Nhân trung bạch là cặn của nước tiểu phơi khô.. Vị thuốc này đã được sử dụng từ xa xưa... Theo tài liệu cổ, nhân trung bạch vị mặn tính bình, mùi khai, không độc.. Thường dùng trị những
Trang 1Trị mồ hôi chân
Trang 2Nhân trung bạch là cặn của nước tiểu phơi khô Vị thuốc này đã được sử dụng từ
xa xưa
Trang 3
Theo tài liệu cổ, nhân trung bạch vị mặn tính bình, mùi khai, không độc Vào 3
kinh: can, tam tiêu và bàng quang Có tác dụng thanh nhiệt, giáng hỏa, khứ ứ, cầm
máu Thường dùng trị những bệnh: cổ họng sưng đau, chảy máu cam, thiên đầu
thống, đau răng đau lợi, loét lưỡi, loét niêm mạc, cam tẩu mã, ho do phế nhiệt
Liều dùng: ngày dùng 4 - 7g dưới dạng thuốc sắc hoặc tán bột Dùng ngoài liều
lượng có thể tăng lên Có thể dùng độc vị hoặc phối hợp cùng những vị khác
Nhân trung bạch được dùng làm thuốc chữa bệnh trong các trường hợp:
Trị loét lưỡi: Nhân trung bạch 0,5g, nung kỹ tán bột, để riêng Lá đinh lăng (dùng
lá non) 15g, bỏ vào cối giã nhỏ Hai thứ trộn đều, đưa miếng thuốc vào miệng
ngậm lại, sau ít phút thì nhổ đi
Bài thuốc uống: nhân trung bạch 4g, hoàng liên 10g, lạc tiên 12g, bồ công anh
12g, hạt muồng (sao) 10g, liên nhục 12g, tang diệp 15g Sắc uống ngày 1 thang
Công dụng: tả tâm hỏa, chống viêm
Trang 4Trị cam tẩu mã: Nhân trung bạch 1g nung đỏ, sau đó tán bột, lấy mật ong 10ml
Hai thứ trộn đều, dùng thuốc này bôi vào nơi cam tẩu mã Trước khi bôi thuốc lấy
lá tía tô nấu nước rửa sạch nơi bị tổn thương
Trị dưới bàn chân bị rỗ (còn gọi hà), ra mồ hôi, đau buốt: nhân trung bạch sao
kỹ tán bột, rắc vào
Trị ho khan do phế nhiệt, hơi thở nóng: nhân trung bạch 4g (sao kỹ), bạch mao
căn 16g, cát cánh 12g, mạch môn 12g, rau dấp cá 16g, tang diệp 16g, lá xương
sông 16g, rau má 16g, cam thảo bắc 12g Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần