Tuy nhiên, Bouvard không phải là người khám phá ra hành tinh thứ tám đang gây ra các chuyển động trong quỹ đạo của Thiên Vương tinh... Ngày 10 tháng 9 năm 1839, ông đã gửi một bài báo đế
Trang 1J Josepha osepha osepha Sherman Sherman
HẢI VƯƠNG TINH
T T Tr r rần Nghiêm dịch
Trang 2Hải Vương tinh
Josepha Sherman Trần Nghiêm dịch
3 Các vệ tinh và các vành kì lạ của Hải Vương tinh 17
4 Các đặc điểm vật lí của Hải Vương tinh 26
Tra cứu nhanh về Hải Vương tinh 37
Trang 41 Khám phá kép
Đến cuối thế kỉ thứ 18, mọi người đều tin rằng Hệ Mặt trời chỉ có sáu hành tinh Sau đó, Thiên Vương tinh được William Herschel khám phá ra vào năm 1781 Với sự khám phá ra hành tinh thứ bảy này, các nhà thiên văn học trở nên hiếu kì hơn bao giờ hết Rốt cuộc thì còn có cái gì nằm ngoài kia nữa không?
Nhà thiên văn học kiêm thầy tu
Nhà thiên văn học đầu tiên dự đoán sự tồn tại của hành tinh thứ tám là nhà thiên văn học người Pháp, Alexis Bouvard Bouvard có thiên bẩm hiếm có đối với một nhà khoa học Ông sinh năm 1767 ở miền quê nước Pháp, không hề qua trường lớpnào , và được nuôi dạy thành một thầy tu Tuy nhiên, ông yêu thích khoa học đến mức ông đã rời nhà lên Paris khi ông còn là một thiếu niên Thời gian ở Paris – ông nhận làm bất cứ công việc gì để kiếm sống – ông tự mình tìm hiểu toán học Bouvard thông minh đến mức ông sớm trở thành phụ tá cho một nhà thiên văn học khác, Pierre Laplace
Vào thập niên 1820, Bouvard đang làm việc với tư cách nhà thiên văn và nhà toán học Ông để ý thấy quỹ đạo của Thiên Vương tinh xung quanh Mặt trời biểu hiện một số chuyển
động kì lạ Bouvard nghĩ sự
“chao đảo” đó phải có
nguyên do là lực hấp dẫn
của một vật thể khác hút lấy
Thiên Vương tinh Tuy nhiên,
Bouvard không phải là người
khám phá ra hành tinh thứ
tám đang gây ra các chuyển
động trong quỹ đạo của
Thiên Vương tinh
Trang 5JOHN COUCH ADAMS
John Couch Adams sinh năm 1819 tại Cornwall, Anh quốc Adams rất giỏi toán và nhanh chóng bị thiên văn học thu hút Năm 1841, Adams lần đầu tiên đọc được các tính toán của Bouvard về quỹ đạo của Thiên Vương tinh Các phép tính đó gây ấn tượng mạnh đối với ông, và ông quyết định khám phá xem
cái gì đang ảnh hưởng đến quỹ đạo của Thiên Vương tinh Ngày 3 tháng 7 năm 1841, ông đã viết một đoạn ghi chú như sau, “Hình thành một thiết kế nghiên cứu, càng sớm càng tốt các bất thường trong chuyển động của Thiên Vương tinh để tìm hiểu xem có thể quy chúng là do sự tác động của một hành tinh chưa phát hiện ra nằm ngoài nó hay không” Từ đó về sau, Adams dành hết thời gian rỗi của mình nghiên cứu các phép tính chứng minh cho lí thuyết của ông Tháng 9 năm 1845, ông đã có bằng chứng toán học của riêng mình cho một hành tinh mới
Thật không may, Adams ngần ngại nên đã không công bố các kết quả của ông trước công chúng Thay vào đó, ông đã gửi các bài viết của mình đến cho nhà thiên văn học hàng đầu của nước Anh, ngài George Biddell Airy Nhưng Airy hoàn toàn bỏ qua các kết quả của Adams Nguyên do tại sao ông ta làm như vậy vẫn còn là một bí ẩn đối với các nhà sử học
Trang 6Có khả năng vì Airy quá bận với công việc nghiên cứu của mình, hoặc có lẽ ông không nhìn thấy tầm quan trọng của các phép tính của Adams Vì Airy không quan tâm đến các kết quả của Adams, cho nên chẳng ai khác ở nước Anh thời kì
ấy có bất kì nỗ lực thật sự nào nhằm tìm kiếm xem có một hành tinh thứ tám hay không
URBAIN J J LE VERRIER
Urbain Jean Joseph Le Verrier chào đời tại tỉnh Normandy, nước Pháp, vào năm 1811 Le Verrier là một sinh viên nghiêm túc và thông minh, và bị cuốn hút bởi mọi ngành khoa học Năm 1837, ông đang là một nhà thiên văn học Vì mối nhân duyên với toán học, ông đã hăm hở lao vào tìm lời giải cho những phương trình phức tạp nhất
Le Verrier tìm thấy các sai sót trong nhiều phép tính liên quan đến hành tinh và đã sáng tạo ra các phương pháp tính toán quỹ đạo hiệu quả hơn Ngày 10 tháng 9 năm 1839, ông đã gửi một bài báo đến Viện Hàn lâm Khoa học với tựa
đề “Sur les variation seculaires des orbites planetaires” (“Về các biến thiên bình thường của quỹ đạo hành tinh) Le Verrier tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các phép tính của ông, nhưng ông còn bị hấp dẫn bởi sự chuyển động của các sao chổi và bắt đầu nghiên cứu chúng cùng quỹ đạo của chúng Năm 1845, ở tuổi 44,
Le Verrier đã khẳng định được vị thế của mình là một nhà phân tích kì tài của các bài toán thiên văn học
Trang 7Ngay khi để ý thấy chuyển động kì lạ của quỹ đạo Thiên Vương tinh, Le Verrier đã bắt tay vào nghiên cứu đi tìm hành tinh thứ tám Ông không hề nhìn thấy công trình của John Adams và ông không biết Adams cũng đang tìm kiếm một hành tinh thứ tám Le Verrier không có cách nào biết được rằng các phép tính của ông hầu như giống hệt các phép tính của Adams Nhưng không giống như Adams, Le Verrier không ngại ngùng trước công chúng Le Verrier chắc chắn rằng mọi người biết đến các phép tính của ông Vào ngày 1 tháng 6 năm
1846, ông đã cho công bố bài phân tích hoàn chỉnh của mình, “Recherches sur les mouvements d’Uranus,” hay “Nghiên cứu về chuyển động của Thiên Vương tinh”, tại cuộc họp báo của Viện Hàn lâm Khoa học
Trang 8Cuộc tranh luận về hành tinh thứ tám
Trở lại nước Anh, Airy đã nghe nói tới các phép tính cùng sự công bố rộng rãi của Le Verrier Ngay sau đó, Airy nhận thấy các kết quả của Le Verrier rất giống với công trình của John Adams Hai nước Anh và Pháp vốn là hai đối thủ kình địch nhau, hơn thua nhau trong hàng thế kỉ Thật tự nhiên, Airy không muốn nước Pháp nhận lấy vinh quang là đã khám phá ra hành tinh thứ tám Tháng 7 năm 1846, ông tổ chức một cuộc họp với nhà thiên văn James Challis, người đứng đầu Đài thiên văn Cambridge Airy đề nghị Challis dùng kính thiên văn của đài tìm kiếm hành tinh thứ tám, “với hi vọng cứu nguy cho vấn đề hầu như đã không còn hi vọng gì nữa”
Một cuộc tìm kiếm điên rồ đã diễn ra sau
đó Adams tiếp tục các tính toán của ông, nhưng
các phép tính mới của ông không chính xác Vì
Challis không có bản đồ sao cập nhật mới, cho
nên ông thường tìm ở mảng trời không đúng
Ngày nay, các nhà sử học biết rằng Challis thật
sự nhìn thấy Hải Vương tinh hai lần – vào ngày 8
và 12 tháng 8 – nhưng do các trục trặc với bản đồ
sao cũ kĩ và các tính toán sai lầm của Adams,
nên ông nghĩ ông chỉ nhìn thấy một ngôi sao nào
khác
Trong khi đó, ở Pháp, Le Verrier cũng gặp
trục trặc Sau khi công bố rộng rãi các kết quả
của mình, ông thật sự thất vọng vì chẳng tìm ra
nhà thiên văn học người Pháp nào có hứng thú để
chứng minh chúng Sau đó, ông đã gửi các tính
toán của mình cho một nhà khoa học bạn bè,
người mà ông đang trao đổi các bài báo khoa học
Nhà khoa học đó là nhà thiên văn người Đức
Johann Gottfried Galle làm việc tại Đài thiên văn
Berlin Galle nhận được thư và bài báo của Le
Verrier vào ngày 23 tháng 9 năm 1846 Ngay
trong hôm đó, Galle lao vào làm việc luôn Sử dụng các tính toán của Le Verrier
và làm việc với kính thiên văn và bản đồ sao của đài thiên văn trên, Galle đã tìm thấy hành tinh thứ tám chỉ sau một giờ tìm kiếm Ngày 25 tháng 9, Galle viết thư cho Le Verrier: “Hành tinh có vị trí như anh tính toán thật sự có tồn tại”
Trang 9Cuộc chiến ngôn từ
Khám phá của Galle đã khơi ngòi một cuộc khẩu chiến giữa các nhà khoa học người Anh và người Pháp Các thành viên của Hội Thiên văn học Hoàng gia Anh thì ủng hộ Adams, nói rằng ông là người đầu tiên tính ra hành tinh trên nằm
ở chỗ nào Trong khi đó, ở Pháp, các nhà khoa học cáu tiết lên Một người Anh không tên tuổi, họ nói, đã giành lấy vinh quang mà Le Verrier đáng được hưởng Các tờ báo Pháp đã chộp lấy câu chuyện trên và biến nó thành vấn đề mang tính quốc gia
Cuối cùng, Adams không muốn sinh thêm rắc rối nữa Trong một bài báo
mà ông đọc trước Hội Thiên văn học Hoàng gia vào tháng 11 năm 1846, ông nói
“Tôi kể ra đây những ngày tháng này chỉ để chứng tỏ rằng các kết quả của tôi có được một cách độc lập, và có trước sự công bố kết quả của [ngài] Le Verrier, chứ không nhằm mục đích gây rắc rối cho sự khẳng định vinh quang của ông ta về khám phá trên” Adams bổ sung thêm rằng chẳng nghi ngờ gì nữa chuyện Le Verrier đã công bố nghiên cứu của ông ta trước và những kết quả công bố đó đã đưa đến việc Galle thật sự khám phá ra hành tinh mới
Một khi sự thật đã phơi bày, các nhà thiên văn bắt đầu thống nhất với nhau rằng hai nhà thiên văn trên đã độc lập nhau giúp xác định vị trí của hành tinh mới, và họ đáng được tôn vinh như nhau Thoạt đầu, các nhà thiên văn người Pháp muốn đặt tên cho hành tinh mới là “Le Verrier”, nhưng các thành viên ôn hòa của cộng đồng khoa học đã bỏ phiếu hạ cái tên đó xuống Đã đủ thời gian
Trang 10gây rắc rối cho các bạn khoa học người Anh của họ rồi Thay vào đó, mọi người đặt tên cho hành tinh mới là Hải Vương tinh (Neptune), tên vị thần biển cả của người La Mã
Vinh quang muộn đến với Adams
Mặc dù việc ông khám phá ra Hải Vương tinh ban đầu bị bỏ qua, nhưng Adams không bị cộng đồng khoa học bỏ quên Năm 1866, công trình của ông đã được tôn vinh khi ông giành được phần thưởng cao quý nhất trong giới thiên văn học Anh quốc – Huy chương Vàng của Hội Thiên văn học Hoàng gia
Ngày nay, vành ngoài của Hải Vương tinh và một miệng hố mặt trăng được đặt theo tên Adams Còn có một tiểu hành tinh mang tên 1996 Adams Giải thưởng Adams vẫn được trường Đại học Cambridge trao hàng năm, tôn vinh công trình khoa học của ông
Trang 122 Voyager 2
Ngày 10 tháng 10 năm 1846 – trong vòng một tháng sau sự khám phá ra Hải Vương tinh – nhà thiên văn học người Anh William Lassell đã phát hiện ra Triton, một trong các vệ tinh của Hải Vương tinh Nhưng sau sự kiện này, không còn có khám phá mới nào về Hải Vương tinh nữa mãi cho đến thế kỉ thứ 20
Có hai nguyên do lí giải cho điều này Một là các kính thiên văn chế tạo trước thế kỉ thứ 20 đơn giản là không đủ mạnh để nhìn thấy Hải Vương tinh ngoài chỗ là một đốm sáng trên bầu trời – giống hệt như một ngôi sao Nguyên
do thứ hai là vì thực tế thì Hải Vương tinh ở quá xa Trái đất Ngày nay, các nhà khoa học tính được nó ở cách xa chúng ta chừng 4,3 tỉ km Nó ở xa đến mức nó
là hành tinh duy nhất không thể nào nhìn thấy từ Trái đất nếu không sử dụng kính thiên văn Mãi cho đến năm 1949, người ta vẫn biết thêm điều gì mới mẻ về Hải Vương tinh Đó là khi nhà thiên văn Gerard Peter Kuiper phát hiện ra một vệ tinh khác đang quay xung quanh Hải Vương tinh Ông đặt tên cho nó là Nereid, tiếng Hi Lạp dùng để gọi vị nữ thần biển cả
Gerard Peter Kuiper
Nhà thiên văn học này sinh năm 1905 ở
Hà Lan Kuiper trở thành công dân Mĩ vào năm
1937, khi ông đảm đương một trọng trách tại
Đài thiên văn Yerkes ở trường Đại học Chicago
Sau đó, Kuiper chuyển đi Arizona và sáng lập
Phòng thí nghiệm Mặt trăng và Hành tinh học
tại trường Đại học Arizona
Kuiper đã thực hiện một số khám phá
thiên văn quan trọng trong thời gian ông ở
Chicago và Arizona Ông đã phát hiện ra một
trong các vệ tinh của Thiên Vương tinh,
Mirande, và vệ tinh Nereid của Hải Vương tinh
Ông còn tìm thấy carbon dioxide trong khí
quyển của Hỏa tinh và chứng tỏ rằng có một bầu
Trang 13khí quyển methane bao xung quanh vệ tinh lớn nhất của Thổ tinh, Titan Để tôn vinh nhiều khám phá của Kuiper, một giải thưởng được mang tên Giải Kuiper dành cho các nhà thiên văn học đã mang lại những tiến bộ lớn trong khoa học nghiên cứu hành tinh
Cuộc chạy đua vũ trụ
Những khám phá sau này về Hải Vương tinh cùng những vật thể khác trong vũ trụ có được là nhờ những công nghệ mới và những sứ mệnh liều lĩnh hơn trong không gian Đa số các phát triển trong công nghệ vũ trụ và thám hiểm
là kết quả của một cuộc chiến không có sự chiến đấu thật sự Đây là Chiến tranh Lạnh, và nó là sự kình địch giữa nước Mĩ và Liên Xô (Liên Xô gồm Nga và các nước thuộc tầm ảnh hưởng của nước Nga) Chiến tranh lạnh kéo dài từ năm 1945 đến năm 1989 Nước Mĩ và Liên Xô “đấu” Chiến tranh Lạnh theo nhiều cách, bao gồm do thám, xây dựng căn cứ quân sự, một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân hết sức nguy hiểm, và cuộc chạy đua vào vũ trụ
Trang 14Cuộc chạy đua vũ trụ bắt đầu với phần thi nước đầu tiên đưa một vệ tinh lên quỹ đạo và sau đó là đưa người lên Mặt trăng Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công một vệ tinh (Sputnik) vào năm 1957 Nước Mĩ đuổi theo với việc là nước đầu tiên đưa người lên Mặt trăng vào năm 1969
Kết quả của cuộc đua là sự xuất hiện một tổ chức của người Mĩ gọi là Ban quản lí Hàng không và Vũ trụ Quốc gia (NASA) NASA sớm trở thành một tổ chức khoa học chuyên nghiên cứu hàng không học, tên lửa vũ trụ, cuộc sống trong vũ trụ, và thám hiểm vũ trụ
NASA vẫn tiếp tục hoạt động cho đến nay, mặc dù không còn cuộc chạy đua vũ trụ nữa Tuy nhiên, NASA không hề đơn độc Các chương trình vũ trụ khác triển khai ở nhiều nước khác trên thế giới Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) gồm các nhà khoa học đến từ một số nước châu Âu Các chương trình vũ trụ quốc tế khác bao gồm Cơ quan Vũ trụ Italy, Cơ quan Thám hiểm Hàng không
Vũ trụ Nhật Bản, và Cơ quan Vũ trụ Brazil
VOYAGER 2
Hải Vương tinh hé lộ nhiều bí ẩn của nó với
sự hỗ trợ của phi thuyền Voyager 2 (Nhà du hành
2) NASA và Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực
(JPL) cùng hợp tác thiết kế và chế tạo chương trình
Voyager Hai phi thuyền giống hệt nhau không
người lái – nghĩa là không có nhà du hành nào bên
trong hết – Voyager 1 và Voyager 2, được phóng
lên vào năm 1977 để khảo sát Mộc tinh và Thổ tinh
Sau khi phi thuyền đã ở trong vũ trụ, thì sứ mệnh
của chúng được thay đổi để bao gồm cả việc quan
sát Thiên Vương tinh và Hải Vương tinh trước khi
phi thuyền rời Hệ Mặt trời của chúng ta đi thám
hiểm vũ trụ bên ngoài Voyager 2 là phi thuyền đầu
tiên đến viếng Hải Vương tinh
Voyager 2 chuyển động ở tốc độ 67 000
km/h, nhanh hơn bất kì phi thuyền có người lái nào
Tuy nhiên, khoảng cách đến Hải Vương tinh quá
lớn nên phi thuyền vẫn phải mất 12 năm mới tới
được hành tinh trên Năm 1989, Voyager đã tiếp
cận Hải Vương tinh đủ gần để bắt đầu thực hiện
Trang 15các quan sát Phi thuyền tiếp tục triển khai các quan sát từ tháng 6 đến tháng 10
Nó tiếp cận Hải Vương tinh gần nhất là vào ngày 25 tháng 8 năm 1989
Voyager 2 đã gửi về một số dữ liệu và hình ảnh hết sức rõ ràng cho các
nhà khoa học trên Trái đất Các hình ảnh và thông tin cho thấy Hải Vương tinh
có chút tương tự với Thiên Vương tinh và Mộc tinh Giống như chúng, nó là một
hành tinh khí khổng lồ Hải Vương tinh cũng có methane trong khí quyển của
nó, mang lại cho hành tinh một màu lam dễ nhìn
Voyager 2 còn cho phép các nhà khoa học lần đầu tiên quan sát một cơn
bão khổng lồ trên Hải Vương tinh, cái họ gọi là Đốm Đen Lớn Cơn bão đó lớn
bằng cả Trái đất Đốm Đen Lớn di chuyển xung quanh hành tinh mỗi vòng 16
ngày, vì những cơn gió mạnh của Hải Vương tinh thổi nó đi Những quan sát
mới đây của Hải Vương tinh cho thấy Đốm Đen Lớn đã biến mất
Còn có một hệ thống bão nhỏ hơn gọi là Đốm Đen 2 Nó dường như bị
đuổi trong những cơn gió nhanh hơn, vì nó di chuyển xung quanh hành tinh chỉ
trong 16 giờ Với Đốm Đen 2 là một đám mây sáng – hầu như màu trắng – các
nhà khoa học gọi nó là Scooter (Xe hẩy) vì nó “hẩy” xung quanh Hải Vương tinh
mỗi vòng trong 16 giờ
Trang 16Voyager 2 đã mang lại cho các nhà khoa học rất nhiều thông tin về Hải Vương tinh Giống như mọi hành tinh khác, nó được xác nhận là có một
từ trường riêng Từ trường của Hải Vương tinh mạnh hơn từ trường của Trái đất Dữ liệu thu từ phi thuyền Voyager 2 đã giúp các nhà khoa học tính ra
độ dài chính xác của ngày Hải Vương tinh (Một ngày là thời gian cần thiết cho một hành tinh hoàn tất một vòng quay quanh trục của nó) Từ phía Trái đất, các nhà khoa học chỉ có thể ước tính nó dài chừng
18 giờ Nhưng Voyager 2 chứng tỏ rằng ngày Hải Vương tinh dài khoảng 16 giờ 7 phút
Trang 17Trôi nổi trong vũ trụ
Cặp phi thuyền song sinh, Voyager 1 và Voyager 2, do NASA phóng lên vào mùa hè năm 1977, từ Mũi Canaveral, Florida Voyager 1 hiện đang giữ kỉ lục phi thuyền đi xa nhất Voyager 2, phi thuyền đến viếng nhiều hành tinh hơn, trong đó có Hải Vương tinh, cũng đang lao mình ra vũ trụ ngoài kia
Trong 10 đến 12 năm nữa, hai phi thuyền Voyager sẽ tiếp tục đi qua vùng nhật dừng, đó là không gian nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Mặt trời Chúng sẽ tiếp tục chuyển động, với đủ năng lượng để gửi thông tin về Trái đất trong thời gian ít nhất là đến năm 2020 Voyager 1 và Voyager 2 được dự tính thả nổi vĩnh viễn trong Dải Ngân hà – trừ khi chúng va trúng cái gì đó chưa biết Mỗi phi thuyền mang theo một số bản ghi âm nhạc và ngôn ngữ Trái đất và gửi lời chào đến những ai bắt gặp chúng
Phi thuyền thám hiểm Voyager 2
Trang 193 Các vệ tinh và các vành kì lạ
của Hải Vương tinh
Một số đặc điểm của Hải Vương tinh, như các vệ tinh và các vành của nó, thật kì lạ và bí ẩn Hải Vương tinh có một số vệ tinh rất lạ, đa chủng loại từ khổng lồ đến bé tí Còn có một số trường hợp bí ẩn của các vành biến mất của Hải Vương tinh Trong khi Voyager 2 đã cung cấp cho các nhà khoa học một số manh mối về Hải Vương tinh, thì luôn có những biến đổi và khám phá không ngớt về Hải Vương tinh kể từ năm 1989
Các vệ tinh của Hải Vương tinh
Triton Triton có kích cỡ lớn đến mức có thể xem nó một hành tinh vậy Với đường kính 2706 km, nó là vệ tinh lớn nhất của Hải Vương tinh Triton quay mỗi vòng xung quanh Hải Vương tinh chỉ mất có 6 ngày Trái đất Triton có quỹ đạo giật lùi, nghĩa là nó chuyển động xung quanh Hải Vương tinh theo chiều ngược với hướng quỹ đạo của hành tinh trên Đa số các vệ tinh khác, trong đó có mặt
trăng của chúng ta, quay xung quanh hành tinh của chúng theo cùng chiều quay của hành tinh
Các nhà khoa học đã cố gắng tìm hiểu nguyên
do Triton chuyển động giật lùi Họ nghĩ chuyển động quay ngược như thế có nghĩa là Triton không hình thành cùng với Hải Vương tinh, mà nó là một
vệ tinh độc lập, hay một hành tinh lang thang, nghĩa
là một hành tinh nhỏ Vệ tinh hoặc hành tinh lang thang đó có khả năng đã bị hút vào quỹ đạo của Hải Vương tinh một khi nó tiếp cận quá gần với hành tinh
Các nhà khoa học nghĩ rằng trước khi Triton
bị bắt giữ bởi trường hấp dẫn của Hải Vương tinh,
nó chuyển động khá nhanh trong không gian – nhanh hơn một vệ tinh chuyển động trong quỹ đạo
Trang 20Vậy thì phần năng lượng dôi dư kia đã biến đi đâu? Hồi năm 2006, hai nhà thiên văn học - Craig Agnor thuộc trường Đại học California và Douglas Hamilton thuộc trường Đại học Maryland – đã đi tới một lí thuyết có lẽ là chính xác Họ nghĩ rằng Triton phải trôi nổi trong không gian cùng với một vệ tinh khác, bị khóa chặt trong trường hấp dẫn của nhau Khi hai vệ tinh đi qua Hải Vương tinh, lực hấp dẫn mạnh của Hải Vương tinh đã bắt dính Triton nhưng lại để sổng mất hành tinh kia Đa phần năng lượng dôi dư được giải phóng cùng với vệ tinh bị thất lạc kia, và Triton bị ném vào quỹ đạo ngược xung quanh Hải Vương tinh
Thời tiết trên Triton
Triton có lẽ là vật thể lạnh lẽo nhất trong Hệ Mặt trời của chúng ta Bề mặt của nó thường ở nhiệt độ - 235oC Tuy nhiên, khi phi thuyền Voyager 2 bay qua nó, phi thuyền phát hiện thấy mặc
dù cực kì lạnh lẽo, nhưng Triton có các mạch phun – có lẽ là nitrogen và methane – văng tung tóe chừng 8 km lên trên bầu khí quyển mỏng manh của Triton Trên Trái đất, các mạch phun là
Trang 21các suối nước nóng Nhưng một cái gì đó nóng bỏng ở trên một vệ tinh lạnh lẽo
đúng là điều không thể Các nhà khoa học nghĩ rằng những mạch phun đó có thể
do chất liệu bề mặt tối của vệ tinh hấp thụ nhiệt từ phía Mặt trời Bề mặt của
Triton bị rạn nứt khi nó bay gần đến hoặc bay ra xa Mặt trời Những vết nứt đó
sẽ cho phép nitrogen bên dưới bề mặt thoát ra Cũng có khả năng là nhiệt từ Mặt
trời được dự trữ qua những khe nứt đó, nằm ngay bên dưới bề mặt của Triton
Điều này sẽ giữ cho chất khí nitrogen đủ ấm để thỉnh thoảng phun trào Ngay cả
một lượng nhiệt nhỏ nhất cũng có thể xảy ra như vậy, vì phần còn lại của vệ tinh
thật quá lạnh
Những đặc điểm lạ Triton có khối lượng lớn và chứa nhiều đá hơn các vệ tinh khác của Hải
Vương tinh và được phủ dưới một lớp methane đóng băng Chính băng methane
này làm phản xạ ánh sáng và làm cho Triton trông rất sáng qua kính thiên văn
Không giống như các vệ tinh khác thuộc Hải Vương tinh, Triton còn có khí
quyển yếu ớt của riêng nó, bao gồm hỗn hợp nitrogen và methane Triton có
chỏm băng cực giống như nhiều hành tinh, mặc dù trong trường hợp này băng là
nitrogen hồng nhạt