Tuy nhiên qua thực tế giảng dạy nhiều năm, việc rèn cho học sinh tiểu học giải tốt các bài toán có lời văn nâng cao là công việc khó, đòi hỏi giáo viên có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc
Trang 1
I Lý do chọn đề tài
Chương trình môn Toán lớp 2 là một bộ phận của chương trình môn Toán
ở Tiểu học, có vị trí quan trọng cho chương trình môn Toán ở các lớp tiếp theo Việc giúp học sinh lớp 2 làm tốt các bài toán có lời văn sẽ là tiền đề thuận lợi để các em học tốt môn Toán và các môn học khác trong những năm sau đó
Tuy nhiên qua thực tế giảng dạy nhiều năm, việc rèn cho học sinh tiểu học giải tốt các bài toán có lời văn nâng cao là công việc khó, đòi hỏi giáo viên có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc mới góp phần nâng cao chất lượng dạy học nội
dung này Từ những lý do nêu trên, tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp: “Bồi dưỡng giải toán có lời văn lớp 2”
1 Nhiệm vụ cá nhân:
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa Toán 2
- Nghiên cứu những dạng toán hay, dạng toán khó để học sinh có điều kiện rèn luyện từ đó hình thành phương pháp suy luận, phương pháp giải toán cho các em
- Tìm hiểu thực trạng dạy toán có lời văn, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn
2 Thực trạng:
Qua nghiên cứu nội dung chương trình và thực tế giảng dạy trên lớp, khi dạy học những bài toán có lời văn nâng cao, giáo viên và học sinh còn một số tồn tại:
- Học sinh đọc được đề bài nhưng chưa hiểu nội dung trong đề, chưa biết cách tìm hiểu bài toán có lời văn như: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?,
Và viết phép tính lẫn lộn từ phép tính này sang phép tính khác, do chưa hiểu các thuật ngữ
- Trong thực tế giảng dạy, giáo viên chỉ chú trọng hướng dẫn học sinh làm hết các bài tập sách giáo khoa mà chưa bồi dưỡng các bài toán dạng nâng cao nên khi gặp dạng toán này các em thường gặp khó khăn
Giải quyết được các vấn đề nêu trên thì kết quả dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 sẽ tốt hơn rất nhiều
II Những giải pháp đã thực hiện:
Để giúp học sinh làm tốt các bài toán có lời văn Tôi đã tiến hành như sau:
Trang 21.1 Phân tích tìm hiểu nội dung và tóm tắt bài toán
Trước hết, tôi tổ chức hướng dẫn cho học sinh đọc kĩ đề bài, tập trung chú
ý đến yêu cầu của bài toán, xác định đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm Tôi lưu ý các em cần nắm rõ những gì thuộc về bản chất của bài toán, những gì không thuộc về bản chất của bài toán để hướng sự chú ý vào những chỗ cần thiết
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì tôi hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm
Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì tôi cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi
Dùng câu hỏi gợi mở, giúp học sinh thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho
và cái cần tìm bằng cách tóm tắt bài toán dưới dạng sơ đồ, hình vẽ hoặc ngôn ngữ ngắn gọn Đây là bước quan trọng để biết phần trọng tâm và những cái phải tìm của đề bài
Ví dụ 1: Nếu Hương vẽ thêm 253 hình tròn thì Hương sẽ vẽ được 598 hình tròn Hỏi Hương đã vẽ được bao nhiêu hình tròn?
- Tôi cho học sinh đọc bài toán và đặt câu hỏi tìm hiểu bài:
+ Bài toán cho biết gì? (Hồng vẽ thêm 253 hình tròn)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Hồng sẽ vẽ được 598 hình tròn)
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? (Hồng đã vẽ được bao nhiêu hình tròn?)
- Tôi cho học sinh gạch chân dữ kiện, yêu cầu của bài toán: Nếu Hồng vẽ
thêm 253 hình tròn thì Hồng sẽ vẽ được 598 hình tròn Hỏi Hồng đã vẽ được bao nhiêu hình tròn?
- Hướng dẫn học sinh hoàn thiện tóm tắt của bài toán:
Tóm tắt
Hồng vẽ thêm: 253 hình tròn
Hồng vẽ được: 598 hình tròn
Hồng đã vẽ được : hình tròn?
- Cho học sinh diễn đạt bài toán qua tóm tắt
Ví dụ 2: Muốn đi từ tỉnh A đến tỉnh C phải đi qua tỉnh B Quãng đường
từ tỉnh A đến tỉnh C dài 226km, quãng đường từ tỉnh A đến tỉnh B dài 112km Hỏi quãng đường đi từ tỉnh B đến tỉnh C dài bao nhiêu kí – lô – mét?
- Tôi cho học sinh đọc bài toán và đặt câu hỏi tìm hiểu bài:
+ Bài toán cho biết gì? (Quãng đường từ tỉnh A đến tỉnh C dài 226km) + Bài toán còn cho biết gì nữa? (Quãng đường từ tỉnh A đến tỉnh C dài 226km)
Trang 3+ Bài toán yêu cầu tìm gì? (Quãng đường đi từ tỉnh B đến tỉnh C dài bao nhiêu kí – lô – mét?)
- Tôi cho học sinh gạch chân dữ kiện, yêu cầu của bài toán: Muốn đi từ
tỉnh A đến tỉnh C phải đi qua tỉnh B Quãng đường từ tỉnh A đến tỉnh C dài 226km, quãng đường từ tỉnh A đến tỉnh B dài 112km Hỏi quãng đường đi từ tỉnh B đến tỉnh C dài bao nhiêu kí – lô – mét?
- Hướng dẫn học sinh hoàn thiện tóm tắt của bài toán:
Tóm tắt
Quãng đường AC: 226km
Quãng đường AB: 112km
Quãng đường đi từ tỉnh B đến tỉnh C dài: km?
- Cho học sinh diễn đạt bài toán qua tóm tắt
Hoặc tóm tắt bằng sơ đồ:
226km
A 112km B ?km C
1.2 Lập kế hoạch giải toán
Để giải được bài toán, học sinh cần phải tìm mối quan hệ giữa cái đã cho
và cái phải tìm Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ý
Ví dụ 1: Sau khi thêm vào số trừ 35 đơn vị thì hiệu hai số là số bé nhất
có ba chữ số khác nhau Hỏi hiệu hai số ban đầu là bao nhiêu?
- Đối với học sinh năng khiếu, tôi gợi ý học sinh tự tìm hiểu:
+ Bài toán cho biết gì? (thêm vào số trừ 35 đơn vị thì hiệu hai số là số bé nhất có ba chữ số khác nhau)
+ Bài toán hỏi gì? (Hiệu hai số ban đầu là bao nhiêu?)
+ Muốn biết hiệu hai số ban đầu là bao nhiêu em làm sao? (lấy hiệu sau khi thêm cộng 35)
- Đối với học sinh chậm tiến, tôi hướng dẫn học sinh qua hệ thống câu hỏi:
+ Thêm vào số trừ bao nhiêu đơn vị? (Thêm vào số trừ 35 đơn vị)
+ Số bé nhất có ba chữ số khác nhau là số mấy? (Số bé nhất có ba chữ số khác nhau là số:102)
+ Bài toán hỏi gì? (Hiệu hai số ban đầu là bao nhiêu?)
Trang 4+ Muốn biết hiệu hai số ban đầu là bao nhiêu em làm sao? (lấy hiệu sau khi thêm cộng 35)
Ví dụ 2: Nhà em có một số trứng, đã ăn một số quả, số trứng còn lại đúng bằng số trứng đã ăn và bằng 45 Hỏi ban đầu nhà em có bao nhiêu quả trứng?
- Đối với học sinh năng khiếu, tôi gợi ý học sinh tự tìm hiểu:
+ Bài toán cho biết gì? (số trứng còn lại đúng bằng số trứng đã ăn và bằng 45)
+ Bài toán hỏi gì? (Ban đầu nhà em có bao nhiêu quả trứng?)
+ Muốn biết ban đầu nhà em có bao nhiêu quả trứng em làm sao? (lấy số trứng còn lại cộng số trứng đã ăn)
- Đối với học sinh chậm tiến, tôi hướng dẫn học sinh qua hệ thống câu hỏi:
+ Số trứng còn lại bằng bao nhiêu? (Số trứng còn lại bằng 45)
+ Số trứng đã ăn bằng bao nhiêu? (Số trứng đã ăn bằng 45)
+ Bài toán hỏi gì? (Ban đầu nhà em có bao nhiêu quả trứng?)
+ Muốn biết ban đầu nhà em có bao nhiêu quả trứng em làm sao? (lấy số trứng còn lại cộng số trứng đã ăn)
Ví dụ 3: Nhà bạn Quỳnh có số cân gạo là số chẵn lớn nhất có hai chữ
số có tổng các chữ số là 3, đã ăn hết số cân gạo là số lẻ nhỏ nhất có hai chữ
số Hỏi nhà bạn Quỳnh còn bao nhiêu cân gạo?
- Đối với học sinh năng khiếu, tôi gợi ý học sinh tự tìm hiểu:
+ Bài toán cho biết gì? (số cân gạo là số chẵn lớn nhất có hai chữ số có tổng các chữ số là 3, số cân gạo đã ăn hết là số lẻ nhỏ nhất có hai chữ số)
+ Bài toán hỏi gì? (Nhà bạn Quỳnh còn bao nhiêu cân gạo?)
+ Muốn biết nhà bạn Quỳnh còn bao nhiêu cân gạo em làm sao? (lấy số cân gạo ban đầu trừ số cân gạo đã ăn hết)
- Đối với học sinh chậm tiến, tôi hướng dẫn học sinh qua hệ thống câu hỏi:
+ Số lớn nhất có hai chữ số có tổng các chữ số là 3 là số mấy? (Số lớn nhất có hai chữ số có tổng các chữ số là 3 là số: 12)
+ Số lẻ nhỏ nhất có hai chữ số là số mấy? (Số lẻ nhỏ nhất có hai chữ số
là số: 11)
+ Bài toán hỏi gì? (Nhà bạn Quỳnh còn bao nhiêu cân gạo?)
+ Muốn biết nhà bạn Quỳnh còn bao nhiêu cân gạo em làm sao? (lấy số cân gạo ban đầu trừ số cân gạo đã ăn hết)
Trang 5Ví dụ 4: Tìm một số, biết rằng lấy số lớn nhất có ba chữ số trừ đi số đó thì được số nhỏ nhất có ba chữ số giống nhau.
- Đối với học sinh năng khiếu, tôi gợi ý học sinh tự tìm hiểu:
+ Bài toán cho biết gì? (lấy số lớn nhất có ba chữ số trừ đi số đó thì được
số nhỏ nhất có ba chữ số giống nhau)
+ Bài toán hỏi gì? (Tìm số đó)
+ Muốn tìm số đó em làm sao? (lấy số lớn nhất có ba chữ số trừ số nhỏ nhất có ba chữ số giống nhau)
- Đối với học sinh chậm tiến, tôi hướng dẫn học sinh qua hệ thống câu hỏi:
+ Số lớn nhất có ba chữ số là số mấy? (Số lớn nhất có ba chữ số là số: 999)
+ Số nhỏ nhất có ba chữ số giống nhau là số mấy? (Số nhỏ nhất có ba chữ số giống nhau là số: 111)
+ Bài toán hỏi gì? (Tìm số đó)
+ Muốn tìm số đó em làm sao? (lấy số lớn nhất có ba chữ số trừ số nhỏ nhất có ba chữ số giống nhau)
1.3 Trình bày bài giải
Dựa vào kết quả phân tích bài toán ở bước 2, tôi giúp học sinh lần lượt viết lời giải và thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số, viết đơn vị phù hợp
Ví dụ 1: Sau khi thêm vào số trừ 35 đơn vị thì hiệu hai số là số bé nhất
có ba chữ số khác nhau Hỏi hiệu hai số ban đầu là bao nhiêu?
Bài giải
Số bé nhất có ba chữ số khác nhau là: 102 Hiệu hai số ban đầu là:
102 + 35 = 137
Đáp số: 137
Ví dụ 2: Một con kiến bò xung quanh mép bàn (hình dưới) Hỏi khi con kiến bò về đến vị trí xuất phát thì nó bò được bao nhiêu đề - xi - mét?
15dm
15dm
Trang 6Bài giải Con kiến bò được quãng đường là:
15 + 9 + 15 + 9 = 48 (dm)
Đáp số: 48dm
Ví dụ 3: Có một cân đĩa, người ta đặt lên đĩa cân thứ nhất 1 túi đường
và 1 quả cân 1kg, đĩa còn lại đặt quả cân 2kg và 5kg thì thấy cân bằng Hỏi túi đường cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
Bài giải
Ta có: 5kg + 2kg = 7kg Túi đường và quả cân 1kg nặng: 7kg
Túi đường cân nặng:
7 – 1 = 6 (kg)
Đáp số: 6kg
1.4 Kiểm tra lại bài giải
Các em học sinh thường có thói quen khi làm bài xong không xem, kiểm tra lại bài đã làm, hiểu được đều đó, tôi giúp các em xây dựng thói quen này như sau: Cần kiểm tra về lời giải, phép tính, đáp số và tìm cách giải hoặc câu lời giải khác
Ví dụ 1: Tìm một số, biết rằng lấy số đó nhân với 5 rồi cộng với 45 thì được 90.
Kiểm tra lại: Ở bài toán này sau khi đã giải xong, tôi cho học sinh thử lại kết quả bằng cách lấy số vừa tìm được nhân với 5 rồi cộng với 45 bằng 90 là đúng Sau đó yêu cầu học sinh kiểm tra lời giải, đáp số
Ví dụ 2: Một phép nhân có tích là số lớn hơn 26 nhưng bé hơn 28, thừa số thứ nhất là 3 Hãy tìm thừa số thứ hai.
Kiểm tra lại: Ở bài toán này sau khi đã giải xong, tôi cho học sinh thử lại kết quả bằng cách lấy số vừa tìm được nhân với 3 bằng 27 là đúng Sau đó yêu cầu học sinh kiểm tra lời giải, đáp số
1.5 Đề xuất bài toán mới
Nhằm giúp học sinh củng cố và nâng cao kỹ năng giải toán, sau khi giải xong một bài toán, một dạng toán nào đó, tôi thường đề xuất hoặc có thể cho học sinh có khả năng đề xuất bài toán mới Dưới đây là một số bài toán tôi đã hướng dẫn học sinh làm:
Ví dụ 1: Tìm một số, biết rằng lấy số đó nhân với 5 rồi cộng với 45 thì được 90.
- Đề xuất bài toán mới: Tìm một số, biết rằng lấy số đó nhân với 3 rồi
cộng với 70 thì được số liền sau số lớn nhất có hai chữ số.
Trang 7Gợi ý:
+ Số lớn nhất có hai chữ số là số nào?( Số lớn nhất có hai chữ số là số 99)
+ Giải tương tự bài toán trên.
- Hoặc đề xuất bài toán mới: Tìm một số, biết rằng số đó nhân với 3 rồi
trừ đi 5 thì được số bé nhất có hai chữ số.
Gợi ý:
+ Số bé nhất có hai chữ số là số mấy?( Số bé nhất có hai chữ số là số 10) + Bài toán này có gì khác so với bài toán ban đầu? (Ở bài toàn này lấy
số đó nhân 3 rồi trừ đi 5, còn ở bài toán ban đầu lấy số đó nhân với 5 cộng với 45)
Ví dụ 2: Sau khi thêm vào số trừ 35 đơn vị thì hiệu hai số là số bé nhất
có ba chữ số khác nhau Hỏi hiệu hai số ban đầu là bao nhiêu?
- Đề xuất bài toán mới: Hiệu của hai số là số lớn nhất có ba chữ số khác
nhau Nếu thêm số trừ đi 12 đơn vị thì hiệu mới bằng bao nhiêu?
Gợi ý:
+ Số lớn nhất có ba chữ số khác nhau là số nào? (Số lớn nhất có ba chữ
số khác nhau là số 987)
+ Bài toán này có gì khác so với bài toán trên? (Ở bài toàn này cho hiệu mới tìm hiệu ban đầu, còn ở bài toán trên cho hiệu ban đầu tìm hiệu mới)
+ Khi thêm vào số trừ 12 đơn vị thì hiệu mới như thế nào? (Khi thêm vào
số trừ 12 đơn vị thì hiệu mới giảm 12 đơn vị)
+ Muốn tìm hiệu mới em làm sao? (Lấy hiệu ban đầu trừ 12)
Ví dụ 3: Mẹ em mua con lợn cân nặng 36kg về nuôi, tháng sau nó tăng thêm 8kg nữa Hỏi tháng sau con lợn cân nặng bao nhiêu kí- lô-gam?
- Đề xuất bài toán mới: Mẹ mua con lợn về nuôi sau một tháng cân nặng
48kg Biết rằng sau một tháng con lợn tăng thêm 12kg Hỏi lúc đầu con lợn cân nặng bao nhiêu kí-lô-gam?
Gợi ý:
+ Bài toán này có gì khác so với bài toán trên? (Ở bài toán này yêu cầu tìm cân nặng con lợn lúc đầu, còn ở bài toán trên yêu cầu tìm cân nặng con lợn lúc sau)
+ Muốn tìm cân nặng con lợn lúc đầu em làm sao? (Lấy cân nặng con lợn lúc sau trừ 12)
Ví dụ 4: Năm nay con 8 tuổi, mẹ 32 tuổi Hỏi trước đây 2 năm tuổi mẹ cộng với tuổi con là bao nhiêu?
Trang 8- Đề xuất bài toán mới: Hiện nay Trang 7 tuổi, Hương 9 tuổi Đến khi
Trang bằng tuổi Hương hiện nay thì tổng số tuổi của hai bạn là bao nhiêu?
Gợi ý:
+ Mấy năm nữa thì tuổi Trang bằng tuổi Hương hiện nay? (Hai năm nữa thì tuổi Trang bằng tuổi Hương hiện nay)
+ Bài toán này có gì khác so với bài toán trên? (Ở bài toán này yêu cầu tìm tổng số tuổi hai bạn 2 năm sau, còn bài toán trên yêu cầu tìm tổng số tuổi hai người 2 năm trước)
2 Biện pháp khắc sâu “Bài toán có lời văn"
Ngoài việc dạy cho học sinh hiểu và giải tốt "Bài toán có lời văn", tôi còn giúp các em hiểu chắc, hiểu sâu loại toán này Ở mỗi bài, mỗi tiết về "Giải toán
có lời văn" tôi luôn phát huy tư duy, trí tuệ, tính tích cực chủ động của học sinh bằng việc hướng cho học sinh tự tóm tắt đề toán, tự đặt đề toán theo dữ kiện đã cho, tự đặt đề toán theo tóm tắt cho trước, giải toán từ tóm tắt, nhìn tranh vẽ, sơ
đồ viết tiếp nội dung đề toán vào chỗ chấm ( ), đặt câu hỏi cho bài toán
Ví dụ 1: Giải bài toán theo tóm tắt sau:
Buổi sáng: 63l dầu
Buổi chiều: 34l dầu
Cả hai buổi cửa hàng bán được:…l dầu?
Ví dụ 2: Viết tiếp câu hỏi rồi giải bài toán:
Hà hái được 82 quả táo, Hà cho bạn 8 quả táo Hỏi………
……….
Ví dụ 3: Dựa vào tóm tắt đặt đề toán rồi giải bài toán.
Thùng 1: ● ●
●
?l
3 Khích lệ, tạo hứng thú học sinh khi học tập
Đặc điểm chung của học sinh Tiểu học là thích được khen hơn chê, hạn chế chê các em trong học tập, rèn luyện Tuy nhiên nếu ta không biết vận dụng linh hoạt với từng học sinh mà cứ quá khen sẽ không có tác dụng kích thích Đối với những em chậm tiến bộ, thường rụt rè thì tôi luôn chú ý nhắc nhở, động viên
và gọi các em trả lời câu hỏi vừa sức với các em Chỉ cần các em có một tiến bộ nhỏ là tôi tuyên dương ngay, để từ đó các em sẽ cố gắng tiến bộ và tự tin hơn
26l 58l
Trang 9Đối với những học sinh khá giỏi phải có những tiến bộ vượt bậc mới khen Ví dụ: Khi học sinh ở mức hoàn thành dựa vào tóm tắt có thể nêu đề toán hoặc nêu được những câu lời giải hay thì tôi tuyên dương ngay để khích lệ tinh thần các em
Ngoài ra, việc áp dụng các trò chơi học tập trong tiết học cũng là một yếu
tố không kém phần quan trọng giúp học sinh có niềm hăng say trong học tập, mong muốn nhanh đến giờ học và tiếp thu kiến thức nhanh hơn
Ví dụ: Tổ chức học sinh chơi trò chơi “Hộp quà bí mật”
Cách tiến hành: Có 3 hộp quà đã đánh số, dưới mỗi hộp là một bài toán Mỗi bạn chọn hộp quà và thực hiện giải bài toán có trong hộp quà Nếu giải đúng sẽ nhận được một bông hoa
Hộp thứ nhất (Bài toán 1): Lan có 20 trái táo, Lan chia đều cho bố, mẹ,
anh và em Lan Hỏi mỗi người có bao nhiêu quả táo?
Hộp thứ hai (Bài toán 2): Mẹ cân nặng 65kg, con cân nặng 19kg Nếu
mẹ bế con cùng cân thì nặng bao nhiêu kí – lô – gam?
Hộp thứ ba (Bài toán 3): Cô giáo có một số bánh, cô chia cho 4 bạn,
mỗi bạn 8 cái thì còn thừa 2 cái Hỏi cô giáo có tất cả bao nhiêu cái bánh?
III Hiệu quả đạt được
Qua thời gian thực hiện Bồi dưỡng giải toán có lời văn lớp 2, tôi nhận thấy
học sinh có sự chuyển biến về ý thức học tập, phương pháp học tập và chất lượng học tập Học sinh nắm bài một cách chủ động và bền vững hơn Học sinh
đã biết cách xác định dạng toán, tóm tắt đề toán hoặc nhìn vào tóm tắt biết nêu thành bài toán và giải được bài toán Kết quả giải toán có lời văn được nâng lên
rõ rệt, nhiều em giải toán nhanh và yêu thích học môn toán
Cụ thể thu được kết quả như sau:
Hoàn thành tốt
Hoàn thành Chưa hoàn
thành
2018-2019
Thực nghiệm
Đối chứng
2019-2020 Thực nghiệm
Trang 10Hai 5
IV Bài học kinh nghiệm
Qua việc nghiên cứu và áp dụng Bồi dưỡng giải toán có lời văn lớp 2 cho
thấy để đạt được mục tiêu dạy – học thì việc tìm tòi sáng tạo, rút kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy của giáo viên là rất cần thiết Để học sinh làm tốt các bài toán có lời văn nâng cao, giáo viên cần:
- Rèn cho học sinh kĩ năng đọc và phân tích đề toán
- Nhìn vào bảng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng, hiểu được nội dung bài toán Nắm chắc các bước khi giải toán
- Cho học sinh luyện tập thực hành thường xuyên Qua mỗi dạng toán giáo viên cần có kiểm tra và đề ra biện pháp thực hiện tiếp theo để nâng cao chất lượng dạy và học
- Lấy học sinh làm trung tâm, tổ chức học sinh độc lập, sáng tạo
- Quan tâm đến tất cả đối tượng học sinh, nhất là học sinh chưa hoàn thành, chậm tiến bộ Phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh, cho học sinh tiếp cận với các bài toán nâng cao thông qua các tiết luyện tập thực hành nhờ đó giúp các em nâng cao năng lực giải toán
- Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, tìm tòi, vận dụng những cách dạy sao cho phát huy cao nhất khả năng học tập của học sinh; đồng thời có kế hoạch cụ thể, để có biện pháp bồi dưỡng phù hợp cho từng đối tượng học sinh
V Kết luận
Việc giúp học sinh lớp 2 giải tốt các bài toán có lời văn và các bài toán có
lời văn nâng cao là việc làm không đơn giản, đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu,
tìm ra những cách dạy sao cho học sinh tiếp thu và vận dụng vào giải toán một cách hiệu quả nhất; qua mỗi dạng toán giáo viên có hình thức kiểm tra, đánh giá
và đề ra biện pháp thực hiện để nâng cao chất lượng giảng dạy nội dung này; đồng thời giáo viên cũng có kế hoạch bồi dưỡng cụ thể cho phù hợp với từng đối tượng học sinh Việc quan tâm, hỗ trợ, động viên, khuyến khích các em vượt qua mọi khó khăn để học tập tốt hơn cũng là điều rất cần thiết trong quá trình thực hiện đề tài
Qua quá trình bồi dưỡng học sinh giải toán có lời văn đã giúp cho học sinh lớp 2 nắm chắc quy trình giải toán có lời văn, biết đọc kĩ đề toán, tóm tắt bài toán bằng nhiều cách, biết nhận dạng bài toán thuộc loại toán nào trước khi giải Học sinh năng khiếu có thể giải bài toán nâng cao bằng nhiều cách, phát hiện ra cách giải nhanh và hay Chính vì vậy đã tạo được ở học sinh niềm vui, niềm tin và say mê trong học toán nói chung và giải toán có lời văn nói riêng Đến đây đề tài đã hoàn thành các nhiệm vụ đã đề ra là nghiên cứu nội dung,