển
xã hội
Trang 4PL trong đời sống XH: bản chất, chức năng, vai trò, hình thức…
Trang 5Đối tượng nghiên cứu của Lý luận chung
Là những vấn đề mà nó đề cập tới Cụ thể, nó nghiên cứu:
a Sự phát sinh, phát triển, tồn tại và thay thế của NN và
PL để từ đó khái quát hóa và nêu lên quy luật phát sinh
và phát triển của NN và PL
b Những đặc tính chung, cơ bản và những biểu hiện chủ yếu của NN và PL trong đời sống xã hội như bản chất, chức năng, vai trò, hình thức… của NN và PL, bao gồm
sự biểu hiện ở từng kiểu NN, PL cụ thể trong lịch sử và
ở NN, PL Việt Nam hiện nay
c Mối quan hệ giữa NN và PL với nhau và với một số
hiện tượng xã hội khác như: kinh tế, chính trị, các tổ
chức xã hội, đạo đức…
Trang 6Tóm lại: Lý luận chung về NN và PL là hệ thống tri
thức về những quy luật phát sinh, phát triển đặc thù, những đặc tính chung và những biểu hiện chủ yếu của NN và PL nói chung và của NN và PL Việt Nam nói riêng
2 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Lý luận chung về NN và PL
2.1 Cơ sở phương pháp luận của Lý luận chung về nhà nước và pháp luật:
- Là lập trường xuất phát, quan điểm tiếp cận và nghiên cứu của ngành khoa học này, bao gồm quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, Tư tưởng
Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng ta.
Trang 7giải thích PL…
Cơ sở phương pháp luận của
Lý luận chung về NN và PL là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trang 8- Cụ thể: cơ sở phương pháp luận của Lý luận
chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, có nghĩa là Lý luận chung nghiên cứu tất cả các vấn đề về NN và PL trên cơ sở quan
điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ví dụ, quan hệ giữa nhà nước và pháp luật với kinh tế
được xem xét theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng của xã hội
- Quan điểm duy vật biện chứng đòi hỏi phải nghiên
cứu về NN và PL một cách khách quan như nó
vốn có trong lịch sử, nghiên cứu những biểu hiện của nó trong thực tế một cách toàn diện
Trang 9Quan điểm duy vật biện chứng còn đòi hỏi phải
nghiên cứu về NN và PL trong quá trình vận động, phát triển của chúng và trong mối quan hệ qua lại mật thiết với các hiện tượng xã hội khác, chẳng hạn, quan hệ giữa
NN và PLvới nhau, với kinh tế, chính trị; quan hệ giữa
NN với các tổ chức khác trong XH, giữa PL với đạo
đức, phong tục tập quán…
Quan điểm duy vật lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu
nhà nước và pháp luật gắn liền với lịch sử phát triển của
xã hội loài người nói chung, của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia nói riêng Tức là nghiên cứu về NN và PL phải luôn gắn với những đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
của mỗi giai đoạn lịch sử mà NN và PL đã ra đời, tồn tại
và phát triển.
Trang 10b Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp nghiên cứu cụ thể của Lý luận chung là những cách thức mà khoa học này sử dụng để làm sáng tỏ những vấn đề thuộc đối tượng của mình
- Phương pháp phân tích là phương pháp chia các vấn
đề phức tạp ra thành những bộ phận, những yếu tố đơn giản để nghiên cứu và làm sáng tỏ vấn đề Ví
dụ: làm sảng tỏ các khái niệm về nhà nước và pháp luật bằng việc phân tích các đặc điểm của chúng
Phương pháp tổng hợp thường dùng khi liên kết các
yếu tố đã phân tích, khái quát hoá để nêu lên kết
luận
Trang 11Phương pháp trừu tượng hoá khoa học là dùng các
thao tác tư duy để tách cái chung ra khỏi cái riêng, tạm thời gạt bỏ cái riêng để giữ lấy cái chung nhằm xây dựng nên những khái niệm chung, ví dụ, đề cập đến bản chất, kiểu nhà nước…
Phương pháp xã hội học là thông qua phỏng vấn, đàm
thoại, đối thoại, điều tra xã hội học… để tìm hiểu dư luận xã hội về một vấn đề nào đó, ví dụ, tìm hiểu về
ý thức pháp luật…
Phương pháp so sánh, giải thích pháp luật, lịch sử,
hệ thống …
Trang 123 Quan hệ giữa Lý luận chung về NN và PL với một số khoa học XH khác
a Quan hệ với Triết học Mác Lê-nin
Triết học Mác Lê-nin nghiên cứu các quy luật phát sinh, phát triển của tất cả mọi sự vật và hiện tượng của tự nhiên, xã hội
và tư duy trong đó có NN và PL
Lý luận chung chủ yếu nghiên cứu các quy luật riêng của NN
và PL nên nó nghiên cứu về NN và PL sâu sắc hơn so với Triết học
Triết học cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho Lý luận chung, Lý luận chung dựa vào những khái niệm, kết
luận, quy luật, phạm trù mà Triết học đã nêu ra để nghiên
cứu những vấn đề về NN và PL, đồng thời nó góp phần
minh hoạ, làm rõ thêm những khái niệm, quy luật, kết luận, phạm trù ấy.
Trang 13b Quan hệ với Kinh tế chính trị học
Kinh tế chính trị học nghiên cứu các quy luật phát triển của quan hệ sản xuất, tức là của cơ sở hạ tầng
Lý luận chung nghiên cứu các quy luật của NN và
PL là những hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng
Do đó, Lý luận chung phải vận dụng các khái niệm và quan điểm của Kinh tế chính trị học vào việc giải thích mối quan hệ có tính chất quyết định của quan
hệ sản xuất đối với NN và PL để xác định bản chất của NN và PL
Trang 14c Quan hệ với chủ nghĩa xã hội khoa học
Hai khoa học trên cùng nghiên cứu sự phát triển của
NN và PL trong từng thời kỳ xây dựng CNXH
Nhưng nếu CNXH khoa học nghiên cứu một cách đồng thời các quy luật chung của NN và PL với các quy luật khác thì LLC chỉ nghiên cứu các quy luật đặc của NN và PL Do vậy, LLC vận dụng các quan điểm, kết luận của CNXH khoa học để giải thích các vấn đề thuộc đối tượng của mình
Trang 154 Quan hệ giữa Lý luận chung về NN và PL với các khoa học khác trong hệ thống khoa học pháp lý
a Hệ thống khoa học pháp lý
Là hệ thống gồm nhiều khoa học trong đó mỗi khoa học là một hệ thống những quan điểm, khái niệm, kết luận hình thành trên cơ sở nghiên cứu những quy luật nội tại của sự phát triển NN và PL, các hiện tượng pháp lý nhất định hay những quy phạm PL của một ngành luật nào đó
Hệ thống này gồm các nhóm ngành:
Trang 16Các KH lý luận và LS: LLC về
NN và PL, LS NN và PL, LS tư
tưởng chính trị - pháp lý
Các KH ứng dụng và thực nghiệm: Tâm lý, Điều tra tội phạm HS, giám định pháp y…
Khoa học Luật quốc tế và pháp luật nước ngoài: Công pháp
QT, tư pháp QT…
Trang 17a Các khoa học lý luận và lịch sử: Bao gồm LLC, Lịch sử NN và PL, Lịch sử tư tưởng chính trị – pháp lý
b Các khoa học pháp lý chuyên ngành: Nghiên cứu về các ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta như: luật Hình sự, luật Dân sự…
c Các khoa học nghiên cứu Luật Quốc tế và pháp luật của các nước ngoài như: công pháp Quốc tế, tư pháp Quốc tê, Luật hiến pháp nước ngoài…
d Các khoa học pháp lý ứng dụng và thực nghiệm như: Tâm lý quản lý, Giám định pháp y, Điều tra tội phạm hình sự…
Trang 18Trong hệ thống khoa học pháp lý, LLC là khoa học cơ sở có tính chất phương pháp luận cho các môn khoa học pháp lý chuyên ngành bởi lẽ:
- LLC nghiên cứu về NN và PL một cách chung nhất, khái quát và toàn diện nhất Nó nghiên cứu hoạt động của NN và
sự điều chỉnh của PL trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống, trên cơ sở đó nêu lên những khái niệm, quan điểm, kết luận cơ bản về NN và PL để cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho các khoa học pháp lý chuyên ngành
- Các khoa học pháp lý chuyên ngành chỉ nghiên cứu hoạt động của NN và sự điều chỉnh của PL trong 1 lĩnh vực của đời sống nên khi nghiên cứu các vấn đề thuộc đối tượng của mình đều dựa trên cơ sở các khái niệm, kết luận của LLC và kết quả nghiên cứu của chúng lại minh hoạ, làm rõ thêm các khái niệm, kết luận ấy.
Trang 19II LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT LÀ MỘT MÔN HỌC
1.Nội dung môn học Lý luận chung về NN và PL
Với tư cách là môn học cung cấp các khái niệm, các kiến thức pháp lý cơ bản, là cơ sở, nền tảng cho các
môn học khác, nội dung chủ yếu của môn học này gồm các vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật như: nguồn gốc, bản chất, chức năng, bộ máy, hình thức của nhà
nước; nhà nước trong hệ thống chính trị; nhà nước
pháp quyền; nguồn gốc, bản chất, vai trò, hình thức của pháp luật; quy phạm pháp luật; hệ thống pháp luật;
quan hệ pháp luật; thực hiện pháp luật; vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý; ý thức pháp luật…
Trang 202 Mục đích, yêu cầu của môn học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
a.Mục đích của môn học là: trang bị cho người học
những kiến thức cơ bản, chủ yếu, quan trọng nhất về
nhà nước và pháp luật, giúp người học có được phương pháp tư duy đúng đắn, khoa học về tất cả các vấn đề
của nhà nước và pháp luật, trên cơ sở đó, người học có thể tiếp tục học tập các môn học khác.
b.Yêu cầu của môn học:
- Trong quá trình học môn học này, sinh viên, học viên
phải tích cực, chủ động tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giảng viên để tiếp thu, nắm bắt được các kiến thức liên quan tới tất cả các vấn đề thuộc nội dung môn học.
Trang 21- Sau khi kết thúc môn học, sinh viên, học viên phải trang bị được cho mình tư duy khoa học và phương
pháp nhận thức khoa học đối với các vấn đề về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là có thể vận dụng những kiến thức đã học vào nghiên cứu các khoa học pháp lí khác, nhất là các môn khoa học pháp lí chuyên ngành luật trong chương trình đào tạo đại học luật;
- Ngoài ra, người học phải vận dụng được những kiến thức đã học vào việc phân tích, giải thích những biểu hiện của nhà nước và pháp luật trong thực tế cũng như vào việc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn đời sống pháp lý Đồng thời có khả năng thu thập thông tin, kĩ năng tổng hợp, hệ thống hoá các vấn đề và lập luận, thuyết trình trước công chúng.