Câu 6./ Những nét chính về tác giả Nguyễn Du và giới thiệu ngắn gọn thiên động địa ấy tác động mạnh tới nhận thức tình cảm của Nguyễn Du để ông hướng ngòi bút của mình vào hiện thực, và
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 1 : VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
Buổi 1,2,3
A Mục tiêu cần đạt :
- Cung cấp hệ thống hoá kiến thức cơ bản về trương trình ngữ văn lớp 9
- Nắm vững thông tin về tác giả, thể loại, các giá trị nội dung và nghệ
thuật
a./Với tác phẩm thơ (truyện thơ):
- Thông tin về tác giả và hoàn cảnh ra đời của bài thơ
- Thông tin về tác giả, tác phẩm
- Tóm tắt nội dung các sự việc
- Nắm và phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc
- Ý nghĩa chủ đề –tư tưởng của tác phẩm
- Nhắc lại các nội dung cơ bản , hệ thống các câu hỏi trong bộ đề ôn
* Rèn cho học sinh kỹ năng làm bài , giới thiệu các đề thi ,chữa bài đề thi
-Cách dựng truyện -Xây dựng nhân vật kết hợp tự sự, trữ tình và kịch
-Sáng tạo từ cốt truyện dân gian “Vợ chàng Trương”
và cướp nước
-Có giá trị như là một tiểu thuyết lịch sử viết theo kiểu chương hồi bằng chữ Hán
-Lời trần thuật kết hợp với miêu tả chân thực, sinh động
Trang 23./”Truyện Kiều.”
-Nguyễn Du
Tác phẩm mang giá trị hiện thực
và nhân đạo sâu sắc: bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo; là tiếng nói thương cảm trước số phận và bi kịch của con người; tố cáo những thế lực xấu xa; khẳng định và đề cao tài năng, phẩm chất và những khát vọng chân chính của con người
Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật nghệ thuật văn học dân tộc trên tất cả mọi phương diện ngôn ngữ cũng như thể loại, là thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân tộc
Khát vọng ấy thể hiện ở những phẩm chất cao đẹp của hai nhân vật chính: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài
và Kiều Nguyệt Nga nết na, hiền hậu, ân tình
-Truyện thơ Nôm mang dáng dấp của một truyện để kể nhiều hơn
để đọc; ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, gần với lời
ăn tiếng nói bình dân Nam Bộ; tính cách nhân vật bộc lộ chủ yếu qua hành động, cử chỉ, lơi nói
Phần 2:Một số gợi ý về nội dung:
Câu 1./Hiện thực xã hội phong kiến với bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị:
- Các văn bản truyện kí trung đại phản ánh sinh động , chân thực xã hội phong kiến, phơi bày bộ mặt xấu xa độc ác của giai cáp thống trị:
-“Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” : Phản ảnh cuộc sống ăn chơi xa xỉ
hoang phí vô độ, ham thích hưởng lạc không màng việc nước, để mặc muôn dân đói khổ lầm than Quan lại xu nịnh, “thừa gió bẻ măng”, tác oai tác quái, vơ vét, cuớp đoạt của cải của dân Báo trước sự suy vong tất yếu
-“Hoàng Lê nhất thống chí- hồi 14”: Phản ánh sự nhu nhược, đớn hèn, bán
nước cầu vinh rồi thất bại thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống Sự suy vong tất yếu của triều đại nhà Lê
- “Mã Giám Sinh mua Kiều”: Qua nhân vật Mã Giám Sinh, Tú Bà vốn là
Câu 2./ Người phụ nữ đau khổ, bị chà đạp:
Trang 3-Nhân phẩm bị chà đạp: Vũ Nương bị chồng mắng mỏ, bị bức tử; Thúy Kiều bị xem như một món hàng đem ra mua bán, bị giam hãm ở lầu Ngưng Bích trong nỗi cô đơn tuyệt vọng
Câu 3./ Chủ đề người anh hùng:
a./Người anh hùng lý tưởng với đạo đức cao đẹp giả gửi gắm qua hình tượng Lục Vân Tiên:
-Lí tưởng theo quan niệm tích cực của nho gia: “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi- Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”
-Lí tưởng theo quan niệm đạo lí của nhân dân: trừng trị cái ác, cứu giúp người hoạn nạn
b./Người anh hùng dân tộc qua hình tượng Nguyễn Huệ (Hoàng Lê nhất thống chí- hồi 14):
-Lòng yêu nước nồng nàn
-Quả cảm, mưu lược, tài trí
-Nhân cách cao đẹp
Câu 4./ Nhân vật vua Quang Trung:
-Vị hoàng đế có trí tuệ sáng suốt:
+Sáng suốt trong việc lên ngôi vua: Trong tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất
nước ngàn cân treo sợi tóc, Nguyễn Huệ quyết định lên ngôi hoàng đế rồi lập tức lên đường ra Bắc tiêu diệt quân Thanh
+Sáng suốt trong việc nhận định tình hình thời cuộc và thế tương quan
giữa ta và địch: Trong lời phủ dụ quân lính trước khi lên đường, Quang Trung
đã khẳng định chủ quyền độc lập, lên án hành động xâm lăng trái đạo trời của giặc; nêu rõ dã tâm của quân Thanh; nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm; kêu gọi binh sĩ đồng tâm hiệp lực; đồng thời ra kỉ luật nghiêm cho quân sĩ
+Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người: thể hiện qua cách sử trí với
tướng sĩ, khen chê đúng người, đúng việc
+Sáng suốt với tầm nhìn xa trông rộng:Giặc còn đang ở Thăng Long, Bắc
Hà còn nắm trong tay kẻ thù vậy mà Quang Trung đã tin tưởng “Chẳng qua mươi ngày là có thể đuổi được quân Thanh” Đối với Quang Trung, việc đánh giặc không khó, cái khó là dẹp yên”việc binh đao” sau chiến tranh
-Vị tướng có tài thao lược hơn người:
+Biết chớp thời cơ, tổ chức một chiến dịch thần tốc có một không hai trong lịch sử
+Khẩn trương lên đường, tuyển quân trên đường đi, tổ chức hành quân thần tốc
+chọn tướng tài chỉ huy, chia quân, phối hợp bố trí các cánh quân
+Tổ chức cách đánh của mũi quân quan trọng do chính ông chỉ huy một cách kì tài Ông cho dùng những tấm gỗ bện rơm bên ngoài, “cứ mười người
Trang 4khênh một bức, lưng dắt dao ngắn, hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”
-Quang Trung là vị lãnh tụ có khí phách lẫm liệt:
+Thân chinh cầm quân ra trận: đốc thúc chiến dịch, đương đầu với hòn tên mũi đạn.Hình ảnh của vua quang Trung trong trận chiến ở đồn Ngọc Hồi vào sáng sớm mồng năm thật lẫm liệt, hào hùng
+Chỉ huy một chiến dịch vĩ đại như vậy mà vua Quang Trung vẫn ung dung tỉnh táo Hình ảnh vua Quang Trung cưỡi voi đốc thúc binh sĩ là một hình ảnh tuyệt đẹp
Câu 5./Nhân vật Lục Vân Tiên:
-Là người có lí tưởng đạo đức cao đẹp: sẵn sàng làm việc nghĩa một cách vô tư, không màng danh lợi
-Lục Vân tiên tài ba dũng cảm: một mình, không vũ khí, giữa đường đánh tan một đảng cướp hung bạo
-Lục Vân Tiên trọng nghĩa khinh tài: đánh tan bọn cướp cứu Kiều Nguyệt Nga
Câu 6./ Những nét chính về tác giả Nguyễn Du và giới thiệu ngắn gọn
thiên động địa ấy tác động mạnh tới nhận thức tình cảm của Nguyễn Du để ông
hướng ngòi bút của mình vào hiện thực, vào “Những điều trông thấy mà đau
Nguyễn Du có năng khiếu văn học bẩm sinh, ham học, có hiểu biết sâu rộng
và từng trải, có vốn sống phong phú với nhiều năm lưu lạc, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người số phận khác nhau Ông từng đi sứ sang Trung Quốc, qua nhiều vùng đất Trung Hoa rộng lớn với nền văn hoá rực rỡ Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng tới sáng tác của nhà thơ
Nguyễn Du là con người có trái tim giàu lòng yêu thương Chính nhà thơ đã
từng viết trong Truyện Kiều “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Mộng Liên
Đường Chủ Nhân trong lời Tựa Truyện Kiều cũng đề cao tấm lòng của Nguyễn
Trang 5Du với con người, với cuộc đời: “Lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu
ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đến đứt ruột…” Nếu không phải có con mắt trông thấu cả
sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy
Về sự nghiệp văn học của Nguyễn Du:
- Xuất xứ Truyện Kiều :
* Viết Truyện Kiều Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện
của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc)
* Tuy nhiên phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định thành công của tác phẩm:
- Nội dung : Từ câu truyện tình ở TQ đời Minh biến thành một khúc ca đau
lòng thương người bạc mệnh (“Truyện Kiều” của Ng.Du vượt xa tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân ở tinh thần nhân đạo)
+ Ngôn ngữ: Truyện Kiều đạt tới đỉnh cao của ngôn ngữ nghệ thuật
2 Hoàn cảnh: Sáng tác vào thế kỷ XIX (1805-1809)
3 Thể loại: Truyện thơ Nôm
4 Ý nghĩa nhan đề:
- Tên chữ Hán:Đoạn trường tân thanh: tiếng kêu mới về nỗi đau thương đứt
ruột: bộc lộ chủ đề tác phẩm (tiếng kêu cứu cho số phận người phụ nữ)
- Tên chữ nôm: Truyện Kiều: Tên nhân vật chính - Thuý Kiều (do nhân dân
đặt)
Câu 7./Giá trị nhân đạo của “Truyện Kiều”:
-Khẳng định, đề cao giá trị chân chính của con người:
+Vẻ đẹp ngoại hình của Thúy Vân, Thúy Kiều (Chị em Thúy Kiều)
+Ca ngợi vẻ đẹp tài năng, trí tuệ của Thúy Kiều (Chị em Thúy Kiều)
-Lên án, tố cáo các thế lực bạo tàn đã chà đạp lên nhân phẩm con người (Mã Giám Sinh mua Kiều)
Trang 6-Thương cảm trước những khổ đau, bi kịch của con người (“Mã Giám Sinh mua Kiều”; “Kiều ở lầu Ngưng Bích”)
-Đề cao tấm lòng nhân hậu, thủy chung, hiếu nghĩa; ước mơ công lí, chính nghĩa (“Kiều báo ân báo oán”; “Kiều ở lầu Ngưng Bích”)
Câu 8./ Vẻ đẹp của Thúy Vân, Thúy Kiều: Chân dung mang tính cách, số phận
a./ Miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân
- Câu thơ mở đầu vừa giới thiệu Thuý Vân vừa khái quát vẻ đẹp của nhân vật Hai chữ “trang trọng” gợi vẻ cao sang, quý phái
- Với bút pháp nghệ thuật ước lệ dường như Ng.Du đã chọn những cái đẹp nhất trong bao nhiêu cái đẹp của thiên nhiên và vũ trụ để tả Vân: trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết
- Tác giả đã vẽ nên bức chân dung Thuý Vân bằng nghệ thuật so sánh ẩn dụ
và có chiều hướng cụ thể đến từng chi tiết: khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, tươi sáng như mặt trăng; lông mày sắc nét như con ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo như ngọc; mái tóc đen óng ả hơn mây, làn da trắng mịn
màng hơn tuyết (khuôn trăng… màu da)
- Chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách, số phận Vân đẹp hơn những gì mĩ lệ nhất của thiên nhiên nhưng tạo sự hoà hợp êm đềm với xung quanh: mây thua, tuyết nhường Thuý Vân hẳn có một tính cách ung dung, điềm đạm, một cuộc đời bình yên không sóng gió
b./ Vẻ đẹp và tài năng của Kiều
-Ng.Du tả Vân trước thay vì tả Kiều Đó là một dụng ý nghệ thuật Tgiả tả Vân khiến ta được chiêm ngưỡng một dung nhan hoàn hảo của một tuyệt thế giai nhân Nhưng vẻ đẹp đó lại là một cái nền để vẻ đẹp của Kiều thêm nổi
bật:“Kiều càng sắc sảo mặn mà” Đó là thủ pháp “vẽ mây nẩy trăng”, “mượn
khách để tả chủ” Nàng sắc sảo về trí tuệ và mặn mà về tâm hồn
- Gợi tả vẻ đẹp của Kiều tác giả vẫn dùng những hình ảnh ước lệ: thu thuỷ, xuân sơn, hoa, liễu Đặc biệt khi hoạ bức chân dung Kiều, tác giả tập trung đặc
tả đôi mắt, nét mày Hình ảnh “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn” gợi một đôi mắt
đẹp trong sáng, long lanh, linh hoạt như làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh
tú như nét mùa xuân Đôi mắt thể hiện phần tinh anh của tâm hồn, trí tuệ Tả Kiều, tác giả không cụ thể như khi tả Vân mà chỉ đặc tả đôi mắt theo lối điểm nhãn - vẽ hồn cho nhân vật, gợi lên vẻ đẹp chung của một trang giai nhân tuyệt sắc Vẻ đẹp ấy làm cho hoa ghen, liễu hờn, nước nghiêng thành đổ
Trang 7-Để khẳng định thêm cái “Sắc” tuyệt đỉnh của Kiều, Ng.Du còn Việt hóa câu thơ của Lý Diên Niên (TQ): “Nhất cố khuynh nhân thành, Tái cố khuynh nhân quốc” (“một hai nghiêng nước nghiêng thành”)
Nguyễn Du không miêu tả trực tiếp nhân vật mà miêu tả sự ghen ghét, đố
kị hay ngưỡng mộ, say mê trước vẻ đẹp đó, cho thấy đây là vẻ đẹp có chiều sâu,
có sức quyến rũ, cuốn hút lạ lùng
- Vẻ đẹp tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý, cái tài, cái tình đặc biệt của Kiều Tả Thuý Vân chỉ tả nhan sắc, còn tả Thuý Kiều, tác giả tả sắc một phần thì
dành hai phần để tả tài Kiều rất mực thông minh và đa tài "Thông minh vốn sẵn
tính trời" Tài của Kiều đạt đến mức lý tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong
kiến, hội đủ cầm, kỳ, thi, hoạ “Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm”
Tác giả đặc tả tài đàn – là sở trường, năng khiếu, nghề riêng của nàng “Cung
thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương” Không chỉ vậy,
nàng còn giỏi sáng tác nhạc Cung đàn Bạc mện của Kiều là tiếng lòng của một
trái tim đa sầu đa cảm “Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh lại
càng não nhân”
Tả tài, Nguyễn Du thể hiện được cả cái tình của Kiều
- Chân dung Thuý Kiều là bức chân dung mang tính cách và số phận Vẻ
đẹp khi cho tạo hoá phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị, tài hoa trí tuệ thiên bẩm "lai bậc" đủ mùi, cả cái tâm hồn đa sầu đa cảm khiến Kiều không thể
tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã, số phận éo le, oan khổ bởi "Chữ tài chữ mệnh
khéo là ghét nhau" "Trời xanh quen thói mà hồng đánh ghen" Cuộc đời Kiều
hẳn là cuộc đời hồng nhan bạc mệnh
(cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du)
Câu 9./ Những thành công về nghệ thuật của truyện Kiều qua các đoạn trích:
-Nghệ thuật sử dụng ngôn từ hết sức điêu luyện, nâng tiếng Việt lên một tầm cao mới Trong truyện Kiều, ngôn ngữ dân tộc đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ: Ngôn ngữ không chỉ mang chức năng biểu đạt, biểu cảm mà còn mang chức năng thẩm
mỹ
-Nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên: Đoạn trích “Cảnh ngày xuân”:
+Tả cảnh thiên nhiên bằng bút pháp gợi tả với những nét chấm phá, điểm xuyết
+Tả cảnh sinh hoạt bằng bút pháp gợi tả cụ thể, chi tiết với những
từ ngữ giàu tình tạo hình ( từ ghép, từ láy…) -Tả cảnh ngụ tình: Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”: Miêu tả nội tâm nhân vật bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình và ngôn ngữ độc thoại nội tâm
-Nghệ thuật miêu tả nhân vật:
-Khắc họa nhân vật bằng bút pháp ước lệ: Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”: Miêu tả chân dung nhân vật (Chính diện) bằng bút pháp ước lệ -Lấy vẻ đẹp của
Trang 8thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người.Nghiêng về cách gợi để tác động đến
người đọc thông qua sự phán đoán, trí tưởng tượng chứ không miêu tả tỉ mỉ, cụ
thể
-Khắc họa tính cách nhân vật qua miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ, hành
động: Đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều”: Miêu tả chân dung nhân vật phản
diện bằng bút pháp hiện thực: Khắc họa tính cách, làm rõ bản chất nhân vật qua
việc miêu tả ngoại hình, lời nói, hành động
Miêu tả đời sống nội tâm nhân vật thông qua ngôn ngữ đối thoại và nghệ
thuật tả cảnh ngụ tình (“Kiều ở lầu Ngưng Bích”)
Khắc họa tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ đối thoại (“Kiều báo ân,
báo oán”)
Câu 10: Phân tích nghệ thuật miêu tả qua một số đoạn trích “truyện Kiều”:
Gợi ý:
* Nghệ thuật tả cảnh trong “Cảnh ngày xuân”:
+ Trên bức phông nền là thảm cỏ xanh non đến tận chân trời Màu sắc có sự hài
hoà tới mức tuyệt diệu
+ Điểm xuyết cành hoa lê trắng muốt. Đảo trật tự từ Điểm trắng thành Trắng
điểm
Bức tranh thiên nhiên mùa xuân thật mới mẻ, trong trẻo, khoáng đạt, tinh khôi
và tràn đầy sức sống
*tả người : “Chị em thuý Kiều” :Xem câu 8 ở trên
*tả nội tâm : “Kiều ở lầu Ngưng Bích”?
Phân tích:
-Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại trong 4 cặp câu thơ (Điệp ngữ liên hoàn)
Mỗi một ngữ “buồn trông” lại gọi về một cảnh vật và thể hiện tinh tế một nét
tâm trạng ngổn ngang của Kiều:
* “Buồn trông” cảnh biển chiều hôm , với những cánh buồm xa xa lại
tưởng tới sự bơ vơ, phiêu bạt của mình;
*“Buồn trông” cảnh “hoa trôi man mác” trên ngọn nước mà buồn đau cho
số phận trôi giạt, vô định của mình;
*“Buồn trông” cảnh “nội cỏ rầu rầu” giữa một màu xanh đơn điệu, thảm
đạm như đang mất dần đi sự sống để buồn cho hiện tại bẽ bàng, cô độc nơi lầu
Ngưng Bích hoang vắng đến rợn ngợp
*Và Kiều “Buồn trông” sóng và gió biển ầm vang quanh lầu Ngưng Bích để
thấy hãi hùng, ghê sợ, ám ảnh những tai họa khủng khiếp bủa vây lấy nàng
Điệp khúc của tâm trạng
-Hệ thống từ láy : thấp thoáng , xa xa , man mác , rầu rầu , ầm ầm -> tạo nên âm
điệu trầm buồn -> góp phần nói lên nội tâm Kiều: Bế tắc, lo sợ kinh hoàng
Bút pháp tả cảnh ngụ tình
Câu 11:
Viết đoạn văn khoảng 8 đến 10 câu nhận xét về nghệ thuật tả người của
Nguyễn Du qua đoạn trích Chị em Thuý Kiều (Ngữ văn 9 -Tập một)
Gợi ý: Học sinh cần viết được các ý cụ thể :
Trang 9- Tả chị em Thuý Kiều, Nguyễn Du sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, lấy
vẻ đẹp của thiên nhiên để so sánh với vẻ đẹp của con người :
+ Thuý Vân : Đoan trang, phúc hậu, quý phái : hoa cười ngọc thốt, mây thua
nước tóc, tuyết nhường màu da
+ Thuý Kiều : Sắc sảo mặn mà, làn thu thuỷ, nét xuân xanh, hoa ghen, liễu hờn
- Dùng lối ẩn dụ để ví von so sánh nhằm làm bật lên vẻ đẹp đài các của hai cô gái mà qua đó, nhà thơ muốn đề cao vẻ đẹp của con người
- Thủ pháp đòn bẩy, tả Vân trước, Kiều sau cũng là một bút pháp tài hoa của Nguyễn Du để nhấn vào nhân vật trung tâm : Thuý Kiều, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp của nàng Kiều cùng những dự báo về nỗi truân chuyên của cuộc đời nàng sau này
Câu 12:
Chép lại bốn câu thơ nói lên nỗi nhớ cha mẹ của Thuý Kiều trong
đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích và nhận xét về cách dùng từ ngữ hình
ảnh trong đoạn thơ
*Yêu cầu :
- Chép chính xác 4 dòng thơ :
"Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ? Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm."
- Nhận xét cách sử dụng từ ngữ hình ảnh trong đoạn thơ : dùng những điển tích, điển cố sân Lai, gốc tử để thể hiện nỗi nhớ nhung và sự đau đớn, dằn vặt không làm tròn chữ hiếu của Kiều Các hình ảnh đó vừa gợi sự trân trọng của Kiều đối với cha mẹ vừa thể hiện tấm lòng hiếu thảo của nàng
Câu 13: Phân tích ý nghĩa của các từ láy trong đoạn thơ :
"Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nắm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh."
(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)
*Yêu cầu : Học sinh phát hiện các từ láy nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu và
thấy tác dụng của chúng : vừa chính xác, tinh tế, vừa có tác dụng gợi nhiều cảm xúc trong người đọc Các từ láy vừa gợi tả hình ảnh của sự vật vừa thể hiện tâm trạng con người
- Từ láy ở hai dòng đầu : gợi cảnh sắc mùa xuân lúc chiều tà sau buổi hội vẫn
mang cái nét thanh tao trong trẻo của mùa xuân nhưng nhẹ nhàng tĩnh lặng và
nhuốm đầy tâm trạng Từ láy "nao nao" gợi sự xao xuyến bâng khuâng về một
ngày vui xuân đang còn mà sự linh cảm về điều gì đó sắp xảy ra đã xuất hiện
- Từ láy ở hai câu sau báo hiệu cảnh sắc thay đổi nhuốm màu u ám thê lương
Các từ gợi tả được hình ảnh nấm mồ lẻ loi đơn độc lạc lõng giữa ngày lễ tảo mộ
Trang 10thật đáng tội nghiệp khiến Kiều động lòng và chuẩn bị cho sự xuất hiện của
hàng loạt những hình ảnh của âm khí nặng nề trong những câu thơ tiếp theo
Câu 14: Phân tích bi kịch của Vũ Nương (“Chuyện người con gái Nam Xương”)
?Nêu nguyên nhân của những bi kịch ấy? (Tự soạn)
Câu 15: Ý nghĩa của chi tiết chiếc bóng trong “Chuyện người con gái Nam Xương”? (Tự soạn)
Câu 16: Tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu trong đoạn trích
“Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”? (Tự soạn)
Phần 3: MỘT SỐ ĐỀ KIỂM TRA TRUYỆN TRUNG ĐẠI
ĐỀ 1:
A./ĐỀ:
Câu 1( 2đ)
a: Truyện Kiều còn có tên gọi khác là gì?
b Xác định thể loại của các tác phẩm: Truyện Kiều, Chuyện người con gái
Nam Xương, Lục Vân Tiên
Câu 2 ( 2 đ): Trình bày hiểu biết của em về nghệ thuật ước lệ và tả cảnh
ngụ tình
Câu 3 ( 2đ): Giải thích quan niệm của Lục Vân Tiên về người anh hùng?
Câu 4 ( 4đ): Cảm nhận của em về vẻ đẹp của người phụ nữ qua các văn bản
đã học
B./Đáp án :
Câu 1: a Truyện Kiều còn có tên gọi khác là: Đoạn trường tân thanh ( Tiếng
kêu mới đứt ruột) 0,5 đ
b.- Truyện Kiều: Truyện thơ Nôm 0,5 đ
- Chuyện người con gái Nam Xương: Truyện truyền kì 0,5 đ
- Lục Vân Tiên: Truyện thơ Nôm 0,5 đ
Câu 2: - Ước lệ tượng trưng: dùng từ ngữ, hình ảnh có sẵn, có tính khuôn mẫu,
những hình ảnh thiên nhiên để tả vẻ đẹp con người 1 đ
- Tả cảnh ngụ tình: tả cảnh thiên nhiên nhưng lại bộc lộ tâm trạng của nhân vật Tả cảnh thiên nhiên chỉ là phương tiện còn mục đích là thể hiện tâm trạng nhân vật 1 đ
Câu 3: - Quan niệm về người anh hùng:
+ Thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải người anh hùng: “nhớ câu…anh hùng” 0,5 đ
+ Người quân tử xem việc nghĩa là việc trừ gian diệt ác, cứu giúp người bị nạn, đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân 1đ
+ Lục Vân Tiên, Hớn Minh, Tử Trực là những anh hùng vì họ sẵn sàng chống lại cái ác 0,5 đ
Câu 4:
- Thúy Kiều: Tài, sắc, chung thủy, hiếu thảo 1,5 đ
*Phân tích &Chứng minh:
- Vũ Nương: sắc, đảm đang, chung thủy, hiếu thảo 1,5 đ
*Phân tích &Chứng minh:
Trang 11- Kiều Nguyệt Nga: cô gái khuê các, có nhan sắc, hiếu thảo, chung thủy
*Phân tích &Chứng minh:
=> Qua đó thấy được sự trân trọng của các tác giả đối với nhân vật
Lưu ý: Đối với học sinh khá, giỏi phải biết trình bày khát quát, tổng hợp vấn đề, không trình bày rời rạc từng nhân vật
ĐỀ 2:
A./ Đề:
Câu 1: Giá trị nội dung của Truyện Kiều?
-Truyện Kiều có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
Câu 2: Cụm từ “mây sớm đèn khuya” trong câu thơ “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya” gợi tả điều gì?
-Thời gian tuần hoàn khép kín
Câu 3: Từ “chén đồng” trong câu thơ ”Tưởng người dưới nguyệt chén đồng” được hiểu theo nghĩa nào?
- Nghĩa chuyển
Câu 4: Cụm từ “tấm son” trong câu thơ “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” sử dụng cách nói nào?
- ẩn dụ
Câu 5: Các từ “Nước, hoa, cỏ, mây” trong 8 câu thơ cuối của đoạn trích “ Kiều
ở lầu Ngưng Bích” có được coi là Thuật ngữ không?
- Không
Câu 6: Văn bản nào được viết theo thể tuỳ bút trung đại?
-Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh
Câu7: Văn bản “ Chuyên người con gái Nam Xương” sáng tác vào khoảng thời gian nào?
-Thế kỷ XVI
Câu 8: Nêu cảm nhận của em về hai câu thơ sau :
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
GỢI Ý : - Hai câu thơ là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân :
+ Thảm cỏ xanh non trải rộng đến tít chân trời
+ Trên nền cỏ xanh non điểm xuyết một cành lê còn sót lại vài bông hoa trắng
- NT : +phối màu độc đáo ( xanh , trắng )
+ từ ngữ gợi tả giàu chất tạo hình ( tận , điểm )
+ đảo trật tự từ ( Cành lê điểm trắng một vài bông hoa)
Bức tranh xuân trong sáng , mới mẻ , tinh khôi
Câu 9: Thế nào là bút pháp tả cảnh ngụ tình? Hãy chép lại 8 câu thơ kết của đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” và phân tích để làm rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình: tả cảnh thiên nhiên nhưng lại bộc lộ tâm trạng của nhân vật Tả cảnh thiên nhiên chỉ là phương tiện còn mục đích là thể hiện tâm trạng nhân vật
- Chép 8 câu thơ
- Phân tích:
Trang 12Tám câu thơ trích trong đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích Đây là những vần thơ
có sức ám ảnh nhất của đoạn trích, diễn tả thành công "nỗi lòng tê tái" của Kiều trong những ngày đầu tiên của kiếp đoạn trường
Hai tiếng "buồn trông" được lặp lại bốn lần trong đoạn trích, vừa như gói trọn tâm thế của Kiều "trước lầu Ngưng Bích", vừa tạo nhịp điệu đều đều, buồn thương cho đoạn thơ Ở nơi "khoá xuân", Kiều chỉ biết lấy thiên nhiên làm điểm tựa, và từ điểm tựa đó nàng nhận thức về số kiếp của mình Tầm nhìn của nàng trước hết hướng ra xa, vì nơi xa đó là nhà nàng, là nơi có những người thân yêu nhất:
Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Không gian xa rộng, quạnh hiu nơi cửa bể như càng làm nổi rõ hơn thân phận nhỏ bé, cô đơn của Kiều Không gian ấy cộng hưởng cùng thời gian "chiều hôm" - thời khắc gợi nhớ, gợi buồn - khiến như thấm sâu hơn vào tâm hồn người con gái nơi xứ lạ nỗi niềm xót xa Giữa khung cảnh ấy, trái tim cô đơn, tâm hồn trống vắng cần lắm một hơi ấm, một sự hiện diện của sự sống:
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?
"Thuyền" chính là hình ảnh biểu tượng cho sự sống con người Nhưng đó là
sự hiện hữu mờ mờ, như có như không, được diễn tả qua hai từ "thấp thoáng",
"xa xa" Sự xuất hiện mờ ảo của cánh buồm không làm cho khung cảnh thêm thân mật, ấm áp mà càng gợi sầu, gợi cảm giác cô liêu cho con người Không tìm thấy sự sẻ chia từ nơi cửa biển xa xăm, Kiều hướng tầm mắt về "ngọn nước" gần mình hơn:
Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Giữa dòng nước, cánh hoa trôi man mác như gợi nhắc thân phận cảnh bèo trôi dạt của người trong cảnh Câu hỏi tu từ như xoáy vào tâm hồn người đọc Thân phận cánh hoa hay chính là những trăn trở, xót xa cho số kiếp mỏng manh, phiêu bạt của Kiều? Hai tiếng "về đâu" cuối câu thơ với thanh không càng tạo cảm giác xa vắng, vô định, như tương hợp với tâm thế hiện thời của Kiều Tìm đến với thiên nhiên đó mong sao vơi bớt mối sầu chất chứa trong lòng nhưng càng nhìn cảnh, tâm trạng lại càng rối bời Dường như nước gợi lên sự lạnh lẽo, bất định, chảy trôi nên Kiều tìm về với bờ cỏ xanh, với mặt đất:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu Nhưng cỏ cũng mang tâm trạng buồn thương của người: "rầu rầu" Đâu còn
là "cỏ non" xanh tận chân trời trong tiết thanh minh khi Kiều còn sống những ngày tháng "Êm đềm trướng rủ màn che" Cảnh nơi xứ lạ như thấu cảm nỗi niềm của Kiều nên nhuốm màu tâm tư của kiếp người phiêu bạt Nỗi "rầu rầu" ấy tràn ngập, lan toả khắp không gian:
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Trang 13Cái nhìn bao quát từ "chân mây" xa xăm đến "mặt đất" gần gũi, tất cả đều
"một màu xanh xanh" Nó khác lắm cái sắc xanh tràn ngập nhựa sống của tiết trời mùa xuân:
Cỏ non xanh tận chân trời và cũng không giống màu áo xanh tinh khôi của chàng Kim trong ngày đầu gặp gỡ:
Tuyết in sắt ngựa câu giòn
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời
Màu xanh của không gian nơi lầu Ngưng Bích là màu xanh gợi buồn Nỗi buồn của người pha vào cảnh vật, mang theo bao tái tê Không gian trở nên rợn ngợp, cô liêu Sự vắng lặng bao trùm cảnh vật càng tô đậm tiếng lòng thổn thức của người trong cảnh Kiều cảm thấy cần một tiếng vọng của sự sống con người nhưng đáp lại nàng chỉ có những thanh âm hào hùng của thiên nhiên:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Gió thổi, nước trôi tất cả đều gợi sự chảy trôi, như thân phận "Bên trời góc
bể bơ vơ" của nàng Kiều Âm thanh của tiếng sóng ầm ầm như tiếng gào thét của lòng người trong cảnh ngộ bẽ bàng, tê tái Tầm nhìn của Kiều hướng từ xa
về gần, từ cao đến thấp, mong mỏi kiếm tìm một sự đáp vọng Thanh âm duy nhất đáp lại nàng là tiếng sóng "ầm ầm" "kêu quanh ghế ngồi" Nó không làm cho không gian vang động hơn mà càng khắc sâu thêm tâm trạng đau đớn lẫn dự cảm lo âu về tương lai của Kiều Xót xa biết bao, đớn đau biết bao! Chỉ có thiên nhiên bên nàng, sẻ chia "tấm lòng'' với nàng Đó chính là thời khắc Kiều thấm thía nhất nỗi niềm tự thương thân
Thơ ca chỉ tìm được bến neo đậu nơi lòng người khi đó là tiếng lòng tha thiết, được tạo tác bởi tài năng nghệ thuật chân chính Đoạn thơ này của Nguyễn
Du đã làm được điều đó Nó không chỉ khắc họa thành công nỗi lòng xót xa, tâm trạng bẽ bàng của Kiều mà còn cho ta thấy nghệ thuật tả cảnh ngụ tình bậc thầy của đại thi hào dân tộc Âm hưởng của những câu thơ này đã, đang và sẽ vang đọng mãi trong tâm trí người đọc
**************************************************
Trang 14Ngày dạy: /10/2019
CHUYÊN ĐỀ 2: ÔN TẬP TIẾNG VIỆT
Buổi 4,5
1 MỤC TIÊU
1.1.Định hướng phát triển năng lực và kiến thức:
- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề,năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác,năng lực cảm thụ thẩm mỹ để học sinh:
- Nắm được khái niệm, cách sử dụng lời dẫn trực tiếp,lời dẫn gián tiếp; chuyển lời dẫn trực tiếp sang lời dẫn gián tiếp
- Nắm được khái niệm các phương châm hội thoại,Xưng hô trong hội thoại
Sự phát triển của từ vựng Tiếng Việt ; Thuật ngữ ; Trau dồi vốn từ ; Tổng kết phần từ vựng
- Giáo dục ý thức tìm hiểu, học hỏi những vấn đề trong cuộc sống
2 CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
2.1 Chuẩn bị của giáo viên
- Soạn bài;Chuẩn bị các bài tập tham khảo
2.2 Chuẩn bị của HS
- Ôn lại lý thuyết – Giải các bài tập
3 TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
3.1 Ổn định lớp
3.2 Kiểm tra và ôn tập:
I.Phương châm hội thoại
(Chú ý mối liên quan giữa các phương châm hội thoại với tình huống giao tiếp.)
- Phương châm về lượng: Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung; nội dung của
lời nói phải đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thiêu, không thừa
- Phương châm về chất: Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin
là đúng hay không có bằng chứng xác thực
Trang 15- Phương châm cách thức: Khi giao tiếp, cần nói ngắn gọn, rành mạch; tránh
nói mơ hồ
- Phương châm quan hệ: Khi giao tiếp, cần nói đúng vào đề tài giao tiếp, tránh
nói lạc đề
- Phương châm lịch sự: Khi giao tiếp, cần tế nhị và tôn trọng người khác
2 Lập sơ đồ hệ thống hóa các cách phát triển của từ vựng
II Xưng hô trong hội thoại
- TV có 1 hệ thống từ ngữ xưng hô phong phú, tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm
- Người nói cần căn cứ vào đối tượng và các đặc điểm khác của tình huống giao tiếp để xưng hô cho thích hợp
III Cách dẫn trực tiếp , cách dẫn gián tiếp
- Dẫn trực tiếp:
+ Là cách nhắc lại nguyên vẹn lời hay ý của của người hoặc nhân vật
+ Dùng dấu hai chấm để ngăn cách phần được dẫn, thường kèm thêm dấu ngoặc kép
- Dẫn gián tiếp:
+ Nhắc lại lời hay ý của nhân vật, có điều chỉnh theo kiểu thuật lại, không giữ nguyên vẹn
+ Không dùng dấu hai chấm
* Chuyển đổi lời thoại trong đoạn trích thành lời dẫn gián tiếp
Trang 16- Bỏ dấu ngoặc kép , thêm từ “rằng ”,“là’’
->Từ xưng hô tôi (ngôi thứ 1), (ngôi thứ 2) trong lời đối thoại được thay đổi nhà vua (ngôi thứ 3),vua Quang Trung (ngôi thứ 3)
- Từ chỉ địa điểm đấy trong lời đối thoại tỉnh lược
- Từ chỉ thời gian: bây giờ trong lời đối thoại đổi thành bấy giờ
IV Từ đơn và từ phức
1 Khái niệm:
* Từ đơn là từ chỉ có một tiếng
* Từ phức là từ gồm hai tiếng trở lên
Từ phức gồm hai loại: từ ghép và từ láy
2 Phân biệt từ ghép và từ láy
* Từ ghép: được tạo thành trên cơ sở quan hệ về ý nghĩa giữa các tiếng
* Từ láy: được tạo thành trên cơ sở quan hệ về âm thanh giữa các tiếng
3 Bài tập 2/122:Phân biệt từ ghép và từ láy:
* Từ ghép: ngặt nghèo, giam giữ, bó buộc, tươi tốt, bọt bèo, đưa đón, nhường
nhịn, rơi rụng, mong muốn
* Từ láy: nho nhỏ, gật gù, lạnh lùng, xa xôi, lấp lánh
4 Bài tập 3/123:Phân loại từ láy:
* Từ láy giảm nghĩa: trăng trắng, nho nhỏ, lành lạnh, đèm đẹp, xôm xốp
* Từ láy tăng nghĩa: nhấp nhô, sạch sành sanh, sát sàn sạt
V Thành ngữ
1 Khái niệm
Trang 17* Thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh
* Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen nhưng thường thông qua một số phép chuyển nghĩa như ẩn dụ, so sánh
2 Bài tập 2/123:Phân biệt và giải thích thành ngữ, tục ngữ
a, Thành ngữ
* Đánh trống bỏ dùi: làm việc không đến nơi đến chốn, thiếu trách nhiệm
* Được voi đòi tiên: Lòng tham vô độ, có cái này đòi cái khác
* Nước mắt cá sấu: Hành động giả dối được che đậy tinh vi để đánh lừa người
khác
b, Tục ngữ
* Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng: hoàn cảnh, môi trường sống có liên quan
đến sự hình thành và phát triển nhân cách của con người
* Chó treo mèo đậy: Tùy cơ ứng biến để giữ mình
3 Bài tập 3/123:Tìm thành ngữ và đặt câu với thành ngữ đó
a, Thành ngữ có yếu tố động vật:
* Điệu hổ ly sơn : Công an đã dùng kế điệu hổ ly sơn để bắt tên cướp ấy
* Miệng hùm gan sứa : Nó chỉ miệng hùm gan sứa chứ có dám làm gì lớn lao
đâu
b, Thành ngữ có yếu tố thực vật:
* Cây nhà lá vườn :Chúng ta sẽ tổ chức một buổi văn nghệ có tính chất nội bộ,
cây nhà lá vườn để giúp vui cho đơn vị trong đêm giao thừa
* Cây cao bóng cả :Cha mẹ tuy già yếu nhưng vẫn là cây cao bóng cả cho
chúng con nương tựa
VI Nghĩa của từ
1 Khái niệm: Nghĩa của từ là nội dung mà từ biểu thị
2 Bài tập 2/123:Chọn cách hiểu đúng về từ “Mẹ”: Cách a là hợp lý
Trang 183 Bài tập 3/123:Cách giải thích b là đúng vì dùng “rộng lƣợng” để định nghĩa cho “độ lƣợng” và thêm phần cụ thể hóa
VII Từ nhiều nghĩa và hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ
1.Khái niệm
a Một từ có thể có nhiều nghĩa
b Chuyển nghĩa là hiện tƣợng thay đổi nghĩa của từ, tạo ra những từ nhiều nghĩa
c Trong từ nhiều nghĩa có nghĩa gốc và nghĩa chuyển
2 Bài tập 2/124:Trong câu thơ trên, từ “hoa” đƣợc dùng với nghĩa chuyển
* Về tu từ cú pháp, từ “hoa” trong “lệ hoa’ và “thềm hoa” là những định ngữ nghệ thuật
* Về tu từ từ vựng: “hoa” ở đây có nghĩa là sang trọng, đẹp Đây chỉ là nghĩa lâm thời
* Ta không thể xem nghĩa chuyển này là nguyên nhân khiến từ “hoa” trở thành
từ nhiều nghĩa vì nó chỉ là nghĩa lâm thời chứ không phải là một nét nghĩa cố định của từ “hoa”, chƣa đƣợc chú giải trong từ điển
VIII Từ đồng âm
1 Khái niệm
Từ đồng âm là những từ phát âm giống nhau nhƣng ý nghĩa khác xa nhau
2 Bài tập 2/124: Phân biệt
Trang 19- Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa trái ngược nhau
- Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc nhiều cặp từ trái nghĩa khác nhau
- Từ trái nghĩa được sử dụng trong thể đối để tạo các hình tượng tương phản gây
ấn tượng làm cho lời nói thêm sinh động
2.Bài tập 2/125
a Những cặp từ trái nghĩa: xấu – đẹp, xa – gần, rộng – hẹp
b Những cặp từ trái nghĩa ngữ dụng: ông – bà, voi – chuột, chó - mèo
3 Bài tập 3/125:Xếp các từ trái nghĩa theo nhóm
* Nhóm 1: Sống – chết, chiến tranh – hòa bình, chẵn – lẻ, đực – cái
* Nhóm 2: Già – trẻ, yêu – ghét, cao – thấp, nông – sâu
XI Cấp độ khái quát nghĩa của từ ngữ
Trang 201 Khái niệm
- Nghĩa của một từ ngữ có thể rộng hơn (khái quát hơn) hoặc hẹp hơn (ít khái quát hơn) nghĩa của từ ngữ khác
- Về bản chất, đây là mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ ngữ với nhau
- Các từ ngữ có quan hệ bao hàm hoặc được bao hàm nhau về nghĩa gọi là “Cấp
độ khái quát nghĩa của từ ngữ”
Trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa
2 Bài tập 2/126: Đoạn văn trên đã sử dụng từ “tắm” và “bể” cùng trường từ vựng Hai từ ấy có tác dụng làm cho câu văn có hình ảnh, sinh động và có giá trị
tố cáo mạnh mẽ hơn
Ngày dạy: /10/2019
CHUYÊN ĐỀ 3 VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM LỚP 9 HỌC KỲ I
BUỔI 6,7
A Mục tiêu cần đạt:
- Cung cấp kiến thức về văn bản : Lặng lẽ sa pa - Nguyễn Thành Long, Chiếc
lược ngà - Nguyễn Quang Sáng.Làng- Kim Lân
- Nhắc lại nội dung , nghệ thuật các bài văn
- Chữa các câu hỏi trong bộ đề
- Rèn kỹ năng làm bài cho hs
Trang 21- Làng - Kim Lân;
- Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long
- Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng
* Nhận biết tác giả và tác phẩm, nắm đặc điểm nhân vật, sự việc, cốt truyện,
diễn biến tâm trạng nhân vật, nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa của các tác phẩm
Bảng hệ thống kiến thức cơ bản về các văn bản truyện HĐ
Tác
giả Tác phẩ
m
Xuất xứ, HCRĐ, năm ST
Giai đoạn sáng tác
Thể loại PT
kì chống Pháp
- Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế
2 Nội dung:
- Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư được thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động ở nhân vật Ông Hai trong thời kỳ đầu kháng chiến
đi Lào Cai công tác
của t.giả
Văn học Thời
kì MB xây dựng XHC
N
Tr ngắn
- Xây dựng cốt truyện đơn giản, tạo tình huống hợp lý
- Dùng nhân vật phụ làm nổi bật nhân vật chính
2 Nội dung:
- Truyện đã khắc họa thành công hình tượng người lao động mới với lí tưởng sống cao đẹp, đáng
Trang 22trân trọng Tiêu biểu là nhân vật anh thanh niên với công việc của mình
- Truyện nêu lên ý nghĩa
và niềm vui của lao động chân chính
kì chống
Mỹ
Truy
ện ngắn
Tự
sự
Thứ nhất
1 Nghệ thuật:
- Cốt truyện chặt chẽ có những tình huống bất ngờ nhưng hợp lí
- Lựa chọn người kể chuyện thích hợp
- Miêu tả tâm lí nhân vật thành công
2 Nội dung:
Truyện đã diễn tả cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh Qua đó, tác giả khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc, nó càng cao đẹp trong hoàn cảnh khó khăn
*Tình huống truyện – cốt truyện:
- Làng: Ông Hai tình cờ nghe tin làng chợ Dầu yêu quí của mình trở thành làng
Việt gian theo Pháp, phản lại kháng chiến, phản lại Cụ Hồ =>Đó là một tình
huống truyện gay cấn để làm bộc lộ sâu sắc nội tâm của nhân vật
Trang 23+ Người cha dồn hết tình yêu thương vào cây lược làm cho con, nhưng chưa kịp trao thì ông đã hi sinh => bộc lộ tình càm của người cha với con
-Lặng lẽ SaPa:
+ Cốt truyện đơn giản
+Tình huống gặp gỡ tình cờ giữa ông họa sĩ, cô kĩ sư và anh thanh niên trên đỉnh Yên Sơn
*Đặc điểm nhân vật, sự việc:
Làng: Tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của ông Hai
- Tin dữ đến quá đột ngột ông Hai sững sờ, đau đớn tủi hổ và hoàn toàn thất vọng
- Những ngày tiếp theo tin dữ trở thành nỗi ám ảnh nặng nề trong tâm trí của ông và cả gia đình
- Ông rơi vào mối mâu thuẫn giữa tình yêu làng và phải thù làng => Tình yêu nước rộng lớn bao trùm lên tình cảm làng quê
- Qua những lời tâm sự với đứa con ta thấu hiểu tình cảm sâu nặng với làng quê
và tấm lòng thuỷ chung với cách mạng, kháng chiến => Tình cảm làng quê hoà quyện thống nhất với lòng yêu nước
- Khi tin dữ được cải chính ông vô cùng sung sướng tự hào về làng của mình
Lặng lẽ SaPa: Nhân vật anh thanh niên :
a Công việc và hoàn cảnh sống :
- Anh sống và làm việc một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, làm công việc quan trắc khí tượng kiêm vật lý địa cầu
- Công việc đòi hỏi thời gian nghiêm ngặt, sự chính xác, tỉ mỉ và có tinh thần trách nhiệm cao
- Gian khổ nhất là anh phải vượi qua được nỗi cô đơn, chiến thắng chính mình
b Những nét đẹp của anh thanh niên:
+ Yêu nghề nhận thức rõ ý nghĩa cao đẹp của công việc
+ Anh tổ chức cuộc sống một cách chủ động thoải mái
Trang 24+ Quan hệ với mọi người : chu đáo, cởi mở, chân thành, khiêm tốn
=> Anh sống có mục đích và lí tưởng cao đẹp
Chiếc lược ngà:
*Ông Sáu:
- Ông tìm mọi cách để bày tỏ tình yêu thươngcủa mình dành cho con
- Ông ân hận vì đã trót đánh con trong lúc nóng giận
- Lời hứa với con trở thành lời hứa thiêng liêng Chiếc lược ngà chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu thương của người cha với đứa con xa cách
- Trong giây phút cuối tình phụ tử càng rực cháy, ông dồn hết sức tàn gưỉ lại kỉ vật cho con yêu
1.1.Định hướng phát triển năng lực và kiến thức:
Phát triển năng lực giải quyết vấn đề,năng lực giao tiếp, năng lực hợp
tác,năng lực cảm thụ thẩm mỹ để học sinh nắm được:
- Những đặc sắc về nội dung nghệ thuật của 5 bài thơ
Trang 25- Nhận biết tác giả và tác phẩm, hoàn cảnh ra đời, học thuộc lòng thơ, hiểu
nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản
1.2 Kĩ năng
- Rèn kĩ năng cảm nhận thơ
1.3 Thái độ
- Giáo dục ý thức tìm hiểu, học hỏi những vấn đề trong cuộc sống
2 CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
2.1 Chuẩn bị của giáo viên
- Soạn bài;Chuẩn bị các bài tập tham khảo
- Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật;
- Đoàn thuyền đánh cá- Huy Cận;
- Bếp lửa - Bằng Việt;
- Ánh trăng - Nguyễn Duy
* Nhận biết tác giả và tác phẩm, hoàn cảnh ra đời, học thuộc lòng thơ, hiểu nội
dung, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản
Bảng thống kê kiến thức cơ bản các bài thơ hiện đại VN
Đ, năm
ST
Giai đoạn sáng tác
Thể thơ
Văn học Thời
kì chống Pháp
cả của người lính cách mạng với tình đồng đội; đồng chí sâu sắc, gắn bó bền chặt
- Thể thơ tự do, kết hợp giữa tự sự và trữ tình
- Giọng thơ tâm tình tha thiết
- Hình ảnh liên tưởng
Trang 26Mỹ trên tuyến đường Trườn
g Sơn
Văn học Thời
kì chống
tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam
Ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn
N
Thơ bảy chữ
Tự
sự
Khắc họa nhiều hình ảnh đẹp, tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm
tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống
Xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo: có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng, lạc quan
Văn học Thời
kì chống
Mỹ
Thơ tám chữ
Tự
sự
Qua hồi tưởng
và suy ngẫm của người cháu
đã trưởng thành, bài
thơ Bếp
lửa gợi lại
những kỉ niệm đầy xúc động
về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể
Bài thơ kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận,
sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc
và suy nghĩ về bà và tình bà cháu
Trang 27hiện lòng kí nh yêu trân trọng
và biết ơn của người cháu với
bà và cũng là với gia đình, quê hương, đất nước
1975 (sau chiến tranh)
Thơ ngũ ngô
n
Tự
sự
Bài thơ như một lời nhắc nhở về nhữ ng năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước, bình dị, hiền hậu.Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng
cố ở người đọc thái độ sống
“Uống nước nhớ
nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ
Giọng điệu tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm
* Giải thích được ý nghĩa nhan đề, tác dụng của các chi tiết, hình ảnh, biện pháp
- Tên bài thơ gợi chủ đề tác phẩm: viết về tình đồng chí ở những người lính
trong chống Pháp- những con người nông dân ra lính Với họ tình đồng chí là
một tình cảm mới mẻ
- Tình đồng chí là cốt lõi, là bản chất sâu xa của sự gắn bó giữa những người
lính cách mạng; là nốt nhấn và là lời khẳng định về tình đồng chí (Trong bài thơ tác giả đã tập trung làm nổi bật nội dung này.)
Trang 28BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH :
- Nhan đề làm nổi bật một hình ảnh rất độc đáo của toàn bài và đó là hình ảnh hiếm gặp trong thơ - hình ảnh những chiếc xe không kính
- Vẻ khác lạ còn ở hai chữ “ bài thơ” tưởng như rất thừa nhưng là sự khẳng định chất thơ của hiện thực, của tuổi trẻ hiên ngang, dũng cảm, vượt lên nhiều thiếu thốn, hiểm nguy của chiến tranh
BẾP LỬA: Hình ảnh bếp lửa không chỉ quen thuộc với mỗi gia đình Việt Nam
thời xưa, mà còn là biểu tượng của một tình cảm rất đẹp và thiêng liêng Tình bà cháu gợi lại những kỉ niệm về tuổi thơ sống bên bà và suy ngẫm thấu hiểu về cuộc đời bà, lẽ sống giản dị mà cao quý của bà, người cháu gởi niềm nhớ mong
về với bà Hình ảnh người bà gắn liền với bếp lửa và bếp lửa gợi đến ngọn lửa với 1 ý nghĩa trừu tượng và khái quát
ÁNH TRĂNG: Ánh trăng chỉ một thứ ánh sáng dịu hiền, ánh sáng ấy có thể len
lỏi vào những nơi khuất lấp trong tâm hồn con người để thức tỉnh họ nhận ra những điều sai trái, hướng con người ta đến với những giá trị đích thực của cuộc sống
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ: Bài thơ phản ánh không khí lao động sôi nổi của
nhân dân miền Bắc , khí thế lao động hứng khởi, hăng say của người dân chài trên biển quê hương
CẢM NHẬN 1.Đồng chí – Chính Hữu
a,Mở bài :
- Người lính nông dân, như một lẽ tự nhiên đã đi vào biết bao bài thơ trong văn
học Việt Nam Hình ảnh của họ hiện lên thật giản dị, gần gũi như Nhớ của Hồng Nguyên, Cá nước của Tố Hữu,… và cũng nằm trong mạch chung ấy, ta không thể không nhắc đến Đồng chí của Chính Hữu Bài thơ là bài ca ca ngợi tình cảm
đồng chí, đồng đội tha thiết, sâu nặng trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt
ba đã có bước chuyển hóa mạnh mẽ thành đôi người Không phải là hai mà là đôi, cho thấy giữa họ đã bắt đầu có sự gắn bó với nhau Họ cùng nhau về đây, tự nguyện bên với nhau:
"Súng bên súng đầu sát bên đầu/
Trang 29Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ"
-Họ không chỉ kề vai sát cánh bên nhau trong chiến đấu, trong lí tưởng mà họ còn bên nhau trong những khó khăn, gian khổ của cuộc đời chiến đấu Cái giá lạnh của núi rừng Việt Bắc có thể làm lạnh cơ thể họ, nhưng nó lại khiến cho tình cảm của những người lính trở nên ấm áp, nồng đậm hơn Câu thơ nói về cái rét, cái lạnh mà tuyệt nhiên người đọc không thấy hơi lạnh thấu xương, chỉ thấy một cảm giác ấm áp của tình người, của tình đồng đội, san sẻ với nhau những khó khăn Hai chữ tri kỉ thật thiêng liêng, thật đáng trân trọng, họ không còn dừng lại ở đôi bạn như thuở ban đầu mới gặp, mà trải qua những gian lao, chia
sẻ với nhau mọi điều họ đã là đôi tri kỉ, thấu hiểu nhau như hiểu chính mình
- Câu thơ thứ bảy: Đồng chí, vang lên là kết tinh đẹp đẽ nhất của thứ tình cảm
thiêng liêng đó Nếu không kể nhan đề thì đây là lần duy nhất từ này xuất hiện trong bài thơ, câu thơ có vị trí quan trọng, bản lề khép mở hai mạch thơ chính của cả bài Sáu câu thơ đầu là nền tảng, là cơ sở để đến đây được nâng lên thành một tình cảm mới mẻ, sâu sắc: tình đồng chí Đồng chí ở đây không chỉ là những người gắn bó, yêu thương, quan tâm nhau mà họ còn có chung một mục đích, lý tưởng, ý chí phấn đấu Bởi vậy hai tiếng đồng chí càng trở nên cao quý, đáng trân trọng hơn
- Ở những câu thơ tiếp theo, tình cảm đồng chí, đồng đội được khắc họa cụ thể,
rõ nét hơn Họ - những người con của quê hương, dù mang trong mình ý chí quyết tâm, thái độ dứt khoát mặc kệ tất cả, gửi lại gia đình, ruộng nương để lên đường chiến đấu nhưng trong lòng họ vẫn không thôi khắc khoải, nhớ nhung về gia đình Những hình ảnh giếng nước, gốc đa là những hình ảnh gần gũi, thân thương nhất với họ, bởi vậy họ luôn nhớ về chúng Nỗi nhớ ấy cũng chính là nỗi nhớ về gia đình, về người cha, người mẹ đang ở nhà ngày ngày mong ngóng con Trong cùng một hoàn cảnh, nên những người lính có sự đồng cảm sâu sắc với nhau Họ cảm thông, thấu hiểu bằng tình cảm chân thành
-Hình ảnh quê nhà, cùng với sự thấu hiểu, cảm thông giữa những người đồng đội là nguồn năng lượng cổ vũ động viên họ vượt qua mọi khó khăn, thử thách:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
- Câu thơ đã một lần nữa khắc họa hiện thực chiến tranh gian khổ, khốc liệt mà không ít chiến sĩ đã phải bỏ mạng nơi đất khách quê người Họ thiếu thốn đủ thứ
về vật chất: không giày, áo rách, quần vá Nhưng họ có thể vượt lên tất cả hiện thực tàn khốc ấy bằng cái nắm tay nồng ấm, nó giống như cái bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi của những người lính lái xe trong thơ Phạm Tiến Duật Chỉ cái bắt tay thôi mà mang lại sức mạnh to lớn cho những người chiến sĩ, để họ vững lòng tin, chắc tay súng bảo vệ tổ quốc:
Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Trang 30Đầu súng trăng treo
-Ba câu thơ cuối có thể coi là bức tranh đồng chí, đồng đội đẹp đẽ nhất về
người lính Trên nền hiện thực khốc liệt, hoang vu lạnh lẽo, những người lính bình tĩnh, chủ động, hiên ngang, nắm chắc cây súng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương Câu thơ cuối cùng là một hình ảnh thơ thật đẹp đẽ, lãng mạn, nó là biểu tượng cho người lính vừa anh dũng, kiên cường nhưng vẫn có nét thi sĩ, trữ tình, một tâm hồn đầy mơ mộng giữa hiện thực chiến tranh tàn khốc Đây cũng
là vẻ đẹp trữ tình mới mẻ, đặc sắc của thơ ca thời kì kháng chiến đã được Chính Hữu vận dụng tài tình qua hình ảnh trăng và súng mà không hề bó hẹp, khiên cưỡng
c,Kết bài
- Cả bài thơ toát lên hình ảnh của anh bộ đội cụ Hồ thật giản dị, chân thật Người đọc còn có thể cảm nhận thấy tình cảm đồng đội gắn bó sâu nặng giữa những người đồng chí, đồng đội ấy Chính tình đồng chí, sự cảm thông, thấu hiểu với nhau là động lực giúp họ vượt lên hoàn cảnh hiện thực khắc nghiệt Kết hợp với ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi, hàm súc, tất cả các yếu tố đó đã gây nên sức ám sánh sâu đậm trong lòng người đọc
2 Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật
a,Mở bài :
- Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ trẻ tiêu biểu trong những năm kháng chiến chống Mĩ Với phong cách trẻ sôi nổi, hồn nhiên mà sâu sắc, những bài thơ viết về hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam qua hình tượng những cô gái thanh niên xung phong và những anh bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn trong thời
kì kháng chiến đã để lại trong người đọc ấn tượng sâu đậm Bài thơ về tiểu đội
xe không kính là một bài thơ như thế
b,Thân bài :
-Những chiếc xe không có kính - hình ảnh thơ độc đáo đã khiến cho nhan đề bài thơ trở nên hết sức đặc biệt - tưởng chừng như tác giả sắp viết một câu truyện dài vậy Hình ảnh ấy đã làm nổi bật lên hình tượng những người lính trẻ, những người lái xe ở thời kì đó: trẻ trung, sôi nổi và có gì đó ngang tàng, hóm hỉnh Không biết nhà thơ đã bao giờ ngồi trong buồng lái hay trực tiếp cầm vô lăng chưa mà giọng thơ lại sôi động, tự nhiên và đầy hứng khởi đến vậy?
Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
- Từ ngôn từ, phong cách, nội dung đến nhịp điệu thơ đều rất tự nhiên, mộc mạc,
có sức gợi tả, gợi cầm Câu thơ làm hiện lên trước mắt người đọc một hình ảnh
lạ lùng: những chiếc xe không kính Mặt khác, lời giải thích của tác giả về những chiếc xe đặc biệt ấy cũng rất đỗi chân thực đến gần như là lột trần ra một chiếc xe đã bị phá huỷ bởi bom giật, bom rung - những động từ mạnh làm nổi bật hình ảnh và ý thơ Hai câu thơ thật tự nhiên, không có hình ảnh hoa mĩ, tráng
lệ, không có hình ảnh tượng trưng, giọng thơ có chút gì đó ngang tàng tạo nên
Trang 31điểm khởi dầu đầy ấn tượng cho bài thơ Rồi ở khổ cuối cùng của bài thơ, Phạm Tiến Duật lại một lần nữa tái hiện lại hình ảnh chiếc xe:
Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước,
- Những chiếc xe ấy bị biến dạng, bị phá huỷ gần như là toàn bộ Bom đạn, chiến tranh mới khốc liệt làm sao: sắt thép còn như thế nữa thì huống chi con người Vậy mà, những chiếc xe ấy, dưới con mắt của Phạm Tiến Duật, vẫn hiện lên một cách rất độc đáo, rất có hồn, rất ngang tàng Và vô hình trung, chúng đã trở thành biểu tượng đặc trưng của cuộc kháng chiến chống Mĩ Và có lẽ vì thế,
mà chúng đã làm nổi bật lên hình ảnh những người lính lái xe - thế hệ trẻ Việt Nam hiện lên trong cuộc kháng chiến trường kì Thơ như lời nói, lời kể chân tình:
Ung dung buồng lái ta ngồi,
-Những người lính lái xe vẫn ung dung, vẫn nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng Lời thơ mà nhịp nhàng, sôi nổi như lời ca, tiếng hát, khiến không khí bài thơ thật vui tươi, sôi động
-Khi chiếc xe đã bị phá huỷ, nát tan đến như vậy thì biêt bao khó khăn đã nảy sinh cũng chỉ vì xe không có kính:
Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời -Thế nhưng, không có kính thì tác giả lại có bụi rồi có mưa tuôn, mưa xối Cấu trúc thơ lặp đi lặp lại - ừ thì - đã làm toát lên thái độ bất chấp, không hề run sợ, coi thường mọi khó khăn Những câu thơ như vang lên tiếng cười vui vẻ, cười
để lạc quan yêu đời, để phớt lờ mọi khó khăn, để động viên mình và động viên đồng đội Và niềm lạc quan ấy còn được thể hiện bằng hành động:
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Và:
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi
Trang 32- Giọng thơ âm vang rộn rã, tràn đầy sức sống sôi nổi của tuổi mười tám, đôi mươi Những người lính trẻ ấy thật kiên cường và trẻ trung, hóm hỉnh Không chỉ vậy, họ còn là những người đồng chí gắn bó keo sơn, khăng khít Sự tụ họp lại của những chiếc xe đồng cảnh ngộ đã gắn kết những người lính lại với nhau
và qua của kính vỡ họ làm quen với nhau:
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
-Chao ôi! Kì lạ làm sao! Những con người ấy vốn dĩ không hề quen biết vậy mà giờ đây, trong gian khổ, họ thân thiết gắn bó, họ chào nhau như những người bạn đã quen Và rồi kỉ niệm như ùa về trong tâm trí nhà thơ Có lẽ vì ông cũng là một người lính nên ông thấu hiểu, đồng cảm tình đồng đội, đồng chí:
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy -Gia đình - hai tiếng thân thương gợi hình ảnh những con người cùng huyết thống Họ, những người lính Trường Sơn ấy, cũng mang trong mình dòng máu nóng - dòng máu sôi sục khát vọng giải phóng miền Nam, giải phóng đất nước:
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim
-Tuy chiếc xe có bị phá huỷ, nát tan đến mức nào, dù gian khổ khó khăn bao nhiêu, nhưng chỉ cần trong xe có một trái tim Đúng vậy! Chính tình yêu Tổ quốc đã cầm lái, đã là động lực thúc đẩy, giúp những người lính có thêm sức mạnh trước mỗi khó khăn Lời thơ nhẹ nhàng như một lời khẳng định chắc nịch, ngắn gọn Câu thơ kết của bài thơ có lẽ là câu thơ hay nhất đã kết lại sức mạnh của con người chính là ở tình yêu, tình yêu Tổ quốc, tình thương đồng bào và tình yêu hoá thành ý chí - kiên cường và vững bền Nhưng đồng thời, nó cũng
mở ra, gợi ra cánh cửa ánh sáng: miền Nam, nơi mà người dân đang trông ngóng cách mạng trong từng khoảnh khắc
c,Kết bài
-Phạm Tiến Duật với lời thơ, chất thơ trẻ trung, ngang tàng, nghịch ngợm, có phần tếu táo đã làm cho bài thơ trở nên thật đặc biệt, rất có hồn Ngôn từ giản dị, thơ mà có nhạc, trong nhạc có thơ, hình ảnh sáng tạo mà vẫn đầy chân thực Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên dấu ấn đặc trưng cho tác phẩm - in sâu trong tâm trí người đọc một thế hệ trẻ anh hùng Trong những năm kháng chiến chống
kì, Nguyễn Duy đã mở đầu bài thơ bằng một hồi ức xa xăm về trăng:
Trang 33Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ
-Chất thơ mộc mạc tự nhiên như lời.kể chuyện tâm tình thủ thỉ điệp từ hồi cứ mồi lần nhắc đến là một kỉ niệm thân thương lại hiện về trong miền kí ức của tác giả Nguyễn Duy nhớ về tuổi thơ êm đềm hạnh phúc nơi ruộng đồng, nhớ về những năm tháng chiến tranh gian khổ nơi núi rừng - những thăng trầm, vui buồn cua cuộc sống, sự trưởng thành lớn lên của một con người ở mọi nơi, mọi lúc đều có sự chia sẻ của Trăng người bạn tri kỉ
-Tri kỉ vì trăng hiểu người; trăng đồng cảm với người trong cảnh hàn vi cơ cực,
và những tình cảm thủy chung son sắt mà trăng và người đã có trong lúc đắng cay, những khi ngọt bùi; tình cảm ấy thật bền chặt, sâu sắc; không phô trương hoa mĩ mà bình dị, tự nhiên, không chút vụ lợi toan tính:
Trần trụi với thiên thiên
hồn nhiên như cây cỏ
-Trăng và người - hai hình tượng thơ cứ sóng đôi nhau trong một tứ thơ nhưng trăng thì hiển hiện cụ thể con người lại bị che khuất, giấu đi Cứ ngỡ cái hiển hiện phải lên tiếng vậy mà Nguyễn Duy để cho cái bị che khuất, cái ẩn lên tiếng trước Và tứ thơ không phải là lời kể mà chuyển thành độc thoại từ nội tâm con người, lời hối lỗi muộn màng Trăng gắn bó với người là thế tri kỉ là thế vậy mà nhà thơ phải thảng thốt lên: ngỡ không sao quên được cái vầng trăng nghĩa tình Cuộc sống còn có bao điều ta không ngờ đến được, cái hạnh phúc bình dị, giản đơn ta đã có đôi khi lại để tuột khỏi tay, tự mình đánh mất mình, đánh mất cả những gì thiêng liêng quý giá nhất Con người trước dòng đời đua chen xô đẩy, cái hào nhoáng, hoa mĩ, tráng lệ trước mắt ánh điện cứa gương đã khiến họ quên
đi những hạnh phúc bình dị thuở nào; quên đi những ki niệm một thời vất vả khó khăn và cũng vô tình lãng quên đi một người bạn tri kỉ ân tình:
Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
- Hình ảnh vầng trăng ở hai khổ thơ trên không được so sánh ví von như một con người mà chỉ để người đọc ngầm hiểu, sang khổ thơ thứ hai này, hình ảnh vầng trăng được nhân cách hóa thành một con người cụ thể Cứ ngờ vẫn là con người ấy - tri kỉ và nghĩa tình lắm, vậy mà không! Trăng vẫn tri kỉ, nghĩa tình đấy chứ, chỉ có lòng người không còn tri kỉ với trăng, chỉ coi trăng như một người qua đường, người dưng, nước lã: xa lạ, lạnh nhạt như chưa hề quen biết, chưa hề gặp mặt; một sự thật phũ phàng bởi lòng người thay đổi khôn lường, nào ai đoán trước được
Trang 34-Quỹ đạo của cuộc sống và dòng đời trong đục khiến con người cứ tất bật, hối
hả, chìm trong nhịp sống gấp gáp làm ăn Nhưng cuộc đời lại là một chuỗi những quy luật nhân - quả nối tiếp nhau, con người có lúc may, lúc rủi, lúc thành công, khi thất bại, lúc vui buồn và sự đổi ngôi là tất yếu để mỗi người tự hoàn thiện mình hơn: Thình lình đèn điện tắt/ Phòng buyn đinh tối om Một sự kiện bình thường, ngẫu nhiên trong cuộc sống hiện đại được Nguyễn Duy đưa vào trong thơ và sử dụng tài tình thành điểm thắt nút, đẩy bài thơ lên đến cao trào: bởi nếu như không có cảnh hôm ấy chắc mấy ai đã nhìn lại mình mà suy xét bản thân để nhận ra sự thay đổi vô tình của mình
Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
-Cả khổ thơ là một chuỗi những hành động liên tục, kế tiếp nhau, nhanh, dồn dập gấp gáp để rồi ngỡ ngàng, ngạc nhiên không nói thành lời: Đột ngột vầng trăng tròn
- Ta bỗng dưng tự hỏi tại sao lại là trăng tròn mà không là trăng khuyết? Một câu hỏi thật khó trả lời bởi tròn khuyết vốn là quy luật của tự nhiên Còn trăng ở đây đã được nhân cách hóa với những suy nghĩ, tâm tư rất con người, rất đời thường vậy mà: Trăng vẫn tròn vành vạnh / Kể chi người vô tình Cái khuyết trong tâm hồn con người bỗng trở nên ngại ngùng xấu hổ trước trăng, trước sự vẹn tròn; chung thủy trước sau như một của trăng Phải chi trăng cứ khuyết đi cho lòng người đã ân hận, đỡ hổ thẹn với trăng:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng
- Một khoảng khắc im lặng trong hiện thực nhưng trong nội tâm con người nỗi xúc động trào dâng đến đỉnh điểm Mọi ký ức của một thời xa xăm, một thời gian khó, gắn bó thuở nào bỗng dội về trước mặt
-Lại một lần nữa hình ảnh trăng được nhân hóa Đó không phái là mặt trăng bình thường nữa Đó là khuôn mặt của một người bạn đã từng tri kỷ với những người đang sống, đang hiển hiện trước trăng Qua bao nhiêu biến động thăng trầm, người bạn ấy vẫn thủy chung son sất, bao dung độ lượng, nhân ái như thuở nào
- Nhà thơ Nguyễn Duy đã tìm được một điểm nhìn vừa thông minh vừa sắc sảo; tinh tế mà cụ thể, chi tiết Tại sao không phải là trăng chênh chếch; trăng xa xa hay trăng lấp ló mà lại là trăng trên đỉnh đầu để phải ngửa mặt lên nhìn mặt? -Phải chăng đó cũng là dụng ý của tác giả? Bởi trăng bao dung, độ lượng là thế
Từ điểm nhìn của nhà thơ, ánh trăng cứ lan tỏa ra mênh mông; soi rọi chiếu sáng Một không gian mênh mông rộng lớn phủ đầy ánh trăng, ngập chìm trong ánh trăng - thứ ánh sáng ngọc ngà tinh khiết Thời gian và không gian (trăng rọi
Trang 35đỉnh đầu) trong khổ thơ đã khiến ta nhận thấy nó không phải là sớm nhưng cũng chưa đến nỗi muộn để không nhận ra mọi thứ Phải chăng nhà thơ đã đồng nhất thời gian trong hiện thực và thời gian trong tâm tưởng con người? Hình ảnh trăng ở đây đã lên đến đỉnh điểm thành công của tác giả Nó chứa đựng một ý nghĩa thật lớn lao sâu sắc, một giá trị nhân văn to lớn Trăng không còn là trăng của thiên nhiên; không phải là trăng ví như một con người mà nó mang ý nghĩa tượng trưng cho cả một lớp người, một thế hệ Một thế hệ với bao cống hiến hi sinh trong những thời khắc gian khó, ác liệt; những năm tháng cam go thử thách khi đất nước lâm nguy để đến khi trở về cuộc sống đời thường - đất nước thanh bình, họ lại bình dị đến đạm bạc, không chút đòi hỏi, bon chen danh vọng Trong số họ có những người không may mắn được trở về; có những người còn gửi lại nơi chiến trường một phần cơ thể và những di chứng chiến tranh cho thế
hệ con cái; có những người được Tổ quốc quê hương biết đến song vẫn còn có những người tài sản chỉ là chiếc ba lô sờn vai vì trận mạc và cuộc sống của họ chỉ diễn ra âm thầm lặng lẽ bình dị như bao người bình thường khác nhưng họ vẫn sống và giữ trọn nghĩa tình với quê hương, đất nước, với những người đồng chí đồng đội của mình Một tấm lòng cao cả, bao dung, độ lượng, một niềm lạc quan tin tưởng vào cuộc sống Tình cảm của họ vẫn tròn vành vạnh, trước sau như một đâu kể cho những người vô tình, những người lãng quên
-Trăng lại trở về với chính nó; giản dị tự nhiên, mộc mạc:
c,Kết bài :
- Lời thơ không triết lý, chau chuốt nhưng đã để lại trong lòng người đọc dòng suy nghĩ về nhân tình thế thái; quá khứ và hiện tại luôn song hành nhắc nhở hoàn thiện mỗi con người; chính nghệ thuật dùng sự hồi tưởng, tự đấu tranh, suy nghĩ trong nội tâm con người đã làm nên thành công, khiến bài thơ còn mãi với thời gian
4 Bếp lửa – Bằng Việt
a, Mở bài:
– Giới thiệu qua về xuất xứ của tác giả tác phẩm: Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt được sáng tác vào năm 1963 khi tác giả đang đi tu nghiệp tại Nga giữa trời
Trang 36đông buốt giá, trong tâm trạng nhớ quê hương, tác giả Bằng Việt đã viết ra
bàithơ với những rung động tự tận đáy lòng
b, Thân bài:
– Ngay từ khổ thơ đầu tiên hình ảnh chiếc bếp lửa hiện lên vừa xa, vừa gần,vừa thực vừa hư “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm” Nó như là sự khắc khoải của tác giả về một miền ký ức dù đã bị thời gian vùi lấp, nhưng chưa bao giờ lãng quên mà chỉ chờ cơ hội để quay trở về đánh thức nỗi nhớ trong lòng tác giả “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
– Hình ảnh người bà như bà tiên trong chuyện cổ tích hiện lên đầy rõ nét chân thực chứ không ẩn hiện, hư thực như chiếc bếp lửa Hình ảnh người bà thân thương luôn chở che cho con cháu được tác giả nhắc tới đầy cảm xúc
bằngnhững lời lẽ hết sức mộc mạc, giản dị
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”
– Trong những câu thơ tiếp theo tác giả đã vẽ rõ nét hơn bức tranh về quê hương
về vùng quê nơi có những người thân yêu của mình Trong đó tác giảnhắc tới mùi khói cái mùi thơm thơm ngai ngái mà bất kỳ ai đã từng đun cơm bằng bếp lửa cháy bằng rơm rạ ở những vùng quê sau mùa gặt đều nhớ mãi
“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”
– Những lời thơ như thấm đẫm những dòng nước mắt chứa đựng biết bao tâm sự của người cháu muốn nói với bà về quá bi ai nhưng cũng nhiều kỷ niệm,khắc cốt ghi tâm
- Tiếng tu hú hiện lên trong những vần thơ làm cho lời thơ bỗng nhiên vang vọng giống như tiếng réo gọi từ quá khứ gọi về Tiếng tu hú xuất hiện là nhịp thơ trở nên nhanh hơn bồi hồi xúc động hơn nó như nhịp tim của tác giả đang loạn nhịp khi nhớ về một miền quê ký ức
“Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa!”
– Ở những câu thơ này hình ảnh người bà và cháu ở bên nhau như những kỷ niệm êm đềm, nhưng cũng đầy hưu quạnh
Trang 37- Trong cuộc kháng chiến đầy cam go khốc liệt những người có sức khỏe thường
đi xa để làm ăn hoặc đi kháng chiến ở lại làng quê chỉ còn lại người già và trẻ nhỏ những thành phần yếu ớt, tự nương tựa vào nhau để sống
“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
– Trong khổ thơ này tác giả đã tác giả đã khéo léo hòa nỗi đau riêng của mình của cá nhân một gia đình, một ngôi làng vào nỗi đau chung của toàn dân tộc – Qua những câu thơ “giặc đốt làng” tác giả đã tố cáo tội ác của giặc khi chà đạp lên những vùng quê Việt Nam, nơi chỉ có toàn người già trẻ nhỏ không có sức chống cự nhưng chúng vẫn không tha
– Tấm lòng của bà thật không từ ngữ nào có thể tả hết được sự hiên ngang, tinh thần hy sinh quả cảm
“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”
– Hình ảnh bếp lửa và người bà hiện lên mang theo sự ấm áp, mang theo sự kiên cường, không ngại hy sinh Ở những câu cuối một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
“Giờ cháu đã đi xa
Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”
– Hình ảnh trong khổ thơ cuối tác giả đã trở về với hiện thực khi mình đã đi xabà, xa quê hương, được hưởng lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả nhưng chưa giây phút nào hình ảnh người bà và chiếc bếp lửa thân thương gắn liền với tuổi thơ lam lũ bị tác giả quên lãng
c, Kết bài
– Bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Hoàng Việt là một bài thơ hay của thi ca Việt Nam đọc xong bài thơ mỗi chúng ta đều muốn được chạy về nhà để sà vào lòng
bà để mà được nghe bà hát ru trong những trưa hè oi ả
5 Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm
a Mở bài
- Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ, chiến sĩ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước Trong những ngày gian khổ và ác liệt ấy, bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ ra đời Bài thơ làm nổi bật hình ảnh người mẹ Tà-ôi – người mẹ yêu con, yêu nước, nuôi dưỡng trong con tình yêu làng quê, đất nước và ý chí giải phóng quê hương
Trang 38b,Thân bài
-Mở đầu bài thơ là lời ru hời như để vỗ về đứa bé vào giấc ngủ say nồng:
Emcu Tai ngủ trên lưng me ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
-Hai câu thơ này được lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi khúc ru, giúp cho bài thơ nhẹ nhàng và sâu lắng Đây là lời của tác giả nói với đứa bé nhưng chứa đựng tình yêu thương của người mẹ Người mẹ yêu con và yêu thương các chiến sĩ bảo vệ
Tổ quốc nên mẹ vừa địu con vừa giã gạo: Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội
Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
-Hai câu thơ vừa diễn tả được sự cực nhọc trong công việc giã gạo của mẹ lại vừa diễn tả giấc ngủ không mấy thoải mái của em cu Tai Những giọt mồ hôi vất
vả của mẹ rơi xuống đã làm em như cũng cảm nhận được sự nặng nhọc cửa mẹ;
em đã ngủ ngon cho mẹ yên lòng làm việc Quả thật việc giã gạo là rất khó khăn, vất vả để biến hạt thóc thành hạt gạo trắng ngần để phục vụ kháng chiến:
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lưng đưa nồi và tim hát thành lời
-Mẹ vừa địu con yừa phải giã gạo nhưng mẹ vẫn cố tạo ra sự thoải mái cho con
có được giấc ngủ say Hình ảnh “vai gầy” làm gối của mẹ còn gợi xúc động trong lòng người đọc Nỗi vất vả, nhọc nhằn được hiện ra trong khúc hát ru Tác giả đã khai thác thành công nghệ thuật so sánh: đôi vai gầy của mẹ làm gối đưa con ngủ, lưng mẹ làm nôi và nhịp tim của mẹ hát thành lời thắm thiết, Lời mẹ ru con thắm thiết như tiếng nói tâm tình của người mẹ:
Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội
-Lời ru của mẹ chất chứa tình yêu thương đối với đứa con Mẹ mong con sẽ có nhữtig giấc mơ đẹp là có hạt thóc trắng ngần để nuôi bộ đội đánh giặc
-Và mẹ mong con lớn nhanh để “vung chày lún sân” Trong ước mơ của mẹ chứa đựng niềm hi vọng con mình lớn lên sẽ trở thành một thanh niên khỏe mạnh để giúp ích cho nước, cho dân, Tình mẹ con ở đây ngày càng đẹp hơn bởi
nó gắn với tình yêu quê hương, đất nước
-Nhà thơ ru cho em bé ngủ ngoan để mẹ yên tâm làm việc:
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Trang 39-Hình ảnh người mẹ tỉa bắp trên núi Ka-lưi thật cảm động trong lòng người đọc, Núi rừng rộng lớn nhưng sức mạnh có hạn Lời ru của mẹ đã mô tả được công việc khó khăn, vất vả mà mẹ phải gánh vác Vì thế đứa con là niềm an ủi, niềm
Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi
-Ước mơ của mẹ dần lớn hơn Càng thương con thì mẹ càng “thương làng đói” Tình thương con mở rộng ra tình thương dân làng Vì thế mẹ mong trong giấc
mơ của con “hạt bắp lên đều” Mẹ mong cho các anh bộ đội có đủ cơm ăn, mong cho dân làng có lương thực để sống và mong cho con của mẹ có một tương lai tốt đẹp hơn
-Từ việc mong cho con mình khỏe mạnh, giờ đây mẹ mong cho con trở thành người lao động giỏi, làm ra lương thực để nuôi làng
-Nếu như ở hai đoạn thơ trước, nhà thơ miêu tả cảnh mẹ địu con lên núi tỉa bắp thì ở đoạn thơ này nhà thơ tả cảnh mẹ cùng con đi đánh giặc:
Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông
Mẹ dịu em đi đề giành trận cuối
-Động từ “đi” được sử dụng đến hai lần, gợi được tư thế chủ động khi đối mặt với bọn địch, quyết tâm đánh giặc để giữ đất nước Mẹ cùng em cu Tai trực tiếp tham gia trận đánh cùng với anh trai, chị gái Mẹ làm việc gian nan ấy là vì con,
vì làng xóm và vì dân tộc Dẫu công việc có khó khăn đến đâu thì mẹ cũng sẵn sàng vượt qua tất cả Hai chữ “trận cuối” thể hiện cả một niềm tin chiến thắng Người mẹ giờ đây khoác lên vai mình một nhiệm vụ mới, một tầm vóc mới Thật xúc động trước cảnh em cu Tai:
Trang 40Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường
Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn
-Em cu Tai vẫn còn nằm trên lưng mẹ mà như đã khôn lớn để cùng mẹ lên đường vào Trường Sơn đánh giặc, nơi có biết bao vất vả và cái chết đang rình rập Người mẹ Tà-ôi đã được, nâng lên thành người mẹ Tổ quốc Mẹ đã dùng chính tấm lưng gầy của mình để nuôi dưỡng những anh hùng cho cuộc kháng chiến Mẹ ru con và mong cho con hanh phúc:
Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ Mai sau con lớn làm người Tự do
-Bên cạnh tình thương con, mẹ còn thương bộ đội, thương làng đổi, thương đất nước Tình cảm và ước mơ của mẹ ngày càng rộng lớn hơn
-Mẹ mong cho con được gặp Bác Hồ, mong đất nước được tự do Bởi Bác Hồ luôn là nguồn động viên, là biểu tượng sáng chói của cách mạng Lời ru kết lại
là hình tượng em cu Tai sẽ trở thành người tự do của một đất nước hòa bình
c,Kết bài
-Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ ”đã khắc họa thành công
hình tượng người mẹ Tà-ôi, người mẹ của Tổ quốc với những phẩm chất đáng quí và là biểu tượng của người mẹ Việt Nam anh hùng
Ngày dạy: / /20
Ngày dạy: / /20
CHUYÊN ĐỀ 4: VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
A Một số hiểu biết chung
I Nghị luận và văn nghị luận
- Nghị luận: bàn bạc, lí giải, đánh giá cho rõ một vấn đề nào đó
- Văn nghị luận là lọai văn dùng để bàn bạc về một vần đề, một hiện
tượng, một nhận định hoặc về một giá trị của một tác phẩm văn học
Có nhiều cách bàn bạc, có khi dùng những bằng chứng để người ta tin tưởng hơn (chứng minh), có khi phải giảng giải, đưa ra bằng chứng để người ta hiểu cặn kẽ hơn (giải thích), cũng có khi phải phát biếu ý kiến của mình (bình luận) hoặc chỉ ra những giá trị của một tác phẩm văn học (phân tích tác phẩm), hoặc chỉ ra những giá trị của một hình tượng nhân vật trong tác phẩm (phân tích nhân vật), hoặc phải giảng giải để bình giá một tác phẩm thơ hoặc văn xuôi (bình giảng)
Dù là khi chứng minh, giải thích hay bình luận, phân tích tác phẩm, bình giảng tác phẩm thì người viết văn nghị luận vẫn phải có những hiểu biết đầy đủ