Phân tích bài thơ "Khóc Dương Khuê
Trang 1Phân tích bài thơ
"Khóc Dương Khuê"
Tác giả
Nguyễn Khuyến (1835 –
1909), người Yên Đổ,
Bình Lục, Hà Nam Nhà
nghèo, rất hiếu thảo, học
giỏi và có chí lớn Đỗ
đầu ba kỳ thi, được
người đời ái mộ gọi là
“Tam nguyên Yên Đổ”
Làm quan dưới triều
Nguyễn Yêu nước
nhưng bất lực trước thời
cuộc, cáo quan về quê,
không cam tâm làm tôi
tớ - tay sai cho thực dân
Pháp
Tác phẩm: Còn để lại
trên 800 bài thơ nôm và
thơ chữ Hán, vài chục
câu đối nôm Thơ
Nguyễn Khuyến bình dị
mà điêu luyện, mộc mạc
mà thâm trầm, hóm hỉnh
Ông là nhà thơ của làng
quê Một hồn thơ thanh
cao, chứa chan nghĩa
tình đối với quê hương,
gia đình, bằng hữu
Những bài thơ thu,
những bài thơ viết về vợ
con, tình bạn… là hay
nhất, cảm động nhất
Nguyễn Khuyến là nhà
thơ nôm kiệt xuất của
đất nước ta.
Xuất xứ
Dương Khuê (1839 –
1902) vị đại quan của
triều Nguyễn Là nhà thơ
để lại một số bài thơ hát
nói tuyệt tác Là bạn
đồng khoa, rồi trở thành
bạn tri kỷ của Nguyễn
Khuyến
Năm 1902, Dương Khuê
qua đời, Nguyễn Khuyến
viết bài thơ chữ Hán,
nhan đề “Vãn đồng niên
Vân Đình tiến sĩ Dương
thượng thư”, sau đó tác
giả tự dịch ra chữ Nôm
thành bài “Khóc Dương
Khuê” bằng thơ song
thất lục bát gồm có 38
câu thơ
Chủ đề
Đau xót và thương tiếc
bạn, khi bạn đột ngột
qua đời Nhớ lại những
kỷ niệm đẹp của một
tình bạn đẹp, càng cảm
thấy cô đơn và đau đớn
hơn bao giờ hết
Phân tích
1 Bạn thân qua đời đột
ngột Được tin đau đớn
bàng hoàng:
“Bác Dương thôi đã thôi
rồi
Nước mây man mác
ngậm ngùi lòng ta”
Bốn tiếng “thôi đã thôi
rồi” thốt lên như bất ngờ
đánh rơi mất một cái gì
vô cùng thiêng liêng
Nỗi đau xót ngậm ngùi
thấm sâu từ lòng ta, mà
tỏa rộng khắp “nước
mây man mác” bao la
Ngôn ngữ bình dị mà
tiếng khóc lâm ly thấm
thía Thật vô cùng điêu
luyện
2 Nhớ từ thuở…
Giờ đã âm dương đôi đường cách trở, nhưng những kỷ niệm đẹp ngày nào vẫn nhớ mãi không nguôi Nhớ kỷ niện xưa
là thương tiếc bạn vô cùng, là tự hào về một tình bạn đẹp, thủy chung Tuổi già khóc bạn nên mới kể lể như vậy:
- Nhớ ngày đỗ đạt, thành đôi bạn đồng khoa, biết mấy tự hào:
“Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi với bác cùng nhau”
- Nhớ những lần du ngoạn thảnh thơi:
“Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo”
- Nhớ khi đàm đạo văn chương tâm đầu ý hợp
Một chén rượu, một cung đàn, một điệu hát… nhớ mãi bạn tao nhân tri âm ở đời:
“Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm
ắp bầu xuân
Có khi bàn soạn câu văn, Biết bao đông bích điển phần trước sau”
- Cùng chung hoạn nạn
Cùng chung tuổi già Ba chữ “thôi” như một tiếng thở dài ngao ngán:
“Bác già tôi cũng già rồi
Biết thôi thôi thế thì thôi
mới là!”
- Kỷ niệm cuối cùng đôi bạn già gặp nhau Nhiều mừng vui bịn rịn Phảng phất lo âu Xúc động bồi hồi Bạn đã mất rồi mà nhà thơ tưởng như bạn còn hiển hiện:
“Cầm tay hỏi hết xa gần, Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can”
3 Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời…
- Bạn đã mất rồi Tin buồn đến quá đột ngột
Đau đớn cực độ như chết đi nửa con người
Không thể nào tin được
“sự việc” đã xảy ra Vừa bàng hoàng ngạc nhiên vừa tái tê đau đớn! Nhà thơ như tự hỏi mình:
“Làm sao bác vội về ngay
Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời”
- Trách bạn “Vội vàng chi đã mải lên tiên”
Cảm thông với nỗi “chán đời” của bạn vì tuổi già lại ốm đau,… Bạn “lên tiên” để nhà thơ ở lại cõi trần, trở nên cô đơn lẻ bóng Với Nguyễn Khuyến nỗi đau như nhân lên nhiều lần: vợ mất, con chết, nay bạn tri âm lại qua đời Cuộc sống mất hết niềm vui và trở nên vô nghĩa Nhà thơ nhắc lại 2 điển tích
về Bá Nha và Chung Tử
Kỳ (đàn kia), về Trần Phồn và Từ Trĩ (giường kia…) để diễn tả nỗi buồn bơ vơ, cô đơn, lẻ
bóng
Đây là 6 câu thơ hay nhất trong bài được nhiều người hau nhắc đến khi nói về tình bạn
Có 6 chữ “không”, 2 từ láy: “hững hờ”, “ngẩn ngơ” – cho thấy nghệ
thuật sử dụng ngôn từ cực kỳ điêu luyện, thơ liền mạch – của Tam nguyên Yên Đồ:
“Rượu ngon không có
bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo
không viết,
Viết đưa ai ai biết mà đưa
Giường kia treo những
hững hờ, Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”
- Nỗi đau đớn, tiếc thương bạn không thể nào kể xiết Nhà thơ như
“lặng” đi Tuổi già vốn ít
lệ Chỉ biết khóc bạn trong lòng:
“Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan”
Câu thơ chữ Hán diễn tả
ý thơ này, nỗi đau như nén lại:
“Lão nhân khốc vô lệ,
Hà tất cưỡng nhi liên”
Nghĩa là: Người già khóc không nước mắt – Cac chi mà cố gượng cho (nước mắt) giàn giụa ra
Kết luận
“Khóc Dương Khuê” là bài thơ hay nhất, cảm động nhất nói về một tình bạn đẹp, thắm thiết, thủy chung của 2 nhà nho, 2 nhà thơ một trăm năm về trước Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng như đang tự khóc mình
Thể thơ song thất lục bát giàu âm điệu trầm bổng, réo rắt đã góp phần tạo nên giọng lâm li thê thiết Câu thơ nào, vần thơ nào cũng như thấm đầy lệ Bài thơ “Khóc Dương Khuê” khác nào một bài văn tế?
Thu vịnh
Nguyễn Khuyến
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ thơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như từng khói phủ,
Song thưa
để mặc bóng trăng vào
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào
Nhân hững cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào
Cảm hứng chủ đạo
Thu vịnh có nghĩa là
vịnh mùa thu, cũng có thể hiểu mùa thu làm thơ ngâm vịnh Bài thơ nói lên những rung động của tâm hồn Nguyễn Khuyến, trước cảnh đẹp mùa thu; ngập ngừng bày tỏ một nỗi niềm thầm kín trước thời cuộc
Phân tích
1 Đề
Câu 1, tả vẻ đẹp trời thu nơi đồng quê: xanh ngắt, thăm thẳm “mấy từng cao” Còn có cái bao la, mênh mông của bầu trời
mà ta cảm nhân được
Câu 2 tả một nét thu hữu tình Gió thu nhè nhẹ, lành lạnh “hắt hiu” gợi buồn, khẽ lay động những ngọn tre, ngọn măng trên luỹ tre làng
“Cần trúc lơ thơ” là một hình ảnh đầy chất thơ mang theo hồn quê man mác
2 Thực
Cảnh thu sáng sớm hay hoàng hôn, chập tối hay canh khuya? Mặt ao thu
“nước biếc” bao phủ mơ màng một làn sương
“như từng khói phủ”
Đêm đêm nhà thơ mở rộng cửa sổ (song thưa)
để đón trăng thu Hai
chữ “để mặc” trong câu
thơ “Song thưa để mặc bóng trăng vào” rất thần tình, gợi tả tâm hồn rộng
mở và thanh cao của thi nhân Nguyễn Khuyến thưởng trăng nào có khác gì Nguyễn Trãi 600 năm về trước: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt”
(Hương quế: trăng)
Phần thực tả trăng nước mùa thu mang vẻ đẹp êm đềm, thơ mộng Nhà thơ như đang chan hòa, đang trang trải lòng mình với thiên nhiên
3 Luận
Lấy hoa để nhắc lại hoài niệm; lấy tiếng ngỗng không chỉ mượn động để
tả tĩnh mà còn để gợi tả nỗi niềm cô đơn của
mình “Hoa năm ngoái”
như một chứng nhân buồn Có khác gì Đỗ Phủ xưa: “Khóm cúc tuôn rơi dòng lệ cũ”?
“Ngỗng nước nào”, một câu hỏi nhiều bâng khuâng Quê hương mình, đất nước mình…
nhưng hồn quê nay đã sầu tủi, hồn nước nay đã
bơ vơ… đã thành “nước nào” rồi Tiếng chích
chòe, tiếng cuốc kêu, tiếng ngỗng gọi đàn trong thơ Nguyễn Khuyến đầy ám ảnh Lấy
cái nhìn thấy đối với cái nghe thấy, lấy thời gian đối với không gian,
Nguyễn Khuyến đã khơi
gợi trong hồn ta cái chất thơ của tình thu quyện vào trong cảnh thu Thu
vịnh là như thế!
4 Kết
Niềm hứng khởi và nỗi thẹn của nhà thơ Ngập ngừng muốn cất bút làm
thơ để vịnh thu, nhưng
rồi lại thẹn Thẹn với ai?
Với danh sĩ Đào Tiềm đời nhà Tấn bên Trung Quốc ngày xưa Thẹn về tài thơ hay thẹn về khí tiết? Lấy điển tích này diễn đạt bằng một so sánh, Nguyễn Khuyến khiêm tốn và kín đáo giãi bày tâm sự mình, khẳng định lương tâm một nhà nho quyết giữ vững khí tiết: “Rằng quan nhà Nguyễn cáo về
đã lâu” (Di chúc)
Kết luận
Có yêu mùa thu nhiều lắm mới tả, mới vịnh mùa thu hay như vậy
Một nét thu là một nét vẽ thoáng và nhẹ, thanh và trong, thực và mộng
Bầu trời và mặt nước, ngọn tre và làn gió thu, bóng trăng và màn sương khói, chùm hoa và tiếng ngỗng trời… chứa đựng cả một hồn thu đồng quê xa xưa Trong cái hồn thu ấy thoáng hiện tâm tình, tâm hồn thi nhân: thanh cao, giàu khí tiết, lặng lẽ và cô đơn Cảnh thu, tình thu đẹp mà thoáng buồn, đầy chất thơ “Thu vịnh” là một bài thơ kiệt tác
Thu điếu
Nguyễn Khuyến
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Xuất xứ, chủ đề
“Thu điếu” nằm trong
chùm thơ thu ba bài
“nức danh nhất” về thơ nôm của Nguyễn Khuyến Bài thơ nói lên
một nét thu đẹp tĩnh lặng nơi làng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp
mà cô đơn, buồn của
một nhà nho nặng tình với quê hương đất nước
“Thu điếu” cũng như
“Thu ẩm”, “Thu vịnh”
chỉ có thể được Nguyễn Khuyến viết vào thời gian sau khi ông đã từ quan về sống ở quê nhà (1884).
Phân tích
1 Đề
Mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc mùa thu đồng quê Chiếc
ao thu “nước trong veo”
có thể nhìn được rong
rêu tận đáy, tỏa ra khí
thu “lạnh lẽo” như bao
trùm không gian Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạt rồi nên mới
“lạnh lẽo” như vậy
Trên mặt ao thu đã có
“một chiếc thuyền câu
bé tẻo teo” tự bao giờ
“Một chiếc” gợi tả sự cô đơn của thuyền câu “Bé tẻo teo” nghĩa là rất bé nhỏ; âm điệu của vần thơ cũng gợi ra sự tun hút của cảnh vật (trong
veo – bé tẻo teo) – Đó là một nét thu đẹp và êm đềm.
2 Thực
Tả không gian 2 chiều
Màu sắc hòa hợp có
“sóng biếc” với “lá vàng” Gió thổi nhẹ cũng
đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng “sẽ đưa vèo”, làm cho sóng biếc lăn tăn từng làn từng làn
“hơi gợn tí” Phép đối tài tình làm nổi bật một nét
thu, tô đậm cái nhìn thấy
và cái nghe thấy Ngòi
bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trong dùng từ
và cảm nhận, lấy cái lăn tăn của sóng “hơi gợn tí”
phối cảnh với độ bay
xoay xoay “sẽ đưa vèo”
của chiếc lá thu Chữ
“vèo” là một nhãn tự mà
sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu
vừa ý: “Vèo trông lá
rụng đầy sân” (cảm thu, tiễn thu)
3 Luận
Bức tranh thu được mở rộng dần ra Bầu trời thu
“xanh ngắt” thăm thẳm, bao la Áng mây, tầng mây (trắng hay hồng?)
lơ lửng nhè nhẹ trôi
Thoáng đãng, êm đềm, tĩnh lặng và nhẹ nhàng
Không một bóng người lại qua trên con đường làng đi về các ngõ xóm:
“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” “Vắng teo” nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng “Ngõ trúc”
trong thơ Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng gợi
tả một tình quê nhiều bâng khuâng, man mác:
“Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy
Thuyền ai khách đợi bến dâu đây?”
(Nhớ núi Đọi)
“Ngõ trúc” và “tầng mây” cũng là một nét thu đẹp và thân thuộc của làng quê Thi sĩ như đang lặng ngắm và mơ màng đắm chìm vào cảnh vật
4 Kết
“Thu điếu” nghĩa là
mùa thu, câu cá 6 câu đầu mới chỉ có cảnh vật:
ao thu, chiếc thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ trúc… mãi đến
phần kết mới xuất hiện
người câu cá Một tư thế nhàn: “tựa gối ôm cần”
Một sự đợi chờ: “lâu
chẳng được” Một cái chợt tỉnh khi mơ hồ nghe
“Cá đậu đớp động dưới chân bèo” Người câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu Người đọc nghĩ về một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị hơn mấy nghìn năm về trước Chỉ có một tiếng cá “đớp động” sau tiếng lá thu
“đưa vèo”, đó là tiếng thu của làng quê xưa
Âm thanh ấy hòa quyện với “Một tiếng trên không ngỗng nước nào”, như đưa hồn ta về với mùa thu quê hương Người câu cá đang sống trong một tâm trạng cô đơn và lặng lẽ buồn Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao đáng trọng
Kết luận
Xuân Diệu đã hết lời ca
ngợi cái điệu xanh trong Thu điếu Có xanh ao, xanh sóng, xanh trời, xanh tre, xanh bèo… và chỉ có một màu vàng của
chiếc lá thu “đưa vèo” Cảnh đẹp êm đềm, tĩnh lặng mà man mác buồn Một tâm thế nhàn và thanh cao gắn bó với mùa thu quê hương, với tình yêu tha thiết Mỗi nét thu là một sắc thu tiếng thu gợi tả cái hồn thu đồng quê thân thiết Vần thơ: “veo - teo - vèo
- teo – bèo”, phép đối tạo nên sự hài hoà cân xứng, điệu thơ nhẹ nhàng bâng khuâng… cho thấy một bút pháp nghệ thuật vô cùng điêu luyện, hồn nhiên – đúng
là xuất khẩu thành
chương Thu điếu là một
bài thơ thu, tả cảnh ngụ tình tuyệt bút
Thu ẩm
Nguyễn Khuyến
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe
Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy
Độ năm ba chén đã say nhè
Lời bình
Rượu , hoa, trăng… là những thú tiêu khiển thanh cao của các tao nhân mặc khách xưa
nay Bài thơ “Nâng chén, hỏi trăng” của Lý
Bạch được nhiều người yêu thích:
“… Người nay chẳng thấy trăng thời trước, Người trước, trăng nay
Trang 2soi đã từng
Người trước, người nay
như nước chảy
Cùng xem trăng sáng
đều thế đấy
Chỉ ước vui ca thưởng
chén quỳnh
Be vàng, trăng sáng vào
rọi mãi”
(Tương Như dịch)
Tam nguyên Yên Đổ
cũng có nhiều câu thơ
rất đậm đà ý vị nói về
rượu
- “Khi vui chén rượu say
không biết
Ngửa mặt lờ mờ ngọn
núi xa.”
(Cáo quan về ở nhà)
- “Em cũng chẳng no mà
chẳng đói
Thung thăng chiếc lá,
rượu lưng bầu”
(Lụt hỏi thăm bạn)
- “Rượu ngon không có
bạn hiền,
Không mua không phải
không tiền không
mua”…
Và còn có Thu ẩm - mùa
thu; uống rượu
Hình ảnh trung tâm của
bài thơ là “Mắt lão
không vầy cũng đỏ
hoe” Câu thơ đã diễn tả
trạng thái ngà ngà say…
đến “say nhè”: “Rượu
tiếng rằng hay hay chả
mấy - Độ năm ba chén
đã say nhè” “Say nhè”
là say êm, say nhẹ, say
rồi ngủ quên đi lúc nào
chẳng biết Chẳng phải
là say bét nhè, bê tha
Nguyễn Khuyến rất
thanh cao, chỉ có “năm
ba chén” nhỏ, đúng là
cái thú “khi vui chén
rượu say không biết”,
hoặc “Khi hứng uống
thêm dăm chén rượu -
Khi buồn ngâm láo một
câu thơ” (Đại lão)
Sáu câu thơ đầu thì 5 câu
đều có màu sắc, thể hiện
một cái nhìn đêm thu lúc
ngồi uống rượu một
mình Có màu đen thẫm
mịt mùng của đêm sâu
“ngõ tối” Có ánh sáng
“lập lòe” của bầy đom
đóm Có sắc trắng mờ
của “màu khói nhạt” nhẹ
bay “phất phơ” trên lưng
giậu cúc tần quanh năm
gian nhà cỏ bình dị Có
màu vàng của “bóng
trăng loe” tan ra “lóng
lánh” trên làn ao “gợn
tí” trong veo Có da trời
màu “xanh ngắt” rất đẹp
Và sắc “đỏ hoe” của đôi
mắt ông lão, của thi nhân
đang uống rượu âm
thầm
Cảnh vật có đường nét
cao, thấp, xa, gần, mỏng
và nhẹ Độ “thấp le te”
của ngôi nhà cỏ 5 gian
Độ “sâu” của đêm
khuya và “ngõ tối” nơi
làng quê vùng đồng
chiêm trũng Độ nhẹ vờn
bay “phất phơ” của màu
khói nhạt Chiều đo thấp
của “lưng giậu”, nét gợn
của “làn ao”, vòng tròn
của “bóng trăng loe”
trên mặt ao, độ xa, cao,
rộng của bầu trời, chân
trời, độ hõm của đôi mắt
lão “đỏ hoe” đã “say nhè” Màu sắc ấy, đường nét ấy qua cái nhìn chập chờn, tỉnh say say tỉnh của nhà thơ Màu sắc đường nét ấy là màu sắc
của tâm tưởng, là đường nét của tâm trạng Còn
đâu nữa chén rượu tri âm của đôi bạn “đăng khoa ngày trước”:
“Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân”…?
Nay nhà thơ chỉ còn uống rượu trong “đêm sâu”, âm thầm, lặng lẽ
và cô đơn Cao Bá Quát nửa đầu thế kỷ 19 chỉ
“uống rượu tiêu sầu”
Còn Nguyễn Khuyến,
“đêm thu nay” uống rượu cho vợi đi nỗi buồn thế sự “rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”
Uống rượu để thao thức, thao thức nên uống rượu
để quên đi nỗi đau cuộc đời: “Có phải tiếc xuân
mà đứng gọi - Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ”
(Cuốc kêu cảm hứng)
Vợ chết, con mất, bạn chí thân qua đời, tuổi già, yếu đau, Nguyễn Khuyến mược “năm ba chén” rượu để vợi đi ít nhiều cô đơn:
“Đời loạn đi về như hạc độc,
Tuổi già hình bóng tựa mây côi”
(Gửi bạn) Hình như chén rượu của nhà thơ đã tràn đầy nước mắt? Hai câu kết ý tại ngôn ngoại Thấm một nỗi buồn mênh mông
Người đọc vô cùng xúc động khi nhìn thấy nhà thơ “say nhè” nằm ngủ:
“Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy
Độ năm ba chén đã say nhè”
Cả bài thơ, ngoài đầu đề
“Thu ẩm” ra, chẳng có một chữ thu nào nữa, thế
mà câu thơ nào cũng
chứa đựng một tình thu
và hồn thu man mác, dào dạt Đó là chất thi vị độc đáo của bài thơ này Các
từ láy: le te, lập loè, phất phơ, long lanh…, với các từ rượu, chén, say nhè - cho thấy nghệ
thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến vô
cùng tinh luyện, hình tượng và biểu cảm.
Trước Nguyễn Khuyến gần 500 năm Nguyễn Trãi có câu thơ:
“Sách một hai phiên làm bậu bạn,
Rượu năm ba chén đổi công danh”
(Tự thán - 10) Sau khi Nguyễn Khuyến mất gần nửa thế kỷ, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng
có câu thơ nói về rượu:
“Du kích quy lai tửu vị tàn” - Thu dạ, 1948
Đó là những chén rượu một thời, cũng là những chén rượu một đời Chén rượu của các thi nhân -
chén rượu thanh cao và sang trọng
Thương vợ
Tú Xương
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không
Tác giả
Tú Xương là bút danh của Trần Tế Xương Học
vị tú tài, lận đận mãi trong con đường khoa cử: “Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”, chỉ sống 37 năm, nhưng
sự nghiệp thơ ca của ông thì bất tử Quê ở làng Vị Xuyên, thành phố Nam Định “Ăn chuối ngự, đọc thơ Xương” là câu nói tự hào của đồng bào quê ông
Tú Xương để lại khoảng
150 bài thơ nôm, vài bài phú và văn tế Có bài trào phúng Có bài trữ tình Có bài vừa trào phúng vừa trữ tình
Giọng thơ trào phúng của Tú Xương vô cùng cay độc, dữ dội mà xót
xa Ông là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học cận đại của dân tộc
Chủ đề
Bài thơ ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người vợ, của người phụ
nữ đảm đang chịu thương chịu khó vì chồng con
Hình ảnh bà Tú, người
vợ hiền thảo
- Câu 1, 2 giới thiệu bà
Tú là một người đàn bà giỏi buôn bán, tần tảo
“quanh năm”, buôn bán kiếm sống ở “mom sông”, cảnh đầu chợ, bến
đò, buôn thúng bán mẹt
Chẳng có cửa hàng cửa hiệu Vốn liếng chẳng có
là bao Thế mà vẫn
“Nuôi đủ năm con với một chồng?” Chồng đậu
tú tài, chẳng là quan cũng chẳng là cùng đinh nên phải “ăn lương vợ”
Một gia cảnh “Vợ quen
dạ để cách năm đôi”
Các số từ: “năm” (con),
“một” (chồng) quả là đông đúc Bà Tú vẫn cứ
“nuôi đủ”, nghĩa là ông
Tú vẫn có “giày giôn anh dận, ô Tây anh cầm”,… Câu thứ 2 rất hóm hỉnh
- Câu 3-4 mượn hình ảnh
con cò trong ca dao, tạo
thành “thân cò” - thân phận lam lũ vất vả, “lặn lội” Cò thì kiếm ăn nơi đầu ghềnh, cuối bãi, bà
Tú thì lặn lội… khi
quãng vắng, nơi mom sông Cảnh lên đò xuống
bến, cảnh cãi vã, giành giật bán mua “eo sèo mặt nước buổi đò đông”
để kiếm bát cơm manh
áo cho chồng, con Hình ảnh “thân cò” rất sáng tạo, vần thơ trở nên dân
dã, bình dị Hai cặp từ láy: “lặn lội” và “eo sèo”
hô ứng, gợi tả một cuộc đời nhiều mồ hôi và nước mắt
- Câu 5, 6, tác giả vận dụng rất hay thành ngữ:
“Một duyên hai nợ” và
“năm nắng mười mưa”
Ba tiếng đối ứng thượng, hạ: “âu đành phận”,
“dám quản công” như một tiếng thở dài Có đức hy sinh Có sự cam chịu số phận Có cả tấm lòng chịu đựng, lo toan
vì nghĩa vụ người vợ, người mẹ trong gia đình
Tú Xương có tài dùng số
từ tăng cấp (1-2-5-10) để nói lên đức hy sinh thầm lặng cao quý của bà Tú:
“Một duyên hai nợ/âu
đành phận,
Năm nắng mười
mưa/dám quản công”
Tóm lại, bà Tú là hiện thân của cuộc đời vất vả lận đận, là hội tụ của bao đức tính tốt đẹp: tần tảo, gánh vác, đảm đang, nhẫn nại,… tất cả lo toan cho hạnh phúc chồng con Nhà thơ bộc lộ lòng cảm ơn, nể trọng
Nỗi niềm nhà thơ
- Câu 7 là một tiếng chửi, đúng là cách nói của Tú Xương vừa cay đắng vừa phẫn nộ: “Cha
mẹ thói đời ăn ở bạc”
“Cái thói đời” đó là xã hội dở Tây dở ta, nửa phong kiến nửa thực dân: đạo lý suy đồi, lòng người đảo điên Tú Xương tự trách mình là
kẻ “ăn ở bạc” vì thi mãi chẳng đỗ, chẳng giúp được ích gì cho vợ con
Suốt đời vợ con phải khổ, như có bài thơ ông
tự mỉa: “Vợ lăm le ở vú
- Con tập tểnh đi bộ - Khách hỏi nhà ông đến - Nhà ông đã bán rồi”
- Câu 8 thấm thía một nỗi đau chua xót Chỉ có
Tú Xương mới nói được rung động và xót xa thế:
“Có chồng hờ hững cũng như không” “Như không” gì? Một cách nói buông thõng, ngao ngán
Nỗi buồn tâm sự gắn liền với nỗi thế sự Một nhà nho bất đắc chí!
Kết luận
Bài thơ có cái hay riêng
Hay từ nhan đề Hay ở cách vận dụng ca dao, thành ngữ và tiếng chửi
Chất thơ mộc mạc, bình
dị mà trữ tình đằm thắm
Trong khuôn phép một
bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, từ thanh điệu, niêm đến phép đôi được thể hiện một cách chuẩn mực, tự nhiên, thanh thoát Tác giả vừa
tự trách mình vừa biểu
lộ tình thương vợ, biết
ơn vợ Bà Tú là hình ảnh đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam trong một gia đình đông con, nhiều khó khăn về kinh tế Vì thế nhiều người cho rằng
câu thơ “Nuôi đủ năm con với một chồng” là
câu thơ hay nhất trong
bài “Thương vợ”.
Hương Sơn phong cảnh ca
Chu Mạnh Trinh
1- Bầu trời cảnh bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây
Đệ nhất động hỏi là đây có phải
2- Thỏ thẻ Rừng Mai chim cúng trái
Lửng lơ Khe Yến cá nghe kinh,
Thoảng bên tai một tiếng chày kình,
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng
3- Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh
Nhác trông lên ai khéo
vẽ hình,
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
4- Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt, Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây
Chừng giang sơn còn đợi ai đây,
Hay tạo hóa khéo ra tay xếp đặt
5- Lần tràng hạt niệm nam mô Phật
Cửa từ bi công đức biết là bao!
Càng trông phong cảnh càng yêu
Xuất xứ, bố cục, chủ đề
1 Chu Mạnh Trinh
(1862 - 1905) hiệu là Trúc Vân, quê ở tỉnh Hưng Yên Đậu tiến sĩ, nổi tiếng tài hoa Hội họa, kiến trúc, âm nhạc đều tài giỏi Là nhà thơ, nổi tiếng với những bài vịnh Kiều - Từng vẽ kiểu trùng tu chùa Thiên Trù ở Hương Tích Bài thơ “Hương Sơn phong cảnh ca” là bài thơ hay nhất viết về Hương Sơn, nơi có động Hương Tích
- Nam thiên đệ nhất động
2 Bố cục: bài hát nói
dôi 2 khổ
- Khổ đầu (1): giới thiệu khái quát cảnh Hương
Sơn
- Khổ giữa (2): cảnh Rừng Mai, Khe Yến…
huyền diệu
- Khổ dôi (3, 4): những suối, chùa, hang, động…
nơi Hương Sơn
- Khổ xếp (5): nỗi lòng của khách hành hương
3 Chủ đề:
Ca ngợi cảnh sắc Hương Sơn - Nam thiên đệ nhất động - cảnh đẹp đượm mùi Thiền
Phân tích
1 Cảnh Hương Sơn tả
khái quát từ xa Thiên nhiên nhuốm màu sắc Phật giáo: Cảnh trí hùng vĩ: non, nước, mây trời
là vẻ đẹp riêng “bầu trời cảnh bụt” Du khách vui thú ngạc nhiên thốt lên
tự hỏi: “Đệ nhất động hỏi là đây có phải?”
Đầy xúc động, tự hào
2 Rừng Mai và Khe Yến
là 2 cảnh đẹp tiêu biểu của Hương Sơn Chim
hót “thỏ thẻ”, gọi bầy,
mổ trái mơ vàng ăn:
“Chim cúng trái” Cá
lửng lơ bơi lượn nơi Khe Yến: cá nghe kinh Hình
ảnh ẩn dụ, với đường nét, âm thanh gợi cảm mùi Thiền Cặp câu đối nhau rất tài hoa:
“Thỏ thẻ Rừng Mai, chim cúng trái, Lửng lơ Khe Yến cá nghe kinh”
Chuông chùa xa “thoảng bên tai một tiếng chày kình” như rũ sạch bụi trần, làm tiêu tan cơn ác mộng của du khách - khách tang hải Vần thơ:
tiếng “kình” với “giật mình”, âm điệu du
dương, huyền diệu
3 Hai khổ dôi
+ Bốn cảnh đẹp điển hình Chữ “này” - từ để trỏ gần, nhịp 4 cân xứng hài hòa Du khách ngắm nhìn không chán “cảnh Bụt”:
“Này suối Giải Oan / này chùa Cửa Võng Này am Phật Tích / này động Tuyết Quynh.”
+ Lấy gấm dệt để so sánh với nhũ đá trong hang động, “long lanh”, tưởng như có bóng nguyệt lồng vào Có
hang “thăm thẳm”…, là lối “gập gềnh” như uốn
lượn “thang mây” Vẻ đẹp mộng ảo, thần tiên
Du khách ngỡ ngàng tự hỏi:
“Chừng giang sơn còn đợi ai đây, Hay tạo hóa khéo ra tay xếp đặt.”
Niềm “ao ước” đến Hương Sơn cũng là tình yêu giang sơn, là sự hòa nhập vào thế giới thần tiên huyền diệu Bốn chứ
“còn đợi ai đây” biểu lộ
niềm tự hào của nhà thơ
- là người đã vẽ kiểu và
tổ chức trùng tu chùa Thiên Trù, góp phần cùng “tạo hóa” làm đẹp thêm cảnh Hương Sơn
Tám câu trong 2 khổ dôi
rất đẹp và thú vị: sử dụng điệp nhữ (này), ẩn
dụ, so sánh (long lanh như gấm dệt; thang mây), từ láy tượng thanh, tượng hình (long lanh, thăm thẳm, gập ghềnh) Vần thơ trầm bổng, du dương Thể hiện lòng yêu mến, tự hào đối với “Nam thiên
đệ nhất động”
4 Khổ xếp (ba câu
cuối):
Cảm xúc của du khách: Xúc động thành kích tụng niệm Ngợi ca và biết ơn Phật tổ: “Cửa từ
bi công đức biết là bao!” Đi xa dần, nhìn lại, lưu luyến đầy say mê: “Càng trông phong cảnh càng yêu” Cảm hứng thiên nhiên chan hòa với lòng tín ngưỡng Phật giáo Chu Mạnh Trinh đã nói lên thật hay
và hồn nhiên tình cảm ấy của du khách khi đi lễ hội Chùa Hương
Kết luận
Ngòi bút tài hoa Miêu tả cảnh sắc Hương Sơn rất đẹp, vẻ đẹp thiên nhiên với suối, am, chùa, động… đượm mùi Thiền
mà thoát tục Các nét vẽ rất điển hình mang cái hồn của “bầu trời cảnh bụt” Hình ảnh đẹp - vẻ đẹp thần tiên Người đọc như cảm thấy Hương Sơn hiển hiện Chất thơ, chất nhạc du dương tạo
nên nét tài hoa và giá trị thẩm mĩ bài hát nói này Nhà thơ như mời
gọi chúng ta đi trẩy hội chùa Hương, để thỏa lòng “ao ước bấy lâu nay”
Tóm tắt vở kịch "Âm mưu và tình yêu" Tác giả
Sile (1759-1805) là kịch
tác gia vĩ đại, “viên công
tố của toàn nhân loại đã kêu gọi loài người cùng hướng về trời sao” Cùng với Gớt, Sile là một trong hai ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Đức thế kỷ 18 Tác phẩm kịch gồm có:
Những tên cướp (1780),
Âm mưu và tình yêu (1784), Người thiếu nữ
ở Orlêăng (1801),
Vinhem Ten (1804),…
Sile đã xây dựng thành công những vở kịch có xung đột dữ dội, những nhân vật, tính cách điển hình thể hiện mãnh liệt
khát vọng tự do và tinh thần bất khuất chống cường quyền bạo lực.
Tóm tắt vở kịch “Âm mưu và tình yêu”
Vở kịch có 5 hồi bằng văn xuôi
Luizơ là con gái nhạc công Mile yêu thiếu tá Fecđinăng là con trai Tể
Trang 3tướng Fôn Vante Phu
nhân Minfo là tình nhân
của Công tước nay đã bị
Công tước chán bỏ Tể
tướng bắt ép thiếu tá
phải kết duyên cùng phu
nhân Minfo để lấy lòng
Công tước Fecđinăng
gặp Minfo nói cho phu
nhân biết là chàng đã có
người yêu là nang Luizơ,
cô vô cùng xấu hổ Tể
tướng làm nhục Luizơ,
gọi nàng là con đĩ, mạt
sát ông bà Minle Tể
tướng và thiếu tá đấu
khẩu dữ dội Thiếu tá
kiếm tuốt trần, đâm bị
thương một số nhân viên
pháp đình
Đổng lí Vuôm hiến kế
bắt giam ông bà Mile
Muốn cứu bố mẹ, Luizơ
phải viết một bức thư
tình gửi cho Thị vệ
trưởng Fôn Canbơ do
chúng đọc Chúng đưa
bức thư tình ấy cho
Fecđinăng Fecđinăng
thách Thị vệ trưởng đấu
súng làm cho hắn vô
cùng sợ hãi Đau khổ…
Fecđinăng pha thuốc độc
bắt người yêu cùng mình
uống Uống xong thuốc
độc, Luizơ mới nói ra sự
thật đau lòng! Cùng lúc
ấy, Tể tướng phải nộp
mình cho nhân viên pháp
đình
Hồi hai: Ngang trái
1 Xung đột diễn ra dữ
dội tại nhà nhạc công
Mile
Luizơ bị Tể tướng sỉ
nhục đã ngất đi
Fecđinăng đỡ lấy người
yêu rồi kêu lên hoảng
hốt: “Cứu nàng với,
nàng sợ hãi ngất đi rồi!”
Trong lúc đó, nhạc công
Mile nắm lấy gậy, căm
giận nhìn Tể tướng, bà
Mile vô cùng sợ hãi, quỳ
sụp xuống chân Tể
tướng Tể tướng ra lệnh
bắt giam Luizơ: “Bắt lấy
nó, dù nó ngất hay tỉnh
Khi nào vòng sắt gông
vào cổ nó rồi, người ta
sẽ dùng đá ném cho nó
tỉnh lại” Bà Mile cất
tiếng kêu van, trái lại,
ông nhạc công Mile thì
giận dữ khinh bỉ gọi Tể
tướng và các nhân viên
pháp đình là “lũ vô lại”
2 Cuộc đấu khẩu dữ
dội giữa hai cha con -
Thiếu tá và Tể tướng.
- Tể tướng ra lệnh cho
các nhân viên pháp đình
bắt Luizơ Thiếu tá bảo
vệ người yêu, tuốt kiếm
Nhân viên pháp đình sợ
hãi lùi ra, lại xông vào
Thiếu tá đâm bị thương
vài tên
Thiếu tá cầu xin Tể
tướng “đừng dồn ép con
thêm nữa” Lại cầu xin:
“… đừng dồn ép con
đến chỗ cùng đường cha
ơi!” Tể tướng mắng
nhiếc bọn nhân viêc
pháp đình là “quân tôi
đòi hèn mạt”, tự tay túm
lấy Luizơ, giao cho một
tên nhân viên pháp đình,
đồng thời thách thức
Thiếu tá: “Tao muốn
xem liệu chính ta có phải
nếm lưỡi kiếm này
không?”
- Vấn đề đạo lý được đặt ra: liệu con có dám đâm cha để bảo vệ người yêu hay không? Xung đột kịch diễn biến đến cao trào
- Thiếu tá mạt sát Tể tướng:… “Thượng đế đã lầm, đã lẫn chọn tên đao phủ đê hèn lên làm Tể tướng mạt hạng” Không chỉ là con lên án cha mà
đó là tiếng nói nhân danh công lý và nhân dân lên án bạo quyền, lên án một xã hội - phong kiến cát cứ - đã lỗi thời
- Fecđinăng dọa: “Nếu nàng lên giá nhục hình, nhưng là cùng với Thiếu
tá con trai Tể tướng…” - Một sự ngập ngừng đầy tính kịch Và Tể tướng châm biếm: “Tức thì cuộc trừng bày sẽ càng thú vị!” Kiên quyết ra lệnh bắt Luizơ: “Lôi nó đi!”
- Lại van xin! Tất cả vì tình yêu mà Fecđinăng vẫn chưa tìm được, chưa lựa chọn được cách ứng
xử Một mặt chàng quyết dùng thanh kiếm sĩ quan (danh dự và quyền lực)
mà “che phủ cho người thiếu nữ này”; mặt khác lại van xin một chút tình cha con nào đó còn sót lại trong lòng Tể tướng:
- “Cha vẫn cương quyết ư?” - Xung đột càng trở nên dữ dội, khi Tể tướng vừa châm biếm vừa ra lện: “Lên giá nhục hình
mà mang kiếm bên mình thì chẳng hợp chút nào… Lôi nó lôi nó đi,
đi, chúng mày rõ ý tao rồi đấy!”
3 Có thể xem đây là
“bước đột biến” của Hồi hai này!
Lưỡi kiếm lại xuất hiện, tiếng nói của Fecđinăng càng quyết liệt hơn
Giằng lấy Luizơ từ tay nhân viên pháp đình, ôm lấy Luizơ, chĩa lưỡi kiếm vào nàng và nói:
“Thà tôi đâm lưỡi kiếm này qua xác vợ tôi còn hơn nhìn nàng bị cha sỉ nhục!” - Từ người yêu, Luizơ đã trở thành vợ, Thiếu tá khẳng định quyết tâm bảo vệ người yêu của mình Tể tướng vẫn thách thức Xung đột kịch càng trở nên quyết liệt: “Đâm đi, nếu mũi kiếm của mày còn
đủ nhọn!” Đó là sự thách thức của cường quyền! Tể tướng muốn
ép con trai mình kết duyên cùng phu nhân Minfo Trở lực lớn nhất
là tình yêu của Luizơ
Phải bắt nàng để triệt phá, để thực hiện “âm mưu” và để tấn công bề trên, đó là Công tước!
Cái ác đi kèm cái hèn hạ,
sự đê tiện và sỉ nhục, đó
là nhân cách của Tể tướng, và buồn thay, đó còn là một người cha - một người cha đã bán mình cho quỷ dữ
4 “Bước mở nút” -
xung đột được đẩy lên
đến đỉnh điểm rồi chùng lại, mâu thuẫn được giải quyết Cử chỉ Fecđinăng buông Luizơ, ngước mắt nhìn trời ghê gớm Thiếu
tá độc thoại Chàng cầu đến Chúa Sức chịu đựng của một con người
đã vượt quá giới hạn và chỉ một cách “dùng đến thủ đoạn của loài ma quỷ!” Sẵn sàng trả giá,
và thách thức: “Được các người cứ đưa nàng lên giá nhục hình đi!”
Như một cú đánh trời giáng khi Fecđinăng thét vào tai Tể tướng: “Ta sẽ
đi kể cho tất cả cung điện này nghe một câu chuyện nhan đề là:
Người ta đã leo lên ghế
Tể tướng bằng cách nào!” Như bị sét đánh,
Tể tướng sụp đỏ Như loài ma quỷ sợ ánh sáng
Hắn đã kinh hoàng kêu lên: “Thế là thế nào, Fecđinăng! Hắn ra lệnh:
buông con bé ra!” rồi chạy theo Thiếu tá
Kết luận
Nhạc công Mile xuất thân bình dân và Fecđinăng xuất thân quyền quý đã dũng cảm
và ngoan cường chống bạo quyền vì khát vọng
tự do và hạnh phúc Hồi hai đầy kịch tính Có lúc
ta xúc động về lưỡi kiếm của Fecđinăng sẽ vang lên, hoặc là đâm chết người yêu và tự sát, hoặc
là đâm vào Tể tướng Và thật thú vị, bạo quyền đã
bị đánh gục chỉ bằnh một câu nói mạnh như sấm sét Tình yêu làm nên sức mạnh phi thường
Xung đột dữ dội Chỉ một hồi kịch ngắn, ta vần tìm ra năm bước như
một vở kịch: giao đãi, phát triển, cao trào, đột biến và mở nút Và đó là
nét đặc sắc của kịch Sile
và kịch cổ điển Đức trong thế kỷ 18
Đoạn văn “Đám tang lão Gôriô”
Tác giả
Banzăc (1799 - 1850) là
nhà tiểu thuyết Pháp nổi tiếng, “một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực”
Ông đã sáng tạo ra bộ
“Tấn trò đời” đồ sộ, bất
hủ gồm 87 tác phẩm với trên 2000 nhân vật
Miếng da lừa (1871), Ơgiêni Grăng đê (1833), Lão Gôriô (1834), Ảo mộng tiêu tan (1837 -
1843),… là những kiệt tác của Banzăc
Bằng ngòi bút chân thực,
cụ thể lịch sử, Banzắc đã xây dựng hàng loạt tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển
hình Qua bộ Tấn trò đời, tác giả đã phê phán
xã hội tư sản, vì nó như một tấn hài kịch, trong
đó đồng tiền tác oai tác quái, gây ra biết bao bi
kịch đau lòng
Phân tích đoạn văn
“Đám tang lão Gôriô”
1 Lão Gôriô xưa kia
nhờ buôn bán lúa mì mà giàu có Nhưng hai “ái nữ” của lão đã bòn rút đến đồng vàng cuối cùng Cuối đời lão sống
cô đơn, nghèo khổ trong cái quán trọ tồi tàn của
mụ Vôke Lão chết năm
69 tuổi Không một người thân thích Người
ta đã tháo đinh quan tài, đặt lên ngực lão “cái hình ảnh” của hai cô con gái yêu thương của lão khi chúng nó “còn bé bỏng, đồng trinh và trong trắng…” - Một chi tiết hiện thực vô cùng chua chát nói lên sự vô tình, bạc bẽo của hai đứa con gái lấy chồng giàu sang
2 Chỉ có Raxtinhăc và
Crixtôphơ (hai người cùng ở chung nơi quán trọ) cùng với hai gã đô tuỳ đưa lão đến ngôi nhà thờ Thánh - Êchiên-đuy-Mông Xác chết của kẻ nghèo khó được đặt trước một giáo đường
nhỏ, thấp và tối Tang lễ
sơ sài, qua quýt mất 20 phút với cái giá 70 quan
do hai vị linh mục, chú
bé hát lễ và người bõ nhà thờ Tang lễ qua quýt thế thôi, rẻ rúng thế thôi, bởi lễ “trong một thời kỳ mà tôn giáo không lấy gì làm giàu lắm để cầu kinh làm phúc” Như vậy là, Thánh đường, linh mục, tang lễ… đều được cân,
đo, đong, đếm bằng tiền
Bốn người có mặt trong tang lễ cũng vì tiền mà đến Crixtôphơ vì nghĩa vụ” mà anh ta đến đưa đám, vì lão Gôriô chết
“đã làm cho anh ta kiếm được mấy món tiền đãi công kha khá”
3 Không có người đưa đám, lại đã năm giờ rưỡi rồi, xác chết lão
Gôriô được chở nhanh đến nghĩa địa, lúc ấy có hai chiếc xe có treo huy hiệu nhưng không có người ngồi, một của bá tước Đơ Rextô, và một của nam tước Đơ Nuyxinghen theo sau chiếc xe tang đến nghĩa địa! Dù là con gái, nhưng nay đã trở thành mệnh phụ rồi, không thể
đi đám ma một kẻ nghèo khó, hèn mọn! Một nét
vẽ sâu sắc lên án tình đời bạc bẽo!
4 Cảnh hạ huyện vội vội
vàng vàng Bài kinh ngắn cầu cho kẻ xấu số
do chàng sinh viên trả tiền (như một sự bố thí)
Người nhà hai cô con gái
và đám người nhà đạo
biến ngay! Hai dã đào
huyệt mới hất được vài xẻng đất xuống che lấp chiếc áo quan thì ngẩng đầu lên đòi tiền đãi
công! “Ơ gien móc túi thấy không còn đồng nào, chàng buộc phải vay Crixtôphơ 20 xu”
Cái món nợ này lại ghi vào số nợ của người xấu
số ngày một thêm chồng chất! Ai sẽ trả cho lão Gôriô?
Cảnh nghĩa địa là “ngày tàn, một buổi hoàng hôn
ẩm ướt” trên bầu trời có những đám mây Trong
cái khung cảnh buồn bã
ấy, Raxtinhăc “não lòng ghê gớm”… “giọt nước mắt tràn ra…” Đây là giọt nước mắt duy nhất trong đám tang lão Gôriô
Kết luận
Một đám tang của kẻ già nua, cô đơn và nghèo hèn Số tiền làm lễ ở nhà thờ, tiền đọc kinh cầu nguyện lúc hạ huyệt, tiền đãi công phu đào huyệt,
và tiền thuê đòn đám ma
- bấy nhiêu khoản tiền,
ai bố thí cho lão Gôriô? Cha cố và con chiên, cha
và con,… tất cả đều vì tiền Bằng những chi tiết chân thực, cụ thể, Banzăc đã là hiện lên một đám tang của kẻ nghèo hèn trong cái xã hội kim tiền, tình đời đen bạc Chúng ta hãy đọc lên vần thơ này để ai điếu lão Gôriô bất hạnh:
“… Ai chết đó? Trục xoay và bánh đẩy,
Xe tang đi
về tận thế giới nào?
Chiều đông tàn, lạnh xuống tự trời cao,
Không lửa
ấm, chắc hồn buồn lắm đó…”
(“Nhạc sầu”
- Huy Cận)