KAWABATA TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Kawabata Yasunari một trong những nhà văn vĩ đại nhất Nhật Bản từng đoạt giải Nobel Văn chương năm 1968 nhưng cuộc đời ông là chuỗi ngày dài sống trong bi kịch. Bài giảng trình bày: Tiểu sử cuộc đời con người Kawabata Đặc điểm nội dung và nghệ thuật sáng tác Kawabata Giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu
Trang 1KAWABATA TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
Trang 2I BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ THỜI ĐẠI
Nước Nhật đã có chuyển biến lớn vào năm 1866, vua Minh Trị lên ngôi khởi xướng “đổi mới” đất nước với tinh thần “học hỏi phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt lên phương Tây”
Chỉ trong vài ba mươi năm, tính đến lúc Kawabata ra đời (1899), nước Nhật đã thay đổi căn bản
Bộ mặt xã hội Nhật đã thay da đổi thịt, kinh tế, văn hóa, giáo dục
và văn học nghệ thuật cũng thay màu đổi sắc
Văn học tiếp thu nhiều luồng tư tưởng tự do dân chủ của phương Tây: Anh Mĩ, Pháp…đặc biệt là tư tưởng dân quyền của Rusô
Chiến tranh thế giới thứ hai đã đem lại nhiều thay đổi ở Nhật
Nền văn học Nhật trên đà đó mà bước vào thời kì đương đại, nhiều khuynh hướng văn học bắt đầu nảy nở và trở nên phức tạp, với các tên tuổi: Đaijai Oxamu, Misima Yakio, Abêkôbô, Ôê Kenjabure…
Trang 3Đời sống của nhân dân Nhật Bản thời Minh Trị
Trang 4Một đô thị náo nhiệt thời Minh Trị
Trang 5Ngành may mặc theo kiểu Âu
Một công xưởng đang
hoạt động
Trang 6Trường tiểu học tại Thành phố Kudoyama
Trang 7BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VĂN HỌC
Văn học Nhật Bản sau thời Minh Trị cho đến lúc Kawabata qua đời như một con sông lớn Kawabata đã tắm mình trong đó Con sông lớn có nhiều dòng chảy, nhưng Kawabata biết tìm cho mình một dòng chảy trong lành
để tắm tâm hồn mình – tâm hồn của
“một lữ khách u buồn” đi tìm cái Đẹp
đã mất.
Trang 8II TÁC GIẢ 1 Cuộc đời
+ “ Chiếc gương soi trên đỉnh cô đơn”
+ “ Lớn lên trong bóng đen của số phận”
Mồ côi từ nhỏ
- Sinh 11-6-1899, một làng nhỏ ở Osaka
- Kawabata sinh ra trong một gia đình
có học thức và giàu có Người cha là một bác sĩ có học vấn cao, quan tâm và yêu thích văn chương.
- 3 tuổi mồ côi cha, 4 tuổi mất mẹ
- 7 tuổi, 9 tuổi bà ngoại và chị gái duy nhất qua đời, bắt đầu cuộc sống tự lập
- 15 tuổi, ông nội (bị mù), người thân độc nhất còn lại cũng ra đi
Hoàn cảnh mồ côi tạo nên tâm trạng
đặc biệt của Kawabata : Bất hạnh và cô độc
Cảm thức cô đơn hiu quạnh “ hắt bóng
lên các trang văn u buồn của Kawabata”
Trang 9THỜI THƠ ẤU
Cha mẹ mất sớm, Kawabata
sớm rơi vào hoàn cảnh mồ
côi.
Còn lại hai chị em
Kawabata: người chị được dì
đem về nuôi, còn Kawabata
theo ông bà về Toyokawa,
nguyên quán bên nội
Năm 1906, mới lên bảy, bà
nội mất, và ba năm sau, chị
cũng mất, hai chị em chỉ
được gặp lại nhau một lần từ
khi chia cách Kawabata
thay bà chăm nom ông nội
Cô đơn từ bé, Với
vô vàn mất mát này, Kawabata được nhiều nhà nghiên cứu, trong các phần viết về tiểu sử của ông, đặt cho biệt danh
là Soshiki no meijin - Chuyên gia tang lễ.
Kawabata năm 1912
Trang 10 Có khả năng hội họa và ước mơ làm họa sĩ
nhưng lại trở thành nhà văn
- 13 tuổi say mê văn chương, 16 tuổi, khi ông nội
qua đời, viết Nhật kí tuổi 16 -> báo hiệu tài năng
văn học, quên mộng làm họa sĩ
- Thi vào trường Đại học Tổng hợp Tokyo, khoa Anh ngữ sau chuyển sang khoa Ngữ văn Nhật
21 tuổi, yêu và cầu hôn cô gái đẹp Hatsuyo
Ito 14-15 tuổi, nhưng bị từ hôn
=> Chủ đề tình yêu bị từ chối xuất hiện thường
xuyên trong tác phẩm của Kawabata
Trang 11 Yasunari Kawabata nhìn thấy Hatsuyo Ito lần đầu tiên năm 1919, tại quán cà phê Elan ở Tokyo Kawabata khi đó 20 tuổi, đang cân nhắc về việc theo đuổi ngành văn học Nhật Bản ở trường đại học; Ito 13 tuổi, làm phục vụ tại quán cà phê Ito xinh đẹp, tràn đầy năng lượng và cô độc - cô
mồ côi mẹ khi mới lên 9 tuổi Kawabata, cũng như Ito, là một đứa trẻ mồ côi.
Cả hai phải lòng nhau Họ liên lạc với nhau nhiều hơn khi người nuôi nấng Ito thuở nhỏ rời khỏi Tokyo và cô được nhận nuôi tại một ngôi đền ở tỉnh Gifu Tháng 9/1921, khi đã là sinh viên Đại học Đế chế Tokyo (ngày nay là Đại học Tokyo), Kawabata tới thăm Ito Hatsuyo Ito nhận lời lấy Kawabata ngày 8/10/1921.
Trang 12 Họ viết cho nhau những lá thư tràn đầy hy vọng, cùng lên kế hoạch cho tương lai Thế nhưng, chỉ một tháng sau ngày đính ước, Hatsuyo Ito viết cho Kawabata lá thư nói rằng cô không bao giờ có thể gặp lại ông lần nữa Những năm sau đó, hình bóng của Ito - cuộc tình đầu bi thương - được tái hiện trong nhiều tác phẩm nổi tiếng của Kawabatta
Lý do Hatsuyo Ito đột nhiên biến mất luôn là một bí mật bị che phủ
Những lá thư của Ito, được đựng trong
những phong bao nhỏ, chan chứa tình
yêu mãnh liệt, ngây thơ của cô gái trẻ
"Em chưa bao giờ viết những lời yêu
đương trong một lá thư Đây là lần đầu
tiên Cuối cùng em cũng hiểu được thế
nào là tình yêu" Lá thư đề ngày
23/10/1921, một phần vừa được đăng
trên tạp chí Bungei Shunju.
Trang 13là gì? Kaori Kawabata, con rể nhà văn, nói những lá thư mới tìm thấy giúp giải thích
rõ hơn một đoạn nhật ký chưa từng công
bố của Kawabata, viết ngày 20/11/1923 Tiểu thuyết gia viết rằng, ở Saihoji, ngôi đền nơi Ito sống, cô bị một thầy tu cưỡng bức Với mặc cảm không còn trinh trắng, Ito cảm thấy mình không thể nào làm vợ Kawabata, Kaori Kawabata nhận định.
Trang 14 Mối tình đầu không thành đã để lại những nỗi buồn trong cuộc đời Kawabata cũng như ảnh hưởng vào trong sáng tác của ông với chùm truyện có tính cách tự thuật liên quan đến mối tình đầu như:
- Món đồ dễ vỡ (Yowaki Utsuwa, 1924),
- Người con gái đi về phía lửa (Hi ni
yuku kanojo, 1924),
- Chiếc dù đi mưa(Amagasa, 1932),
- Cái cưa và sinh nở (Nokogiri to
Trang 15 Tính cách, quan điểm sống
Chân dung
+ lúc nhỏ: da trắng, mắt to, ốm yếu, ít lời, ghét gây gổ…
+ khi lớn: dáng dấp thiền sư, bước đi nhẹ nhàng tươi cười trong bộ kimono
Tính cách: ý chí vững vàng, tự tin, độ lượng, nâng đỡ các cây
bút trẻ, hay lảng tránh, không thích nói về bản thân, khó nắm bắt nhất trong các nhà văn.
Phương châm sống
+ Tự truyện Đời tôi như một nhà văn (1934) , Kawabata bộc
lộ phương châm sống: “ Tình yêu đối với tôi là sợi dây độc
nhất giữ đời tôi lại”
+ “ Mồ côi tự thủa nhỏ, tôi sống nhờ sự cưu mang của người
khác Có lẽ vì thế mà cuối cùng tôi mất hết khả năng ghét người, ngay cả việc giận họ”
Trang 16 Chủ xướng trào lưu Tân cảm giác (Shikankaku)
- Tân cảm giác (còn gọi là Duy cảm) :
+ Đề cao vai trò của trực giác trong việc cảm thụ cái đẹp; là sự
cảm nhận trực tiếp, không dùng lí trí để phân tích
+ Tìm kiếm, khám phá, thể hiện vẻ đẹp truyền thống bằng cảm giác mới; bằng những rung động tế vi…
- ông đã cùng với Yokomitsu Richi lập ra tờ Văn nghệ thời đại
nhằm thực hiện một "cuộc cách mạng văn học đối đầu với làn sóng văn học cách mạng đương thời"
- Nhằm chống lại chủ nghĩa tự nhiên ở phương Tây, tràn vào và
áp đảo văn chương Nhật từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất
- Tác phẩm thể nghiệm đầu tiên, được coi là kiệt tác : Vũ nữ Izu
- 1924, Kawabata tốt nghiệp đại học, góp phần sáng lập tạp chí Thời đại văn học (Bungeijidai)
- 1940, tham gia Hội nhà văn Nhật Bản
Trang 17- 1942, thành viên Hội văn chương Ái quốc Nhật Bản
=> “bị lôi cuốn bởi những trào lưu hiện đại phương Tây đôi
lúc tôi cũng thử làm theo Nhưng tôi phải giữ cái gốc rễ phương Đông của mình và không bao giờ rời bỏ con đường ấy”.
- 1948, chủ tịch Hội Văn bút Nhật Bản
- 1968, nhận giải Nobel, Kawabata trở thành nhà văn vĩ đại
của thế giới : “ Ông là người tôn vinh cái đẹp hư ảo và hình
ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người” (Lễ trao giải Nobel – Viện Hàn lâm
Thụy Điển)
Trang 18Cái chết của Kawabata
Tự sát là đặc điểm của các nhà văn Nhật, Kawabata cực lực phản đối việc tự sát và phê phán hành động tự sát:
- Năm 1894, quẫn bách vì căn bệnh tâm thần, nhà thơ
Kitamura Tokoku đã tìm đến cái chết lúc đó, ông chỉ mới 25 tuổi.
- Ngày 24/7/1927, nhà văn Ryunosuke Akutagawa tìm đến cái chết ở tuổi 35 bằng những liều thuốc ngủ.
- 25/11/1970, nhà văn Yukio Mishima quyết định kết thúc đời mình bằng nghi thức seppuku Với thanh kiếm của một võ sĩ đạo, ông tự mổ bụng, moi gan và chết rất đau đớn.
16-4-1972, Kawabata tự sát bằng khí ga tại căn nhà nhỏ ven biển, ở thành phố Kamakura, không để lại thư tuyệt mệnh hay lời giải thích nào
Trang 19+ “Cái chết của Kawabata bí ẩn đối
với chúng ta như đời sống và một phần nào đó của đời sống và cái phần đó cũng khó nắm bắt”
+ Câu nói của nhân vật trong tiểu
thuyết Tiếng rền của núi, được coi là lời trăng trối của Kawabata : “Tốt
nhất là hãy từ bỏ thế giới này khi mọi người còn yêu mến và kính trọng ta”
Trang 20- Nhiều nguyên nhân được phỏng đoán:
+ Nhà văn đòi hỏi ở mình quá cao.Vì ông cảm thấy
bế tắc trong sáng tác, vì những sáng tác ra đời sau không vượt được những tác phẩm đã đưa tên tuổi ông được biết đến trên toàn thế giới Kawabata chết để giữ mãi vị trí đỉnh cao của mình.
+ Sức khỏe kém, tâm trạng u buồn cô độc không người chia sẻ
+ Không cứu rỗi được cái Đẹp đang suy tàn
Trang 21KẾT LUẬN
Cuộc đời của Yasunari Kawabata là một cuộc đời buồn! Buồn vì những nỗi sinh ly tử biệt Buồn bởi sự hưng vong của dân tộc Nhật Bản Và cả những nỗi buồn vu vơ không thể gọi thành tên song thấm thía và dịu ngọt.
Trong diễn văn đọc tại lễ trao giải Nobel Văn học 1968 Tiến
sĩ Anders Usterling xác nhận: "Yasunari Kawabata là người
tôn vinh vẻ đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người Với tư cách nhà văn ông đã truyền đạt một nhận thức văn hóa có thẩm mỹ
và đạo đức cao bằng một phong cách nghệ thuật độc đáo do
đó đóng góp vào cầu nối tinh thần Đông - Tây theo cách của ông"
Trang 22Nghệ thuật văn chương
“ Người mở cánh cửa tư duy và tâm hồn Nhật Bản vốn bí ẩn
và kín đáo”
1 Quan điểm sáng tác
Lưu giữ và cứu rỗi di sản, truyền thống mĩ học của dân tộc; coi đó là cội nguồn cảm hứng và ý đồ sáng tạo (ảnh hưởng sâu
sắc Truyện Genji , thi pháp thơ haiku , tư tưởng Phật giáo)
=> Quan điểm về cái Đẹp
+ Cái Đẹp mong manh, bất toàn ; cái Đẹp sinh ra từ nỗi buồn…
+ Cảm thức thẩm mĩ chủ đạo của Kawabata : Aware, sabi
Dung hợp giữa truyền thống và hiện đại; kết hợp chặt chẽ sinh động mỹ học, triết học NB với việc thể hiện bằng kĩ thuật viết văn phương Tây ; sử dụng thủ pháp Dòng ý thức
Trang 23 Dòng ý thức : thuật ngữ của nhà tâm lí hoc W James
và thuyết trực giác H.Bergson)
Ứng dụng của Kawabata trong sáng tác : truyện không
có cốt truyện; thời gian đồng hiện; hòa trộn thực- hư; đan xen hiện tại – quá khứ- tương lai
Trang 242 Văn nghiệp
Thơ ca và truyện ngắn của Kawabata được ấn hành ngay từ lúc ông còn là học sinh trung học Ông đặc biệt thành công với loại truyện ngắn trong lòng bàn
tay: "Tuổi trẻ trong đời nhiều nhà văn thường dành
cho thơ ca; còn tôi, thay vì thơ ca, tôi viết những tác phẩm nhỏ gọi là truyện ngắn trong lòng bàn tay Hồn thơ những ngày trẻ tuổi của tôi sống sót trong những câu chuyện ấy "
Khi còn là sinh viên ông tiếp cận cả văn học phương
Đông lẫn phương Tây: "Tôi đã tiếp nhận nồng nhiệt
văn chương Tây phương hiện đại và tôi cũng đã thử bắt chước nó, nhưng chủ yếu tôi là một người Đông phương và suốt mười lăm năm qua tôi chưa từng đánh mất phong cách ấy của mình."
Trang 25Năm 1925, tiểu thuyết “Vũ nữ ở Itzu”
ra đời Sau đó, ông bắt đầu sáng tác nhiều tiểu thuyết, đạt được nhiều thành công
Năm 1968, ông đạt giải Nobel văn học với bộ ba tác phẩm: “Xứ tuyết”,
“Ngàn cánh hạc” và “Cố đô”
Bốn năm sau, năm 1972, nhà văn tự sát bằng hơi độc tại nhà riêng
Trang 26MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ OSAKA VÀ KYOTO
Trang 27TÁC PHẨM:
Tiểu thuyết: Vũ nữ xứ Itzu, Hồng đoàn
Asakusa, Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Tiếng rền của núi, Cái hồ, Người đẹp say ngủ
Truyện ngắn: Danh thủ cờ vây, Lễ chiêu hồn,
Tên cha, Cầm thú, Cánh tay…
Tự truyện: Thư gửi mẹ cha, Cảm giác của cô
nhi, Bậc thầy tang lễ
Tùy bút: Thiếu niên, Cái nhìn cuối cùng, Người
tái hôn, Thanh âm trong suốt
Trang 28Truyện ngắn
- Kawabata có biệt tài về truyện ngắn, truyện ngắn của ông được gọi là truyện ngắn Thiền
+ Đa dạng về đề tài + những quan sát sắc sảo về cách ứng xử + những khám phá bất ngờ
+ yếu tố kì ảo đạt tới độ siêu đẳng
- K tự đánh giá: “Trong các truyện ngắn của tôi người ta tìm thấy Điều không tồn tại … Theo tôi, đó cũng chính là Thiền”
Trang 29Truyện ngắn lòng bàn tay
- Chưởng chi tiểu thuyết: “Như một thiên hà tự cô đúc,
như biển xanh tự giấu mình trong vỏ sò mà vẫn sóng gió”
- Kawabata đã khai sinh ra tên gọi này, với số lượng
sáng tác khoảng 150 truyện
- Khởi viết năm 1924, coi thể loại này là “Hồn thơ
của những ngày trẻ tuổi”
- Kiệt tác văn học hay nhất của thế kỉ XX
- Truyện chỉ gồm 1->2 trang giấy nhưng sự cô đọng hàm súc đạt độ tuyệt vời; được coi như một cuốn
tiểu thuyết hoàn chỉnh
Trang 30CÁC TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA KAWABATA
1952
Cố đô
1961
Người đẹp say ngủ
1962
Truyện ngắn trong lòng bàn tay
1971
Trang 31"Yasunari Kawabata là người tôn vinh vẻ đẹp hư ảo
và hình ảnh u uẩn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người Với tư cách nhà văn, ông đã truyền đạt một nhận thức văn hóa
có thẩm mỹ và đạo đức cao, bằng một phong cách nghệ thuật độc đáo, do đó đóng góp vào cầu nối tinh thần Đông - Tây theo cách của ông” (Tiến sĩ Anders
Usterling )
“ Tất cả những phát hiện nghệ thuật có đựơc
trong tác phẩm của ông như những yếu tố
mang tính cá nhân độc đáo, bất ngờ đều
xuất phát từ những ngọn nguồn xa xưa của
văn học Nhật, từ cội nguồn văn hóa dân tộc”
(N Phêđôrencô)
Trang 32• Tác gia lớn nhất của văn học NB tk XX, nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận giải
Nobel, với bộ ba tác phẩm Xứ Tuyết
(Yukiguni), Ngàn cánh hạc (Sembazuru),
Cố đô (Kyoto)
• Là hiện tượng kì diệu của văn học Nhật Bản
• Là nhà văn sinh ra bởi vẻ đẹp của Nhật
Bản (Japan the beautiful and myself)
• Là “Người cứu vớt cái đẹp”
Trang 33NỘI DUNG TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA KAWABATA
Thế giới của cái Đẹp
Thế giới của nỗi buồn, niềm
bi cảm Nhật Bản.
Trang 341 THẾ GIỚI CỦA CÁI ĐẸP
- Vẻ đẹp của thiên nhiên
Thiên nhiên là ngoại cảnh tuyệt đẹp
Thiên nhiên là tâm cảnh, đồng điệu với con người
Nhân vật của Kawabata thường đắm chìm trong thiên nhiên,
hòa đồng với thiên nhiên bằng thế giới tâm hồn của mình
Đọc truyện của Kawabata, ta có thể hình dung vẻ đẹp diệu kì
của thiên nhiên Nhật Bản
- Vẻ đẹp của con người: lữ khách và nhân vật nữ
Trang 35VẺ ĐẸP CỦA CON NGƯỜI
- Lữ khách:
+ Kể từ tác phẩm “Vũ nữ Itzu”, các nhân vật chính trong truyện
của Kawabata thường là “người khách đi đường”, một người khách mải mê tìm kiếm niềm trinh bạch của cái Đẹp và tình yêu
Họ có một tâm hồn lãng du và một trái tim đa tình
+ Cuộc du hành tâm thức, tìm kiếm bản ngã của chính mình
- Chân dung Người Nữ
+ Vẻ đẹp thanh cao : cái đẹp trinh trắng; trái tim đa cảm, diễm tình đầy nữ tính; tận tụy hết lòng; say đắm hết lòng…
+ Sức mạnh cứu rỗi và giải thoát: hy sinh bền bỉ thầm lặng và tự nguyện; vẻ đẹp giản dị tự thân; trái tim yêu thương không bị chi
phối bởi lí trí; tấm lòng của người mẹ trong người vợ, người
tình