1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sang thu nói với con NH 21 22

8 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

d.Ý nghĩa nhan đề: Nhan đề bài thơ là "Nói với con" nhưng cũng như chính lời nói của nhà thơ nhắc nhở thế hệ con cháu phải biết rõ cội nguốn từ đó giữ gìn truyền thống của quê hương sống

Trang 1

I.SANG THU

1.Tác giả

- Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ

- Thơ ông giàu cảm xúc tinh tế, lãng mạn ; hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi cảm

- Ông viết rất hay và viết nhiều về cuộc sống, con người làng quê và đề tài mùa thu

2.Tác phẩm:

a.Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ

-“Sang thu” được viết năm 1977, in lần đầu trên báo Văn nghệ Sau đó được in nhiều lần trong các tập thơ

-Trong tập thơ “Từ chiến hào đến thành phố”, xuất bản năm 1991

b.Thể thơ: Năm chữ

c.Mạch cảm xúc:

“Sang thu” là 1 bức thông điệp lúc giao mùa Mùa hạ dần qua, mùa thu tới, khoảnh khắc

ấy được diễn tả bằng sự rung cảm tinh tế, sự trải nghiệm sâu sắc của nhà thơ Mạch cảm xúc xuyên suốt với 2 nội dung nổi bật: cảm nhận về thiên nhiên lúc sang thu và suy ngẫm về đời người khi chớm thu

d.Ý nghĩa nhan đề:

-Nghệ thuật đảo ngữ được sử dụng

- “Sang thu” trước hết gợi lên khoảnh khắc giao mùa của thiên nhiên, khi đất trời chuyển từ

hạ sang thu

- Gợi khoảnh khắc chuyển giao giữa tuổi trẻ sang độ tuổi trưởng thành, vững vàng, từng trải

e.Chủ đề:

Bài thơ thể hiện những cảm xúc, những rung động tâm hồn trước cảnh vật thiên nhiên trong những ngày cuối hạ đầu thu

f.Gía trị nội dung và nghệ thuật:

-Là sự cảm nhận tinh tế về vẻ đẹp thiên nhiên của bước chuyển mùa từ hạ sang thu Đồng thời nói lên sự xúc động của lòng người trong khoảnh khắc giao mùa

- Là thơ giàu hình ảnh, giàu sức biểu cảm, cảm xúc tinh tế, sâu lắng, kết hợp tấm lòng chân thành của nhà thơ tạo nên sức cuốn hút cho tác phẩm

*Luận điểm:

LĐ1: Khổ 1: Cảm nhận về tín hiệu không gian làng quê sang thu

LĐ2: Khổ 2: Sự chuyển biến của đất trời sang thu

LĐ3: Khổ cuối: Những tâm tư, suy ngẫm của tác giả

Trang 2

II.NÓI VỚI CON

1.Tác giả

- Y Phương (1948-2022 là nhà thơ dân tộc Tày

-Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi

2.Tác phẩm

a.Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ

- Bài thơ được sang tác năm 1980, năm năm sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Đó là giai đoạn mà đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân cả nước nói chung

và đồng bào miền núi nói riêng còn rất nhiều khó khăn, vất vả

-Bài thơ được in trong tập “Thơ Việt Nam” (1945- 1975)

b.Thể thơ: Tự do

c Mạch cảm xúc:

- Mượn lời nói với con, Y Phương gợi về cội nguồn sinh dưỡng mỗi con người, bộc lộ niềm tự hào về sức sống bền bỉ của quê hương mình

- Bài thơ đi từ tình cảm gia đình mà mở rộng ra là tình cảm quê hương, từ những kỷ niệm gần gũi, thiết tha mà nâng lên thành lẽ sống Cảm xúc, chủ đề của bài thơ được bộ lộ, dẫn dắt một cách tự nhiên, có tầm khái quát nhưng vẫn thấm thía

d.Ý nghĩa nhan đề:

Nhan đề bài thơ là "Nói với con" nhưng cũng như chính lời nói của nhà thơ nhắc nhở thế hệ con cháu phải biết rõ cội nguốn từ đó giữ gìn truyền thống của quê hương sống xứng đáng là những con người nhỏ mà không bé (nhỏ dáng hình nhưng không nhỏ tâm chí ) Nhan đề bài thơ khái quát được ý nghĩa của toàn bài thơ, tức là bài thơ đi từ tình cảm gia đình rồi mở ra tình cảm quê hương, từ những kỉ niệm gần gũi, thiết tha để nâng lên lẽ sống Cảm xúc chủ đề của bài thơ được bộc lộ, dẫn dắt một cách tự nhiên, có tầm khái quát nhưng vẫn thắm thiết

e.Chủ đề:

Lời người cha nói với con về lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ mai sau tiếp nối xứng đáng, phát huy truyền thống của tổ tiên, quê hương là tình cảm cao đẹp của con người Việt Nam suốt bao đời nay

f.Gía trị nội dung và nghệ thuật:

*ND: Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống

mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương

và ý chí vươn lên trong cuộc sống

*NT: Giọng điệu trìu mến tha thiết, thể hiện qua lời tâm sự của cha với con, của thế hệ đi

trước với thế hệ mai sau

Thể thơ tự do làm cho cảm xúc cụ thể, rõ ràng

Trang 3

Nhịp điệu lỳc nhẹ nhàng bay bổng, khi khỳc chiết rành rột, lỳc mạnh mẽ õm vang -> lời khuyờn của cha thấm sõu vào con

Ngụn ngữ cụ thể mà giàu khỏi quỏt, bao hàm nhiều ý nghĩa, hỡnh ảnh thơ độc đỏo

*Luận điểm:

LĐ1: Đoạn đầu: Lời người cha tõm tỡnh với con về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người.

LĐ2: Đoạn cuối: Lũng tự hào về vẻ đẹp của “ người đồng mỡnh” và mong ước của người cha.

Phân tích những cảm nhận tinh tế của nhà thơ Hữu Thỉnh về thời khắc giao mùa

cuối hạ sang đầu thu trong bài thơ Sang thu

Bài làm:

Mựa thu quờ hương là đề tài gợi cảm xỳc đối với thi nhõn song mỗi người cảm xỳc về mựa thu theo cảm nhận riờng của mỡnh Với nhà thơ Hữu Thỉnh, khoảnh khắc giao mựa từ hạ sang thu đó rung động hồn thơ để thi sĩ vẽ nờn một bức tranh thơ: “Sang thu” thật hay Bài thơ là những cảm nhận tinh tế về những chuển biến cảu TN đất trời từ cuối hạ sang đầu thu Qua đú tỏc giả bày tỏ những suy ngẫm triết lớ sõu sắc về cuộc đời con người

Mở đầu bài thơ là cảm nhận của tỏc giả trước tớn hiệu thu về trong khụng gian ở làng quờ:

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong giú se, Sơng chùng chình qua ngõ Hình nh thu đã về.

Thiên nhiên ở đây đợc cảm nhận từ cái gì đó vô hình : ko phải là lá ngô đồng,ko phải

là hơng cốm mới, ko phải là hoa cau rụng, mùa thu bất chợt hiện diện với hơng vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ Đó là mùi hơng ổi phả vào trong làn gió se Mùi hơng quê mộc mạc thoang thoảng quyến rũ hòa vào trong gió heo may của mùa thu, lan tỏa khắp ko gian tạo ra 1 mùi hơng thơm ngọt ngào mát nhẹ của những trái ổi chín vàng- hơng thơm nồng nàn hấp dẫn của những vờn cây sum suê trái ngọt ở nông thôn VN Nhà thơ không dùng

Trang 4

từ “đa ”, từ “thổi” mà lại dùng từ “phả ”để khẳng định hơng ổi đậm lại , xuất hiện một cách đột ngột , bất ngờ trở thành một mùi hơng thu đặc trng của miền quê vùng đồi trung du BBộ Cảm giác bất chợt đến của hơng ổi còn đợc nhà thơ thể hiện qua cụm từ “Bỗng nhận

ra hơng ổi ”Câu thơ nh đa ngời đọc trở về với quá khứ tuổi thơ để đợc hà hít hơng thơm của ổi, để đợc nếm vị ngọt giòn của ổi thơm Cái dự vị của hơng thơm đó cứ vơng vấn trong ta khi đọc câu thơ của Hữu thỉnh Nh vậy , có làn gió se , có hơng thơm của ổi , dấu hiệu của mùa thu đã về Đọc tiếp khổ thơ ta còn thấy dấu hiệu của thu sang còn đợc thể hiện qua làn thu lạnh Dừơng nh có làn sơng ta dễ nhận ra mùa thu hơn “Sơng chùng chình qua ngõ” Sương thu đó được nhõn hoỏ ,hai chữ “chựng chỡnh” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mựa thu làm cho hạt sơng nh có hồn, có cảm nhận riêng cũng nhẹ nhàng trong thả

qua ngỡng cửa của mùa thu Với hơng ổi, gió se, làn sơng bớc chân của mùa thu nh đã hiện

diện, ngập ngừng trớc của Nhng sao lại “hình nh” chứ ko phải “ chắc chắn” Đúng là trạng thái cảm xúc của thời điểm giao mùa:

Hình nh thu đã về

Sự kết hợp hàng loạt những từ: “ bỗng, phả, chùng chình, hình nh”thể hiện tâm trạng ngỡ ngàng cảm xúc bâng khuâng xao xuyến trớc thoáng đi bất chợt của mùa thu Nhà thơ giật mình, bối rối hình nh còn cái gì đó cha thật rõ ràng trong cảm nhận Vì đó là cảm nhận thoáng qua hay vì quá đột ngột mà tgiả cha nhận ra? Tâm hồn thi sĩ biến chuyển nhịp nhàng với phút giao mùa của cảnh vật

Đến khổ thơ thứ 2 ta thấy cái bỡ ngỡ ban đầu của nhà thơ vụt tan biến , nhờng chỗ cho

sự rung cảm mãnh liệt trớc dấu hiệu của đất trời sang thu:

“Sông đợc lúc dềnh dàng”

Chim bắt đầu vội vó Tầm mắt của nhà thơ mở rộng hơn Nếu nh ở trên dấu hiệu mùa thu đợc nhà thơ cảm nhận bằng khứu giác , xúc giác thì ở đây chủ yếu là thị giác Nghĩa của từ láy “dềnh dàng”là chậm chạp, thong thả Nhà thơ dùng phép nhân hoá để miêu tả làn nớc trên sông cố

ý đi chậm lại nh chờ đợi ai Phải chăng, nhà thơ miêu tả dòng sông cạn nớc ,nớc chảy êm đềm chứ không ào ào cuồn cuộn nh những ngày tháng 5 tháng 6 Câu thơ gợi lên trớc mắt ta dòng sông mềm mại , mặt sông êm đềm ,uốn lợn ,duyên dáng thật gần gũi với con ngời Đối ngợc với dòng sông trên bầu trời thì cánh chim lại vội vã “Chim bắt đầu vội vã ”Mới bắt đầu

nh-ng lại rất vội vã , nhữnh-ng cánh chim hối hả bay đi tìm nơi ấm áp ý của hai câu thơ tơnh-ng phản nhng lại tạo lên một bức tranh cảnh vật cân đối tơng xứng Trên trời cao thì cánh chim vội vã , dới sông thì dòng nớc dềnh dàng Mọi cảnh vật đang chuyển động nhẹ nhàng ,dịu êm ,mơ

hồ nh cả đất trời đang thay áo mới Khụng gian thu thư thỏi , hữu tỡnh và chứa chan thi vị , đặc biệt là hỡnh ảnh :

“Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu ”

Nhà thơ ko dùng từ lang thang, lơ lửng, bồng bềnh mà lại dùng vắt nửa mình NT

nhân hóa và lối diễn đạt độc đáo gợi hình ảnh 1 đám mây mềm mại cũn sút lại trờn bầu trời giống nh một giải lụa mỏng kộo dài, nhẹ trụi hững hờ như cũn vương vấn lưu luyến nửa bên mùa hạ nửa bên mùa thu Đám mây mùa hạ cũng nh đang bớc vào ngỡng của của mùa thu Cõu thơ cú tớnh tạo hỡnh khụng gian nhng lại cú ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian : thu bắt đầu sang , hạ chưa qua hết Dờng nh giữa mùa hạ và mùa thu có 1 ranh giới cụ thể hữu hình hiển hiện Liên tởng đầy thú vị ko chỉ cảm nhận bàng thị giác mà còn đợc cảm nhận bằng chính tâm hồn nhạy cảm tinh tế , yêu TN tha thiết của Hữu thỉnh

Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rừ sự biến chuyển của khụng gian và cũng là một thoỏng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật, đất trời :

Vẫn cũn bao nhiờu nắng

Đó vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trờn hàng cõy đứng tuổi

Trang 5

Nếu nh ở khổ thơ trên khoảnh khắc giao mùa đợc cảm nhận bắt đầu từ hơng ổi, gió se,

s-ơng chùng chình, cái hình nh của lòng ngời, vẻ dềnh dàng của dòng sông, sự vội vã của đàn chim thì đến đây là nắng, ma, sấm Các từ “nắng , ma, sấm ”là những nét đặc trng của mùa hạ Nắng vẫn còn nhng đã bớt chói chang , gay gắt , ma đã ít đi nhất là những trận ma rào ,ma giông ầm ầm ,ào ạt và sấm cũng ít hơn , nhỏ hơn , không đột ngột vang rền cùng với những tia chớp sáng loè xé rách bầu trời trong những cơn ma bão tháng 6 tháng 7

Đó là những cảm nhận vô cùng tinh tế Có thể nói 12 câu thơ trong bài thơ câu nào cũng

đẹp, câu nào cũng hay nhng có lẽ hay nhất là 2 câu cuối Hai câu này có 2 tầng ý nghĩa, tầng nghĩa thứ nhất là tả trực tiếp hiện tợng sấm chớp và hình ảnh hàng cây trong cơn ma cuối hè Tầng nghĩa thứ 2 là hàm ý thông qua hình ảnh ẩn dụ: sấm là những vang động bất thờng của ngoại cảnh, còn hình ảnh hàng cây đứng tuổi ngụ ý chỉ con ngời đã từng trải Với những hình ảnh vừa có tính chất tả thực và ẩn dụ đó, Hữu Thỉnh muốn gửi gắm những suy ngẫm của mình về cuộc đời: khi con ngời đã từng trải sẽ vững vàng , bình tĩnh hơn trớc những tác động bất thờng của ngoại cảnh , của cuộc đời

Với NT nhân hóa, ẩn dụ, cách dùng những từ ngữ chỉ trạng thái, hỡnh ảnh thơ đẹp , ngụn từ tinh tế , giọng thơ ờm đềm và những rung động man mỏc ,bõng khuõng của tỏc giả trong buổi giao mựa, Sang thu thể hiện 1 cách cảm ,1 cách nhìn, cách diễn đạt mới mẻ, hàm xúc, lắng đọng và hồn nhiên thể hiện tình yêu mùa thu quê hơng, đất nớc của Hữu Thỉnh Với bài thơ này, Hữu Thỉnh đã góp nên 1 nét thu mang dấu ấn riêng của mình vào chùm thơ thu, vào vẻ đẹp của thơ ca VN

Cảm nhận và suy nghĩ của em về tỡnh cảm cha con trong bài thơ “Núi với con”của Y Phương

Bài làm

Sinh ra và lớn lờn trờn mảnh đất Trựng Khỏnh - Cao Bằng, thấm nhuần những tinh

hoa, cỏi đẹp của dõn tộc Tày, Y Phương (1948-2022) là một nhà thơ tiờu biểu cho cỏc dõn tộc miền nỳi Thơ Y Phơng là tiếng nói ngợi ca con ngời và cuộc sống, là sự thức tỉnh tinh thần

dt, là sự khẳng định sức mạnh của dt mình Bài thơ “ Nói với con” là 1 bài thơ nh thế Đi

từ đề tài quen thuộc : tỡnh cảm cha con, phụ tử thiờng liờng, nhưng với Y Phương ,trong làng thơ Việt Nam đó cú thờm một lối đi, một giai điệu mới Khỏc với "Chiếc lược ngà ",tỡnh cha con được đặt trong hoàn cảnh ộo le của chiến tranh, tỡnh cha con trong bài thơ được thể hiện qua lời tõm tỡnh của người cha Người cha đó bộc lộ lũng yờu thương con qua ước mong con sống xứng đỏng, phỏt huy truyền thống của,gia đỡnh, quờ hương…

Trớc tiên, ngời cha nói với con về tình cảm cội nguồn , trong đó tình cảm gia

đình là sâu sắc nhất:

Chõn phải/ bước tới cha Chõn trỏi/ bước tới mẹ Một bước / chạm tiếng núi Hai bước / tới tiếng cười.

Mở đầu bài thơ là khung cảnh gia đỡnh đầy ắp tiếng núi cười Ngay từ bốn cõu thơ đầu tiờn người cha đó gợi ra một hỡnh ảnh đầm ấm , yờn vui của gia đỡnh Bằng nhịp thơ 2/ 3, cấu trỳc

đối xứng, nhiều từ được lỏy lại, tạo ra một õm điệu tươi vui, quấn quýt: chõn phải - chõn trỏi , rồi một bước - hai bước , rồi lại “tiếng núi - tiếng cười”, ta rất dễ hỡnh dung một hỡnh ảnh cụ

thể thường gặp trong đời sống: đứa con đang tập đi, cha mẹ võy quanh mừng vui, hõn hoan theo mỗi bước chõn con Từng bước đi, từng tiếng núi, tiếng cười của con đều được cha mẹ chăm chỳt, nõng niu, đún nhận Cả ngụi nhà như rung lờn trong “tiếng núi, tiếng cười” của cha, của mẹ Tuy nhiờn, đằng sau lời núi cụ thể đú, tỏc giả muốn khỏi quỏt một điều lớn hơn: con sinh ra trong hạnh phỳc (cha mẹ mói nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiờn đẹp nhất trờn đời)

và lớn lờn bằng tỡnh yờu thương, trong sự nõng đún, vỗ về, mong chờ của cha mẹ Những hỡnh ảnh ấm ờm với cha và mẹ, những õm thanh sống động, vui tươi với tiếng núi tiếng cười

là những biểu hiện của một khụng khớ gia đỡnh đầm ấm, quấn quýt, hạnh phỳc tràn đầy Hỡnh

Trang 6

ảnh ấm lũng này muụn thuở vẫn là khỏt vọng hạnh phỳc của con người Đú sẽ là hành trang quý bỏu đối với cuộc đời, tõm hồn con

Bờn cạnh tỡnh cảm gia đỡnh thắm thiết, hạnh phỳc, quờ hương thơ mộng nghĩa tỡnh

và cuộc sống lao động trờn quờ hương cũng giỳp con trưởng thành, giỳp tõm hồn con được bồi đắp thờm lờn

Ở khổ thơ tiếp theo này, tỏc giả đó sử dụng những cỏch núi, những hỡnh ảnh của người miền nỳi - nơi sinh dưỡng của chớnh mỡnh - để núi những điều chõn thực về quờ hương rừng nỳi:

“Người đồng mỡnh yờu lắm con ơi!

Y Phương cú cỏch gọi rất độc đỏo về những con người quờ hương: “người đồng mỡnh”( tức là ngời vùng mình) nghĩa là ngời cùng sống trên 1 mảnh đất, cùng quê hơng dt -một cỏch gọi rất gần gũi và thõn thương Cỏch gọi ấy gắn liền với lời đối thoại tha thiết “con ơi” Nói đến ngời đồng mình, ngời cha nói đến cuộc sống lao động cần cự và tươi vui của

họ Ngời đồng mình được gợi lờn qua cỏc hỡnh ảnh đẹp:

Đan lờ cài nan hoa

Vỏch nhà ken cõu hỏt.”

Họ làm dụng cụ lao động để bắt cỏ thường ngày : “đan lờ cài nan hoa” Trong căn nhà của

họ, lỳc nào cũng vang lờn tiếng hỏt: “vỏch nhà ken cõu hỏt” Những động từ “đan, ken, cài” rất gợi cảm bờn cạnh giỳp cho người đọc hỡnh dung được những cụng việc cụ thể của con người trờn quờ hương cũn gợi ra tớnh chất gắn bú, hoà quyện, quấn quýt của con người và của quờ hương, xứ sở Cuộc sống lao động ấy, sinh hoạt gia đỡnh đầy niềm vui ấy được đặt trong

cả một quờ hương giàu đẹp, nghĩa tỡnh Quờ hương của “người đồng mỡnh” với hỡnh ảnh rừng, một hỡnh ảnh gắn liền với cảnh quan miền nỳi:

“Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lũng”.

Nếu như hỡnh dung về một vựng nỳi cụ thể, chắc hẳn mỗi người cú thể gắn nú với những hỡnh ảnh khỏc cỏch núi của Y Phương: là thỏc lũ, là bạt ngàn cõy hay rộn ró tiếng chim thỳ hoặc cả những õm thanh “giú gào ngàn, giọng nguồn thột nỳi”, những bớ mật của rừng thiờng… Nhưng Y Phương chỉ chọn một hỡnh ảnh thụi, hỡnh ảnh “hoa” để núi về cảnh quan của rừng Nhưng hỡnh ảnh ấy cú sức gợi rấ lớn, gợi về những gỡ đẹp đẽ và tinh tuý nhất Hoa trong “Noi với con” cú thể là hoa thực - như một đặc điểm của rừng - và khi đặt trong mạch của bài thơ, hỡnh ảnh này là một tớn hiệu thẩm mĩ gúp phần diễn đạt điều tỏc giả đang muốn khỏi quỏt: chớnh những gỡ đẹp đẽ của quờ hương đó hun đỳc nờn tõm hồn cao đẹp của con người ở đú Quờ hương cũn hiện diện trong những gỡ gần gũi, thõn thương với con Đú cũng chớnh là một nguồn mạch yờu thương vẫn tha thiết chảy trong tõm hồn mỗi người, bởi “con đường cho những tấm lũng” ,taỏm loứng aỏm aựp ,tỡnh nghúa cuỷa nhửừng con ngửụứi queõ hửụng Điệp từ “cho” mang nặng nghĩa tỡnh Thiờn nhiờn tơi đẹp đó che chở, nuụi dưỡng, bồi đắp tõm hồn cũng như lối sống của con người Bằng cỏch nhõn hoỏ “rừng” và “con đường” qua điệp từ “cho”, người đọc cú thể nhận ra lối sống tỡnh nghĩa của “người đồng mỡnh” Quờ hương ấy chớnh là cỏi nụi để đưa con vào cuộc sống ờm đềm Con đó trưởng thành trong nghĩa tỡnh của quờ hương như vậy đú Núi với con những điều đú, cha mong cho con hiểu những tỡnh cảm cội nguồn đó sinh dưỡng con, để con yờu cuộc sống hơn Cuối khổ thơ

1 ngời cha nói với con về ngày cới của cha mẹ là ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời Chi tiết này tiếp tục gợi lên cuộc sống và con ngời yêu thơng nhau trong sáng và hạnh phúc Truyền thống rất đẹp của quê hơng Đó là cội nguồn của cuộc sống

Ngời đồng mình ko chỉ “yêu lắm” với những hỡnh ảnh đẹp đẽ, giản dị gợi nhắc cội nguồn sinh dưỡng tõm hồn, tỡnh cảm, lối sống cho con người mà cũn có những đức tớnh cao

đẹp, đỏng tự hào Trong cỏi ngọt ngào kỉ niệm gia đỡnh và quờ hương, người cha đó tha thiết núi với con về những phẩm chất cao đẹp của ngời đồng mình

Ngời đồng mình thơng lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn, xa nuôi chí lớn

Sống trên đá ko chê đá gập ghềnh

Trang 7

Sống trên thung ko chê thung nghèo đói

Sống nh sông nh suối

Lên thác xuống ghềnh ko lo cực nhọc

Đoạn thơ bắt đầu bằng cảm xỳc “thương lắm con ơi”, đú là tỡnh cảm yờu thương, đằm thắm cỏch núi mộc mạc chõn thành Người cha đó lần lượt ngợi ca những phẩm chất dễ

thương của “người đồng mỡnh”với cỏch núi vừa rất cụ thể của người dõn miền nỳi: “Cao đo nỗi buồn Xa nuụi chớ lớn” vừa mang sức khỏi quỏt Lấy sự từng trải (buồn) để đo chiều cao, lấy chớ lớn để đỏnh giỏ độ xa Những hỡnh ảnh cụ thể của thiờn nhiờn như : “trờn đỏ, trong

thung, thỏc, ghềnh” đó được người cha dựng với tớnh chất biểu trưng cho khú khăn, gian khổ

vỏ sức mạnh vượt khú khăn gian khổ của những con người của quờ hương Người đồng mỡnh

khụng sợ gian khổ, nghốo đúi Sự chấp nhận gian khổ ấy thể hiện trong điệp ngữ “khụng chờ”, “khụng lo” và cỏch núi tha thiết: “vẫn muốn” Và ụng đó tự vớ “người đồng mỡnh”mạnh

mẽ, hồn nhiờn chất phỏc, lặng lẽ, bỡnh dị mà phúng khoỏng như sụng như suối qua cỏc hỡnh

ảnh cụ thể “như song như suối”, Dự quờ hương vất vả, nhọc nhằn, dự “người đồng mỡnh” cú

thể cú nỗi đau buồn rất lớn nhưng những người con của quờ hương khụng bao giờ quay lưng lại với nơi mỡnh đó từng chụn rau, cắt rốn, cha mẹ đó từng cỏy xới vun trồng Và phải chăng chớnh cuộc sống nhọc nhằn đầy nỗi khổ đau ấy lại khiến cho “chớ lớn” thờm lờn, thờm mónh liệt? Đú là tư thế, tầm vúc hiờn ngang, giàu nghị lực sức sống mónh liệt: ko nhỏ bộ, ko chịu cỳi đầu trước mọi thử thỏch gian nan trờn con đường gập ghềnh Gửi trong những lời tự hào khụng dấu giếm đú, người cha ước mong, hy vọng người con phải tiếp nối, phỏt huy truyền thống để tiếp tục sống cú tỡnh cú nghĩa, thuỷ chung với quờ hương đồng thời muốn con biết yờu quý, tự hào với truyền thống của quờ hương Đoạn thơ rất dồi dào nhạc điệu, tạo nờn bởi điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trỳc cõu và nhịp thơ rất linh họat , lỳc vươn dài, khi rỳt ngắn, lời thơ giản dị, chắc nịch mà lay độg, thấm thớa, cú tỏc dụng truyền cảm manh mẽ

Phẩm chất của con người quờ hương cũn được người cha ca ngợi qua cỏch núi đối lập tương phản giữa hỡnh thức bờn ngoài và giỏ trị tinh thần bờn trong nhưng rất đỳng với người miền nỳi:

“ Người đồng mỡnh thụ sơ đa thịt.

Chẳng mấy ai nhỏ bộ được đõu con”

Người đồng mỡnh tự đục đỏ kờ cao quờ hương

Cũn quờ hương thỡ làm phong tục ".

Đú là những con người sống giản dị mà mạnh mẽ, hồn nhiờn mà mộc mạc Người miền nỳi tuy cú thể mộc mạc, thụ sơ da thịt, cú thể khụng biết núi khộo, khụng biết núi hay… nhung ý

nghĩ của họ, phẩm chất của họ thỡ thật là cao đẹp Chớnh cỏi hồn nhiờn mộc mạc ấy lại chứa đựng sức sống mạnh mẽ của dõn tộc ; giàu chớ khớ, niềm tin, khụng hề nhỏ bộ về tõm hồn, về

ý chớ và đặc biệt là khỏt vọng xõy dựng quờ hương Họ xõy dựng quờ hương bằng chớnh sức lực và sự bền bỉ của mỡnh: "tự đục đỏ kờ cao quờ hương" Cần cự, tự lực, tự cường xd cuộc sống Họ sỏng tạo, lưu truyền và bảo vệ phong tục tốt đẹp của mỡnh biết tự hào với truyền thống quờ hương Họ giữ gỡn bản sắc dõn tộc mà vẫn làm rạng rỡ quờ hương như vậy bởi họ yờu quờ hương sõu nặng và luụn lấy quờ hương làm chỗ dựa tinh thần Nói với con về những

điều đó, ngời cha mong con biết tự hào về truyền thống của quê hơng, tự hào về dân tộc

để tự tin trong cuộc sống

Kết thỳc bài thơ, người cha cũn bộc lộ trực tiếp niềm mong ước này trong lời thủ thỉ dặn

dũ con thiết tha, chõn tỡnh, trỡu mến trong tiếng gọi “con ơi!” và lời nhắn nhủ “nghe con” Song cỏi điều người cha núi với con thỡ thật là ngắn gọn, hàm sỳc mà sõu sắc, đồng thời lại cú chỳt nghiờm nghị của mệnh lệnh trỏi tim:

“Con ơi tuy thụ sơ da thịt

Lờn đường

Khụng bao giờ nhỏ bộ được

Nghe con.

Trong những lời thơ cuối cựng ấy, người cha dặn dũ con cần tự tin mà vững bước trờn đường

Trang 8

đời, tiếp nối những truyền thống tốt đẹp của “người đồng mình”.Con sống được như thế chính

là con phát huy được truyền thống tốt đẹp của cha ông, của quê hương yêu dấu

Bài thơ “Nói với con” của Y Phương giúp chúng ta cảm nhận vẻ đẹp của một áng thơ về tình cha con cao quý, xúc động, góp thêm một tiếng nói yêu thương của cha mẹ đối với con cái cũng như những kì vọng lớn lao, mong muốn thế hệ sau sẽ kế tục, phát triển những truyền thống quý báu của quê hương Bằng cách diễn đạt mộc mạc, thô sơ, bằng những hình ảnh cụ thể mà giàu sức khái quát bài thơ đã thể hiện một cách độc đáo mà cũng thật thấm thía

về tình cảm thiết tha sâu sắc nhất của con người : tình cảm gia đình và tình yêu quê hương xứ

sở

………

Ngày đăng: 12/10/2022, 14:04

w