Vốn tài liệu đã được xác định trong Điều 2 Pháp lệnh Thư viện là “những tài liệu được sưu tầm tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định được xử ỉý theo quy tắc, quy trình khoa học củ
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG KON TUM
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: THƯ VIỆN HỌC ĐẠI CƯƠNG
Trang 2MỤC LỤC Trang
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN iii
LỜI GIỚI THIỆU iv
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THƯ VIỆN HỌC 2
1 Khái quát chung về thư viện 2
1.1 Khái niệm thư viện 3
1.2 Các yếu tố cấu thành thư viện 4
1.3 Bản chất, chức năng của thư viện 7
1.4 Nhiệm vụ của thư viện 11
2 Vai trò xã hội của thư viện 12
2.1 Thư viện là kho tàng tri thức và các giá trị văn hoá của nhân loại 14
2.2 Thúc đẩy sự phát triển của khoa học và kỹ thuật 15
2.3 Góp phần nâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân 15
3 Vài nét về lịch sử thư viện 17
3.1 Lịch sử thư viện thế giới 17
3.2 Lịch sử thư viện Việt Nam 19
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 22
CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA THƯ VIỆN HỌC 23
1 Đối tượng nghiên cứu của thư viện học 23
2 Cấu trúc của thư viên học 24
3 Phương pháp nghiên cứu của thư viện học 27
3.1 Các nguyên tắc trong nghiên cứu thư viện học 27
3.2 Hệ phương pháp nghiên cứu trong thư viện học 31
4 Sự nghiệp thư viện thế giới và Việt Nam 34
4.1 Sự nghiệp thư viện thế giới 34
4.2 Sự nghiệp thư viện ở Việt Nam 36
5 Mối quan hệ giữa thư viện học với các ngành khoa học khác 38
5.1 Thư viện học với Tâm lý học 38
5.2 Thư viện học với Giáo dục học 40
5.3 Thư viện học với Xã hội học 40
5.4 Thư viện học với Thông tin học 41
Trang 35.5 Thư viện học với Thư mục học 42
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 44
CHƯƠNG 3: CÁC NGUYÊN LÝ TỔ CHỨC THƯ VIỆN 45
1 Các quy luật phát triển sự nghiệp thư viện 45
1.1 Sự phát triển của kinh tế - xã hội quyết định sự phát triển của sự nghiệp thư viện 45
1.2 Sự phát triển của nền văn hoá nhân loại, quy định sự phát triển của sự nghiệp thư viện 46
1.3 Chính sách phát triển giáo dục ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp thư viện 47
2 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý tổ chức sự nghiệp thư viện Việt Nam 48
2.1 Cơ sở lý luận tổ chức sự nghiệp thư viện Việt Nam 49
2.2 Cơ sở pháp lý tổ chức sự nghiệp thư viện Việt Nam 49
3 Các nguyên lý tổ chức sự nghiệp thư viện Việt Nam 52
3.1 Nguyên lý vai trò của Nhà nước 52
3.2 Nguyên lý đảm bảo tính công cộng 54
3.3 Nguyên lý tính hệ thống trong xây dựng mạng lưới thư viện 55
3.4 Nguyên lý xã hội hóa hoạt động thư viện 56
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 59
CHƯƠNG 4: CÁC LOẠI HÌNH VÀ HỆ THỐNG THƯ VIỆN 60
1 Các loại hình thư viện 60
1.1 Ý nghĩa và cơ sở phân chia các loại hình thư viện 60
1.2 Các loại hình thư viện 62
2 Hệ thống thư viện chủ yếu ở Việt Nam 66
2.1 Hệ thống thư viện công cộng nhà nước 66
2.2 Hệ thống thư viện khoa học 77
2.3 Hệ thống thư viện trường học phổ thông 78
2.4 Hệ thống thư viện quân đội 79
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Error! Bookmark not defined GỢI Ý ĐÁP ÁN CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Giáo trình “Thư viện học đại cương” được biên soạn dựa trên khung Chương trình đào tạo ngành, nghề Quản trị văn phòng, trình độ cao đẳng Mục đích của giáo trình là để làm tài liệu giảng dạy chính thức cho giảng viên và làm tài liệu học tập chính thức cho người học ngành, nghề Quản trị văn phòng ở trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum Giáo trình “Thư viện học đại cương” do tôi biên soạn có tham khảo “Giáo trình Thư viện học đại cương” của Nhiều Tác Giả, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội; 2014 nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình “Thư viện học đại cương" được biên soạn nhằm cung cấp cho sinh viên ngành, nghề Quản trị văn phòng, trình độ cao đẳng và người đọc những kiến thức lý luận cơ bản về thư viện học, lịch sử thư viện học, hình thành những kiến thức hiểu biết cơ bản về tính quy luật của sự phát triển của sự nghiệp thư viện, những nguyên tắc tổ chức thư viện ở Việt Nam và nước ngoài cũng như những tính chất cơ bản của nghề thư viện
Giáo trình được cấu trúc 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận thư viện học
Chương 2 Các vấn đề lý thuyết cơ bản của thư viện học
Chương 3 Các nguyên lý tổ chức thư viện
Chương 4 Các loại hình và hệ thống thư viện
Mỗi chương được trình bày theo cấu trúc: mục tiêu; nội dung; câu hỏi ôn tập; bài tập thực hành
Để hoàn thành được giáo trình, tôi chân thành cảm ơn đến các chủ biên của các tài liệu tham khảo; cảm ơn sự góp ý phản biện từ phía Hội đồng thẩm định Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum; cảm ơn sự góp ý từ đồng nghiệp
Kon Tum, ngày 10 tháng 7 năm
Trang 6GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
TÊN MÔN HỌC: THƯ VIỆN HỌC ĐẠI CƯƠNG
THÔNG TIN CHUNG VỀ MÔN HỌC
Mã môn học: 61033068
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:
- Vị trí:
Môn học thuộc khối kiến thức cơ sở của ngành, nghề Quản trị văn phòng
hệ cao đẳng, được bố trí vào năm học thứ hai
- Tính chất:
Là môn học nghiên cứu hệ thống kiến thức lý luận thư viện học nhằm thực hiện mục tiêu cung cấp kiến thức ngành, nghề Quản trị văn phòng
- Ý nghĩa và vai trò của môn học:
Môn học Thư viện học đại cương có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc cung cấp một phần kiến thức, kỹ năng ngành, nghề Quản trị văn phòng
Mục tiêu của môn học:
- Phân biệt được các hệ thống thư viện chủ yếu ở Việt Nam
- Phân tích được ý nghĩa và cơ sở phân chia loại hình thư viện
Trang 7- Có kỹ năng tư duy, phân tích, phát hiện và giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực thư viện
3 Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
- Yêu thích môn học để từ đó có trách nhiệm với việc học tập của bản thân và với nghề nghiệp trong tương lai
- Có năng lực tự định hướng, tự học tập, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm
để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, giải quyết được các vấn đề giảng viên yêu cầu
NỘI DUNG CỦA MÔN HỌC CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THƯ VIỆN HỌC
Mã chương: 61033068 – 01 GIỚI THIỆU
Thư viện là một thiết chế văn hóa quan trọng không thể thiếu trong cấu trúc thống nhất của các thiết chế phục vụ văn hóa, thông tin cho người dân Thư viện được phân bố đều khắp ở tất cả các vùng của lãnh thổ, địa phương, đơn vị, trường học, phục vụ rộng rãi tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, dân tộc, tôn giáo, trình độ, giới tính, ngôn ngữ, quốc tịch và địa vị xã hội… góp phần nâng cao trình độ dân trí, học tập suốt đời và giải trí cho nhân dân
Chương 1 đề cập đến những khái niệm cơ bản của môn học và các vấn đề
lý thuyết cơ bản của thư viện học như: khái niệm thư viện; chức năng, vai trò của thư viện; sự hình thành và phát triển của thư viện học nước ngoài và Việt
Nam
MỤC TIÊU
Sau khi học chương này, người học có khả năng:
- Trình bày được cơ sở lý luận thư viện học; giải thích được các khái niệm, chức năng, vai trò, sự hình thành và phát triển của thư viện học
- Thực hiện thành thạo kỹ năng đọc, tra cứu tài liệu thư viện
- Yêu thích môn học, có trách nhiệm trong học tập bộ môn
NỘI DUNG
1 Khái quát chung về thư viện
Trang 81.1 Khái niệm thư viện
Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên thế giới như
hiện nay, hoạt động thông tin nói chung và thư viện nói riêng ngày càng đóng vai
trò quan trọng trong đời sống xã hội Thư viện đang thực sự có những bước đột biến, đi vào chiều sâu về cả lượng và chất, các thư viện nói chung đóng vai trò hết
sức quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, và xã hội
Theo các nhà nghiên cứu, thư viện là một mặt của đời sống xã hội, từ khi
ra đời đến nay đã tồn tại song hành cùng quá trình phát triển của loài người Thư viện đã góp phần giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền thống cách mạng, góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phong phú
và đa dạng về đời sống tinh thần của nhân dân
Thư viện học hay còn gọi là khoa học thư viện là một ngành khoa học có lịch sử phát triển lâu dài, có nội dung lý thuyết phong phú Để tiếp cận và tìm hiểu cơ sở lý luận về thư viện học đòi hỏi chúng ta phải nắm được những khái niệm và một số thuật ngữ cơ bản như: thư viện, tài liệu, cán bộ thư viện, người đọc, thư viện học (1)
Theo "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học: Thư viện là "nơi lưu giữ sách báo, tài liệu và tổ chức cho bạn đọc sử dụng”
Trong cuốn “Từ điển giải nghĩa Thư viện học Anh Việt” của Hội thư viện Hoa Kỳ "Thư viện là một sưu tập những tài liệu đã được tổ chức để đáp ứng nhu cầu của một nhóm người mà thư viện có bổn phận phục vụ để cho họ có thể sử dụng cơ sở của thư viện, truy dụng thư tịch cũng như trau dồi kiến thức của họ"
Hầu hết các định nghĩa trên đều nhìn nhận và xem xét thư viện dưới góc
độ vai trò và chức năng của thư viện mà chưa đề cập đến những thành tố của thư viện Theo quan điểm tiếp cận hệ thống của nhà thư viện Nga Xtaliarôp, thư viện được xác định là một hệ thống bao gồm bốn yếu tố: tài liệu, người đọc, người cán bộ thư viện và cơ sở vật chất kỹ thuật Bốn yếu tố này gắn kết chặt chẽ với nhau, trong đó tài liệu là nền tảng vật chất của hệ thống, người đọc là
Trang 9mục tiêu vận hành của hệ thống, cán bộ thư viện có vai trò là người điều khiển, vận hành hệ thống và cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố đảm bảo sự vận hành, là môi trường bên trong của hệ thống
Bao hàm và khái quát đầy đủ nhất bản chất của thư viện, UNESCO (Tổ chức Văn hoá Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc) đã đưa ra khái niệm sau: "Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác kể cả đồ hoạ, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí”
Tóm lại, theo ý nghĩa truyền thống, một thư viện là kho sưu tập sách, báo
và tạp chí Hiểu theo cách khái quát nhất thư viện là nơi tàng trữ và tổ chức sử dụng tài liệu có tính chất tập thể và xã hội Trong thời đại mới, thư viện vẫn luôn luôn được coi là tòa lâu đài trí tuệ của nhân loại, nơi lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của loài người, là một bộ phận văn hóa và mang thêm sắc thái mới - là trung tâm thông tin, là một bộ phận cấu thành trong hệ thống thông tin
tư liệu của các nước, là nơi thu thập và thỏa mãn nhu cầu thông tin cho quảng đại quần chúng
Tại Khoản 1, Điều 3 Luật Thư viện: Thư viện là thiết chế văn hoá, khoa học, giáo dục có chức năng thu thập, tổ chức, bảo quản và bảo tồn sách vở, tài liệu và phục vụ nhu cầu đọc để góp phần xây dựng một xã hội học tập bền
vững.(2)
1.2 Các yếu tố cấu thành thư viện
1.2.1 Vốn tài liệu thư viện
Vốn tài liệu là một yếu tố rất quan trọng cấu thành nên thư viện, đảm bảo cho thư viện có thể hoạt động bình thường Vốn tài liệu đã được xác định trong Điều 2 Pháp lệnh Thư viện là “những tài liệu được sưu tầm tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định được xử ỉý theo quy tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt hiệu quả cao và được bảo quản", về bản chất có thể hiểu vốn tài liệu là một bộ sựu tập bao gồm các tài liệu được xử lý, tổ chức theo những quy tắc nhất định, được bảo quản nhằm mục đích sử dụng lâu dài và có hiệu quả
Trang 10Đốì với nhiều thư viện, vốn tài liệu được coi là tài sản quý là niềm tự hào của thư viện đó Theo quan niệm của nhiều người, vốn tài liệu của thư viện còn được coi là di sản văn hoá của nhân loại, vốn tài liệu của một quốc gia không chỉ đơn thuần là di sản văn hoá của dân tộc mà còn là thước đo đánh giá trình độ phát triển của quốc gia đó
Trong vốn tài liệu của thư viện có thể bao gồm nhiều loại hình tài liệu với các dạng vật chất khác nhau Vì thế khi đề cập đến thư viện, chúng ta không thể
bỏ qua khái niệm tài liệu Khái niệm tài liệu trong các cơ quan thông tin thư viện được xác định là những vật mang tin, trong đó có lưu giữ các thông tin Tài liệu
là đối tượng được các thư viện quan tâm thu thập, xử lý trong quá trình xử lý thông tin, tư liệu Trong cuốn "Thư viện học đại cương”, các nhà thư viện học người Nga N.c Cartaxov và Xcvortxov đã xác định thuật ngữ tài liệu trong hệ thống các khái niệm thư viện học chủ yếu là các xuất bản phẩm
Trên thực tế dưới thời cổ đại, tài liệu được tồn tại dưới hình thức các vật mang tin thô sơ như các chữ ghi trên đất, đá, lá cây, thẻ tre, đá, xương thú, lụa giấy gỗ, kim loại Đến thế kỷ XV, sau khi công nghệ in ra đời, các xuất bản phẩm in trên giấy như: sách, báo tạp chí đã trở thành dạng tài liệu chiếm ưu thế Sau này với sự phát triển của công nghệ khoa học hiện đại, tài liệu đã xuất hiện dưới nhiều dạng vật mang tin mối như; vi phim, vi phiếu, băng từ, đĩa từ, đĩa CD-ROM, DVD Vì thế cách định nghĩa đầy đủ nhất là cách định nghĩa trong Pháp lệnh Thư viện của Việt Nam: “tài liệu là một dạng vật chất đã ghi nhận thông tin ở dạng thành văn, âm thanh, hình ảnh nhằm mục đích bảo quản
và sử dụng”
1.2.2 Cán bộ thư viện
Cán bộ thư viện là các nhân viên đảm nhiệm các công việc chuyên môn trong các thư viện Họ là những người được đào tạo để nắm vững nghiệp vụ thư viện và nắm giữ những cương vị nhất định trong thư viện, N.c Crupxcaia 20 đã
ví họ là linh hồn của thư viện
Người cán bộ thư viện giữ vai trò quan trọng trong công tác thư viện Đối với tài liệu và các nguồn thông tin, người cán bộ thư viện phải nắm bắt, tiến hành việc lựa chọn, thu thập, xử lý, sắp xếp, bảo quản, khai thác và tuyên truyền giới thiệu chúng với người đọc Đối với người đọc và ngưòi dùng tin, người cán
bộ không chỉ là ngưòi đơn thuần giữ sách và tài liệu, thực hiện việc lấy tài liệu
Trang 11phục vụ nhu cầu đọc và nhu cầu thông tin của họ mà người cán bộ thư viện còn phải tiến hành việc hướng dẫn đọc, nghiên cứu về người đọc và tạo lập nên bộ máy tra cứu và các dịch vụ tối ưu để thoả mãn các nhu cầu đó
Đối với các cơ sở vật chất kỹ thuật trong thư viện, người cán bộ thư viện cần phải được trang bị kiến thức, nắm được cách vận hành, sử dụng các phương tiện kỹ thuật và duy trì chúng ở tình trạng tốt nhất
Dưới thời cổ đại và trung đại, ngưòi phụ trách thư viện thường là những nhà khoa học và những nhà văn hoá lớn Ở Việt Nam, dưới thời phong kiến, chỉ những người đỗ đạt cao mới được bổ nhiệm làm bí thư các phụ trách thư viện ở Quốc Tử Giám Ngày nay các cán bộ thư viện không chỉ đơn thuần là ngưòi lưu giữ, bảo quản tài liệu mà còn là người làm chủ các nguồn tin, biết cách khai thác, tra cứu, xử lý bao gói thông tin để thoả mãn các nhu cầu đọc và nhu cầu thông tin của xã hội nói chung và người đọc, người dùng tin nói riêng
Theo quy định của Pháp lệnh Thư viện của Việt Nam, người làm công tác thư viện có quyền học tập nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, tham gia nghiên cứu khoa học, sinh hoạt về chuyên môn, được hưỏng chế độ ưu đãi về nghề nghiệp cũng như các chế độ chính sách khác của Nhà nước Tuy nhiên, họ có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật, các quy định về chuyên môn và quy chế của thư viện
1.2.3 Người đọc của thư viện
Vể mặt thuật ngữ, người đọc còn được gọi là bạn đọc hay độc giả Trong những năm gần đây, khái niệm người đọc đã được mở rộng, và được sử dụng cùng vói thuật ngữ người dùng tin, người sử dụng thư viện Người đọc là đối tượng phục vụ của thư viện Họ là những người sử dụng thư viện và các nguồn lực có trong thư viện với các mục đích khác nhau Người đọc có thể bao gồm: các cá nhân hoặc một nhóm ngưòi của tập thể sử dụng thư viện trên cơ sở đã được ghi nhận trong hồ sơ đăng ký người đọc của thư viện Người đọc trên thực
tế có thể còn là người mượn hoặc người dùng tin tùy theo cách gọi trong các trường hợp cụ thể
Trong thư viện học, ý nghĩa cơ bản của khái niệm này thể hiện ỏ chỗ người đọc là đối tượng phục vụ chủ yếu của thư viện dù thuộc bất cứ loại hình hay hệ thống thư viện nào Về mặt pháp lý người đọc là các cá nhân hay pháp
Trang 12nhân sử dụng các địch vụ của thư viện Theo quy định của từng nước, người đọc
có những quyền lợi và trách nhiệm nhất định khi sử dụng thư viện Ở Việt Nam, tại các thư viện hoạt động bằng ngân sách của Nhà nước, người đọc được sử dụng tài liệu của thư viện không phải trả tiền Tuỳ thuộc vào các loại hình và đặc điểm của các thư viện, người đọc có thể là người lớn, trẻ em, người khiếm thị và cả những người đang bị phạt tù hoặc tạm giam Theo quy định của Pháp lệnh Thư viện của Việt Nam, người đọc phải có trách nhiệm chấp hành nội quy của thư viện, bảo quản tài liệu, tham gia xây dựng, phát triển vốn tài liệu và chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm trong việc sử dụng vốn tài liệu của thư viện
1.2.4 Cơ sở vật chất - kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật là các tòa nhà trụ sở địa điểm diện tích dành cho thư viện với toàn bộ trang thiết bị của chúng
Vai trò của cơ sở vật chất:
- Đối với tài liệu cơ sở vật chất kỹ thuật là nơi chứa đựng tàng trữ và bảo quản tài liệu
- Đối với bạn đọc, cơ sở vật chất kỹ thuật là nơi bạn đọc làm việc với các tài liệu, tiếp xúc với các nguồn thông tin trong nước và thế giới, nơi gặp gỡ và trao đổi thông tin với bạn bè đồng nghiệp
- Đối với cán bộ thư viện, cơ sở vật chất kỹ thuật là nơi học vận dụng kiến thức vào thực tiễn thực hiện các hoài bão ước mơ về nghề nghiệp
1.3 Bản chất, chức năng của thư viện
1.3.1 Bản chất của thư viện
Về mặt phương pháp luận, việc hiểu đúng đắn bản chất của thư viện học
có ý nghĩa rất quan trọng đối với chinh lý thuyết thư viện cũng như đối với thực
tế thư viện Không hiểu đúng đắn bản chất của thư viện học thì sẽ không hiểu thấu đáo, không thể nhận thức, không thể coi thư viện học như một khoa học Sự giải thích không vững chắc thư viện học có thể gây hậu quả hiểu sai mục đích cơ bản của thư viện học, hiểu sai nhiệm vụ của thư viện học, hiểu sai lĩnh vực tìm tòi khoa học và giới hạn của lĩnh vực này
Trang 13Bản chất của thư viện học là sự tổng hợp bằng sự tư duy trừu tượng - logic, khám phá phần cốt lõi của nội dung chủ yếu đích thực và khách quan của thư viện học, bằng những hình thức tư duy lý thuyết khác nhau, thống nhất, những tính chất, những phương diện, những mối liên hệ cần thiết, vốn có của thư viện học như một khoa học hoàn chỉnh và thống nhất hữu cơ không thể chia cắt
1.3.2 Chức năng của thư viện
1.3.2.1 Chức năng văn hóa
Chức năng văn hoá của thư viện được thực hiện thông qua việc lưu trữ, bảo quản và phổ biến các giá trị văn hoá Sách báo và tài liệu được coi là một dạng di sản văn hoá thành văn Khi tiến hành việc thu thập, bảo quản các tài liệu cũng có nghĩa là thư viện đã tiến hành việc bảo quản di sản văn hoá của quốc gia
và nhân loại Tất cả các thư viện với các loại hình khác nhau đều quan tâm thực hiện chức năng này Điều này càng được thể hiện rõ trong một số thư viện có quyền nhận lưu chiểu văn hoá phẩm (điển hình như thư viện Quốc gia)
Trên một phương diện nào đó, thư viện đã được coi là bộ nhớ của các quốc gia và của cả loài người Thực tế ở Việt Nam và các nước trên thế giới đã cho thấy từ lâu thư viện đã trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hoá tinh thần Thư viện đã góp phần không nhỏ vào việc tuyên truyền các đi sản văn hoá, phổ biến kiến thức, thu hút nhiều đối tượng người đọc khác nhau đến sử dụng Thư viện là trung tâm sinh hoạt văn hoá của cộng đồng (3)
Thư viện giúp truyền bá tri thức, giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại Chức năng phụ thuộc vào chất lượng tư liệu, tài liệu mà thư viện sở hữu, các tư liệu các giá trị, đáp ứng cả yêu cầu về chất và lượng, thì đây hoàn toàn là chức năng quan trọng, góp phần giúp người sử dụng tiếp xúc với các tinh hoa dân tộc
và nhân loại
Các tài liệu, tư liệu mà thư viện có được dựa trên chức năng của nó dù là tài liệu gì thì cũng điều có giá trị, nhưng điều quan trọng, thư viện thường là nơi lưu giữ và bảo tồn những tài liệu có giá trị văn hóa to lớn, những tài liệu với lịch
sự lâu đời, ghi rõ dấu ấn văn hóa dân tộc hoặc nhân loại, được truyền từ đời này qua đời khác và đôi khi đó còn được coi là tài sản quý giá được quốc gia ghi nhận và giữ gìn cẩn trọng nhất Đó cũng là một niềm tự hào mà quốc gia đang
Trang 14có
1.3.2.2 Chức năng thông tin
Nơi nào hội tụ và chứa đựng nhiều thông tin nhất? Chính là thư viện Chức năng thông tin được tiến hành với việc chuyển giao thông tin có trong tài liệu tới bạn đọc thông qua việc phục vụ các nhu cầu đọc sách báo Trong những năm gần đây, chức năng thông tin của thư viện đặc biệt được chú trọng Từ quản trị tài liệu, các thư viện đã và đang chuyển sang quản trị thông tin Từ việc cung cấp tài liệu cho bạn đọc thư viện đã hướng tới việc cung cấp thông tin Các thư viện không chỉ dừng lại cung cấp thông tin thư mục (thông tin về tài liệu) như trước đây mà đã quan tâm đến việc cung cấp thông tin theo yêu cầu của bạn đọc
và người dùng tin với các khổ mẫu khác nhau Điều này không chỉ được chú trọng trong các thư viện chuyên ngành, thư viện các trường đại học, thư viện viện nghiên cứu mà còn được triển khai ỏ tất cả các thư viện khác
Trong Tuyên ngôn của UNESCO về thư viện công cộng, thư viện công cộng cũng đã được xác định là: "trung tâm thông tin địa phương tạo điều kiện cho người sử dụng của mình sự tiếp cận nhanh chóng tới tri thức và thông tin ở tất cả các dạng thức” Việc áp dụng công nghệ thông tin đã giúp các thư viện không ngừng phát triển các loại hình dịch vụ khác nhau nhằm cung cấp thông tin cho bạn đọc Bạn đọc, người dùng tin đã nhận được thông tin từ các thư viện với nhiều dạng thức khác nhau như: thông tin thư mục, thông tin dữ kiện, thông tin điện tử
Như vậy, chức năng của thư viện là nơi xây dựng, xử lý, lưu giữ, bảo quản, kết nối và phát triển tài nguyên thông tin Đây là chức năng đặc trưng và cốt lõi nhất của thư viện, với chức năng này, thư viện trở thành một “trung tâm thông tin khổng lồ” với hàng loạt các tài liệu, tư liệu có giá trị có thể được thống
kê và xác định Chính vì là nguồn tài nguyên thông tin, do đó, sự mở rộng là không giới hạn và quan trọng thư viện phải là nơi kết nối được người đọc và thông tin, tính phù hợp với người sử dụng quyết định đến sự tồn tại của thư viện trong thời gian ngắn hay dài
1.3.2.3 Chức năng giáo dục
Một con người hay một quốc gia được xem là phát triển hay không thì không đơn giản là dựa vào nền kinh tế Thay vào đó chính là vấn đề giáo dục,
Trang 15mức độ được tiếp cận tri thức và phổ cập giáo dục trên tổng số dân của quốc gia
đó là bao nhiêu, mức độ được đào tạo chuyên sâu nhiều hay ít Tất nhiên tri thức
và giáo dục không phải là thần dược mà cứ tốt là phát triển nhanh chóng, thế nhưng đây là con đường duy nhất và khả quan nhất để tạo ra những bước đột phá mới Chính vì thế mà thư viện trở thành nơi có ý nghĩa hơn bao giờ hết khi mọi điều quý giá nhất đều được lưu trữ, bảo quản ở nơi đây
Chức năng giáo dục của thư viện được thực hiện thông qua họat động phục vụ nhu cầu đọc sách báo của người đọc và người dùng tin Thông qua hoạt động này, thư viện đã giúp cho người đọc và người dùng tin không ngừng nâng cao hiểu biết, và góp phần tích cực vào việc nâng cao trình độ dân trí của xã hội
Ngay từ thời kỳ phong kiến, ở Việt Nam và Trung Quốc, thư viện đã được coi là một cơ quan giáo dục quan trọng Không chỉ là nơi đọc sách, trong một số thư viện còn tổ chức các lớp học Người cán bộ giữ thư viện không chỉ đơn thuần là người quản lý tài liệu và phục vụ nhu cầu đọc sách mà còn là những người thầy dạy cho các môn đồ đến học
Ở châu Âu, tại nhiều nước, thư viện đã được xem là cơ quan giáo dục ngoài nhà trường Thư viện đã góp một phần không nhỏ vào việc xoá mù chữ và nâng cao trình độ dân trí, giúp cho mọi người có thể tiến hành việc học suốt đời, hướng tới xây dựng một xã hội học tập, hình thành nền kinh tế tri thức
Thư viện được coi là môi trường hữu hiệu nhất để người sử dụng, đặc biệt
là học sinh, sinh viên được tiếp xúc với các giá trị tốt đẹp của nhân loại, các tri thức mà thư viện mang lại phong phú, đa dạng, đặc sắc và có tính ứng dụng, vì vậy, việc sử dụng hiệu quả thư viện sẽ giúp người sử dụng phát triển toàn diện, đội ngũ cán bộ, công chức, lực lượng quân nhân không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn Là cơ sở để xây dưng một “xã hội học tập” tiến bộ và văn minh
Về nhiệm vụ và chức năng của các thư viện Việt Nam, Điều 1 Pháp lệnh
Trang 16Thư viện đã quy định rõ: "Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc, thu thập tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin, phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hoá phục vụ công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”
Thư viện tham gia vào tổ chức sử dụng thời gian nhàn rỗi cho nhân dân bằng cách cung cấp sách báo và các phương tiện nghe nhìn khác để đáp ứng nhu cầu giả trí Chức năng giả trí thể hiện rõ nhất ở các thư viện công cộng
Thực tiễn công tác thư viện trên thế giới chứng minh rằng rất nhiều bạn đọc: đọc sách báo sử dụng các phương tiện nghe nhìn ở thư viện nhằm mục đích giải trí để làm phong phú đời sống tinh thần, thư giãn sau những giờ phút làm việc, học tập căng thẳng
1.4 Nhiệm vụ của thư viện
Thư viện của Việt Nam đã chỉ ra cho các thư viện một số nhiệm vụ cụ thể
- Xử lý thông tin, biên soạn các ấn phẩm thông tin khoa học
- Thực hiện liên thông giữa các thư viện trong nước, hợp tác trao đổi tài liệu với nước ngoài theo quy định của Chính phủ
- Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào công tác thư viện, từng bước hiện đại hoá thư viện
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho người làm công tác thư viện
- Bảo quản cơ sở vật chất, kỹ thuật và tài sản khác của thư viện
Trang 17Trên thực tế với việc không ngừng xây dựng và phát triển vốn tài liệu, xử
lý tài liệu, tổ chức bộ máy tra cứu, tổ chức phục vụ người đọc, người dùng tin, bảo quản vốn tài liệu, đào tạo bồi dưõng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ thư viện, tổ chức tuyên truyền giới thiệu sách, nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thư viện các thư viện đã góp một phần không nhỏ phục
vụ cho việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc đân tộc, phát triển khoa học và công nghệ, kinh tế, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần đảm bảo cho an ninh và quốc phòng
2 Vai trò xã hội của thƣ viện
Từ năm 1970, UNESCO đã tuyên bố sứ mệnh văn hóa, thông tin, giáo dục, giải trí của thư viện đối với xã hội Thư viện vốn được tôn vinh với những vai trò xã hội lớn: kho tàng tri thức, văn hóa nhân loại; thúc đẩy sự phát triển khoa học; thúc đẩy sự phát triển sản xuất xã hội; góp phần nâng cao trình độ văn hóa và làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân
Hiện nay, cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0(CMCN 4.0) đã và đang làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có thế giới thông tin Thông tin tồn tại ở khắp mọi nơi và phát triển theo cấp số nhân Ngoài thư viện, con người có nhiều kênh khác để tìm kiếm thông tin Khả năng tự tìm kiếm, định vị thông tin dường như ngày càng dễ dàng, thuận tiện đã làm người sử dụng hoài nghi về sự cần thiết của bộ phận trung gian giữa thông tin và người sử dụng thư viện có còn cần thiết không?
Người sử dụng thư viện ngày nay đã trở thành những “khách hàng khó tính” Nhu cầu tìm kiếm thông tin của họ thay đổi: từ tài liệu in sang tài liệu số,
từ tiếp cận tại thư viện đến truy cập qua mạng Internet từ bất cứ nơi đâu Người
sử dụng mong đợi mục lục thư viện phải thân thiện, nhanh chóng như máy tìm tin Google: giúp nhận diện, định vị nguồn và cung cấp luôn thông tin Nói cách khác, thư viện phải trở thành “cửa hàng một điểm đến, nơi tất cả các thông tin
họ cần được tìm thấy, mô tả và chuyển giao một cách nhanh chóng, chính xác, thuận tiện”
Thêm vào đó, hàng loạt công nghệ mới đã thâm nhập và tác động mạnh
mẽ đến hoạt động thư viện Ban đầu, đó là các công nghệ nhân sao thu nhỏ, máy tính, hệ thống truy hồi thông tin trực tuyến, CD-ROMs và hệ quản trị thư viện
Trang 18tích hợp, internet và World Wide Web (TK XX) Tiếp theo là Web 2.0 và các phương tiện truyền thông xã hội, Web RSS và Podcasting, internet thế hệ 2, sự phát triển của Google, việc số hóa hàng loạt và dự án Google Books, xuất bản điện tử, sự bùng nổ nội dung số, các kho lưu trữ số và vấn đề bảo quản số… (thập niên đầu thế kỷ XXI) Kể từ năm 2010, internet ngày càng được sử dụng sâu rộng hơn nhờ sự phát triển của công nghệ băng thông rộng, các thiết bị di động và các mạng xã hội Gần đây, các xu hướng ứng dụng công nghệ mới nhất trong thư viện có thể kể đến như: dữ liệu lớn, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, blockchain, internet vạn vật và thực tế ảo tăng cường Công nghệ đã làm biến đổi cơ sở vật chất, bộ sưu tập và phương thức thư viện cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.(4)
Trong bối cảnh nhiều thách thức đặt ra cho thư viện, UNESCO vẫn khẳng định thư viện “là một tổ chức, hoặc một phần của tổ chức, có mục tiêu chính là xây dựng và duy trì một bộ sưu tập và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các tài nguyên thông tin đó cũng như đáp ứng nhu cầu thông tin, nghiên cứu,
giáo dục, văn hóa hoặc giải trí của người sử dụng” Quan điểm của UNESCO đã
chỉ rõ sứ mệnh không thay đổi của thư viện trong việc phục vụ nhu cầu văn hóa, thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí cho con người Vartan Gregorian - học giả, Chủ tịch tập đoàn Carnegie Hoa Kỳ - đã viết: “thư viện là không thể thiếu, cho dù chúng tồn tại ở hình thức nào, thư viện cung cấp các công cụ để học hỏi, hiểu biết và tiến bộ, là cơ sở để xây dựng nền văn hóa của chúng ta”; “Nếu không có các thông tin được tổ chức, so sánh, hệ thống hóa, cấu trúc, và quan trọng nhất là không có các thủ thư chuyên nghiệp có khả năng quản lý và hiểu thông tin thì người mù sẽ dẫn dắt người mù”
Trong xã hội bùng nổ thông tin, dễ tiếp cận thông tin không đồng nghĩa với việc tiếp cận được thông tin giá trị, nhiều thông tin không có nghĩa là mọi thông tin đều có tác động tích cực, mọi người đều nhận được thông tin như nhau
và mọi vấn đề sẽ được giải quyết tốt hơn Trên thực tế, khoảng cách giữa “thông tin phong phú” và “thông tin nghèo nàn”, giữa thế giới phát triển và đang phát triển, những khủng hoảng và áp lực của xã hội thông tin ngày càng tăng trong kỷ nguyên kỹ thuật số Hiểu biết thông tin, hiểu biết kỹ thuật số, được tiếp cận thông tin và công nghệ mới bình đẳng, được kết nối, chia sẻ, học tập, sáng tạo
“để không ai bị bỏ lại phía sau” đã trở thành tiêu chí quan trọng để phát triển
Trang 19bền vững trong xã hội hiện đại Đây chính là những giá trị cốt lõi góp phần định hình xã hội hiện tại và tương lai mà thư viện và nghề thư viện cam kết với xã hội
2.1 Thư viện là kho tàng tri thức và các giá trị văn hoá của nhân loại
Thư viện không nên chỉ là nơi giữ sách, cũng không nên chỉ là nơi đọc sách giải trí nhẹ nhàng Nó phải là một trung tâm nghiên cứu - sự nghiên cứu mà bất kỳ một con người có lý trí nào cũng cần phải có (Phêđôrôp)
Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” - câu nói của Mác - Lê nin đã toát lên vai trò to lớn của sách đối với nhân loại Đọc sách không những để nâng cao trí thức
mà còn nâng cao nhân cách Sách chính là phương tiện, công cụ lưu giữ sự tiến
bộ, văn minh và chặng đường lịch sử phát triển của con người
Hay nói cách khác sách cũng chính người thầy dẫn dắt, người bạn đường chỉ lối, đưa con người đến những chân trời của sự hiểu biết và sáng tạo Sách không đơn thuần chỉ là một vật dụng mà nó còn chứa đựng những tư tưởng nhân văn, ý nghĩa sâu sa có giá trị tinh thần vô giá Sách là một kho tàng về tri thức, là sản phẩm của xã hội văn minh, là nguồn tri thức vô giá, cung cấp nhưng kiến thức vô tận Đó là kết tinh của những tư tưởng tiên tiến của thời đại là nơi lưu trữ những hình ảnh, sự việc, tư liệu của con người trong quá trình tồn tại Vì vậy, nó thể hiện những sự kiện lịch sử quan trọng, những công trình kiến trúc khoa học, văn hoá nghệ thuật, hay những phát minh khoa học, những công thức toán học
Đã từ lâu sách đã đi vào cuộc sống của mỗi con người, sách là nơi ghi lại, lưu trữ những điều hiểu biết của con người và ở đó cũng chính là nơi chia sẻ những thông tin, những suy nghĩ giữa con người với con người Đọc sách để ghi nhớ, bổ sung kiến thức và truyền dạy cho các thế hệ Bên cạnh đó, sách là món
ăn tinh thần để chúng ta thư giãn, giải trí sau những ngày làm việc Nhờ đọc sách, chúng ta biết cách đối nhân xử thế, để làm giàu ngôn từ, nắm bắt tâm lý con người, hướng con người sống tích cực Sách hay sẽ giúp ta mở mang kiến thức, nuôi dưỡng tâm hồn, là cách để nối liền quá khứ - hiện tại và mở ra tương lai
Thư viện là trung tâm thông tin ở nhiều dạng khác nhau, tạo điều kiện cho người sử dụng tiếp cận nhanh chóng đến tri thức Đúng vậy, đọc sách là cách
Trang 20học tốt nhất và không có cách giải trí nào rẻ hơn đọc sách, cũng không có sự thú
vị nào bền lâu hơn việc đọc sách Đọc sách ngoài tác dụng giải trí lành mạnh còn giúp mỗi chúng ta hoàn thiện nhân cách của chính mình Sách giáo dục cho mỗi chúng ta biết yêu thương, quý trọng, đoàn kết với mọi người, biết nói lời hay, làm việc tốt Và sách chính là cơ hội để chúng ta mở rộng tầm nhìn với thế giới
Vốn tài liệu của thư viện có giá trị văn hóa to lớn Thư viện lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của loài người, là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa, là tài sản quý giá của một quốc gia, nhờ thư viện tri thức được tích lũy trong tài liệu sách báo được truyền bá từ đời này sang đời khác từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần làm tăng giá trị của văn hóa, di sản văn hóa chứa đựng trong các thư viện cực kì phong phú đa dạng và là bộ mặt niềm tự hào của các quốc gia
2.2 Thúc đẩy sự phát triển của khoa học và kỹ thuật
Thông tin và tri thức khoa học trở thành yếu tố đặc biệt quan trọng của sản xuất và đời sống xã hội, ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của các lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, trở thành động lực của sự phát triển của cả sản xuất, con người và xã hội Cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo ra môi trường xã hội đặc biệt Đó là môi trường thông tin, trong đó lao động thể lực được thay thế bằng lao động trí tuệ với những phẩm chất và năng lực tinh thần, đòi hỏi tính chất sáng tạo, độc đáo,
cá nhân hóa Thông tin, tri thức khoa học trở thành điều kiện, môi trường, nhân
tố cấu thành và nội dung thiết yếu của quá trình sản xuất, là nguồn tạo ra của cải
vô tận, là nguồn lực đặc biệt của sự phát triển con người và xã hội
Để xã hội phát triển phải đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và nâng cao trình độ văn hóa khoa học kỹ thuật cho đông đảo nhân dân; hoạt động tích cực của các thư viện trong việc tuyên truyền các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm tiên tiến ở trong nước và nước ngoài, phổ biến kiến thức khoa học thường thức… Có tác dụng tích cực trong việc phát triển sản xuất
và cải tiến các quá trình sản xuất trong thực tiễn
2.3 Góp phần nâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân
Trang 21Trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, Việt Nam đang chịu sự tác động ngày càng tăng của kinh tế tri thức, đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến nhu cầu xây dựng xã hội học tập Xã hội học tập và học tập suốt đời là hai yếu tố tác động lẫn nhau trong mối quan hệ nhân quả và là xu thế phát triển tất yếu trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế toàn cầu, xây dựng nền kinh tế công nghiệp và bước những bước đầu tiên tiến đến nền kinh tế tri thức Để việc xây dựng xã hội học tập phát triển bền vững và việc học tập suốt đời trở thành thói quen không thể từ bỏ của từng công dân là một chặng đường gian nan với sự góp sức của toàn xã hội, của nhiều ngành nghề, trong đó không thể không nhắc đến thư viện với tư cách là một trong những thiết chế văn hoá vô cùng quan trọng của xã hội phục vụ cho cộng đồng, thực hiện các chức năng văn hoá, giáo dục, thông tin và giải trí
Ở tất cả các nước trên thế giới, thư viện được coi là bộ nhớ về lịch sử văn hóa lưu giữ tri thức cho các thế hệ mai sau, thư viện được coi là cơ sở vật chất cho việc giáo dục con người phát triển toàn diện, tự giáo dục đào tạo đội ngũ cán
bộ và nâng cao trình độ của họ là cơ sở cho việc học tập không ngừng tạo nên một “xã hội học tập”
Trong nhiều năm qua, các hệ thống thư viện của Việt Nam đã có những đóng góp to lớn trong việc lưu giữ, tuyên truyền phổ biến rộng rãi, kịp thời tinh hoa văn hoá và thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại Các hoạt động thư viện đều hướng vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có thế giới quan khoa học, từng bước thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hoá giữa các vùng miền, giữa các giai tầng xã hội, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa, khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng, nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn, chân - thiện - mỹ
Là một môi trường văn hoá lành mạnh, các thư viện không chỉ bảo đảm quyền hưởng thụ văn hoá của mỗi người dân, của cộng đồng mà còn góp phần tích cực trong việc phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hoá, làm tha hoá con người
Nhiều hoạt động của thư viện, đặc biệt là thư viện công cộng, luôn gắn bó chặt chẽ với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, giữ gìn và phát huy di sản văn hoá các
Trang 22dân tộc thiểu số, giới thiệu, tuyên truyền rộng rãi các tác phẩm về đề tài cách mạng, kháng chiến, lịch sử dân tộc, về công cuộc đổi mới đất nước
3 Vài nét về lịch sử thƣ viện
3.1 Lịch sử thư viện thế giới
Thư viện với tính chất là nơi tàng trữ văn tự đã xuất hiện từ thời cổ đại Theo các tài liệu sử học và khảo cổ học thư viện đã xuất hiện vào khoảng Thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên
Đến thế kỷ V trước Công nguyên, Hoàng đế của Hi Lạp Pisicrat đã tổ chức thư viện với các tấm đất sét và da dê Thư viện được đặt trong cung điện cùng với các kho báu Nhà bác học Đềmôin đã biên soạn thư mục giới thiệu về những cuốn sách được thu thập ỏ đây
Ở thư viện Alêchxanđri lần đầu tiên đã nảy sinh ra một công tác mới: các tác phẩm trong thư viện được phân chia thành nhiều môn loại khác nhau, sau đó ghi tên các tác giả và các tác phẩm theo một trật tự nhất định Công việc này là tiền thân của công tác phân loại và thư mục sau này
Trong thời kỳ phong kiến tuy văn hoá không phát triển và đạt được những đỉnh cao như thời kỳ cổ đại sự nghiệp thư viện vẫn phát triển Việc sử dụng thư viện trong các quốc gia phong kiến rất đa dạng phong phú Thư viện đã được sử dụng để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị
Ở phương Tây chế độ phong kiến hình thành muộn và tan rã sớm Cũng như ở phương Đông, phong kiến kết hợp với tôn giáo Nhưng ở phương Tây thịnh hành đạo Cơ Đốc Nhà thờ có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội chính trị Hầu hết các tu viện và giáo hội đều xây dựng thư viện và thư viện đã
đi vào câu thành ngữ nổi tiếng của phương Tây: “Tu viện mà không có thư viện thì củng không khác gì như trại lính mà không có vũ khí” Thư viện đã trở thành công cụ của giai cấp phong kiến và thầy tu
Thời kỳ Phục hưng để lại những thành tựu khổng lồ Chủ nghĩa nhân văn
đã tấn công vào nhà thờ tôn giáo Mặc dù khoa học, văn học, nghệ thuật phát triển, tư tưỏng nhân văn được đề cao nhưng toà án giáo hội vẫn làm mưa làm gió Những ai đọc tài liệu không phù hợp vẫn bị đem truy tố
Sang thế kỷ XV, trên thế giới xuất hiện nghề in chữ, với sự phát triển của
Trang 23nghề in, nhiều nhà in đã được thành lập, sách báo được xuất bản ngày càng nhiều, kinh tế tư bản chủ nghĩa đang trên đà phát triển, yêu cầu nghiên cứu khoa học, kỹ thuật được đẩy mạnh, thư viện đã phát triển mạnh ở những nơi tập trung đông dân và nhất là trong các viện hàn lâm, trưòng đại học, các cơ quan nghiên cứu khoa học
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trên thế giới hình thành những tiền đề
cơ bản cho sự xuất hiện của thư viện học với tư cách là một ngành khoa học: sự phát triển của các thư viện trên thực tế, một số ý tưởng quan trọng đã được hình thành, những ý tưỏng này đã đặt cơ sở cho một khoa học mới ra đời trong thời gian sau
Cuối thế kỷ XIX, cùng vối sự diễn giải thư viện học như một môn khoa học độc lập là việc bàn luận về vấn đề mục tiêu của khoa học này A.Grezel đã làm một trong những thử nghiệm đầu tiên giải quyết vấn đề mục tiêu của thư viện học Ông viết: „Những vấn đề lý thuyết có quan hệ với thư viện, lịch sử công tác thư viện nói chung và lich sử của những kho sách riêng lẻ tạo nên mục tiêu của một khoa học độc lập - mục tiêu của thư viện học Với sự lý giải đó, quan niệm đầu tiên về cấu trúc của Thư viện học với tư cách ià một môn khoa học đã hình thành
Đầu thế kỷ XX, trên thế giới đã hình thành luận điểm coi thư viện học như một khoa học độc lập, được phân chia thành hai phần: lý luận và thực tiễn thư viện học Phần lý luận nghiên cứu lịch sử thư viện, thống kê thư viện và quy luật phát triển thư viện; phần thực tiễn nghiên cứu về cơ cấu thư viện và chức năng, hoạt động của nó
Sau khi Cách mạng tháng mười Nga thành công, cùng với sự ra đời của
hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sự nghiệp thư viện nói chung và thư viện học nói riêng đã chịu ảnh hưởng nhiều của các xu hướng chính trị Thư viện học trên thế giới đã được chia thành Thư viện học xã hội chủ nghĩa và Thư viện học
tư bản chủ nghĩa Các nhà thư viện học xã hội chủ nghĩa đã chú trọng và đề cao tính tư tưỏng, tính đảng trong hoạt động thư viện trong khi các nhà thư viện học
tư bản hoàn toàn phủ nhận tính đảng, tính giai cấp, họ quan niệm rằng thư viện
là một thiết chế văn hoá hoạt động với nguyên tắc dân chủ, tự do trí tuệ và tự do tiếp cận đến các thông tin không phân biệt hệ tư tưởng, chính trị, tuổi tác, tôn giáo và dân tộc
Trang 24Thư viện học hình thành và phát triển với tư cách một ngành khoa học xã hội, dựa trên cơ sở học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hoá và cách mạng văn hoá Nhiệm vụ cơ bản của thư viện học là nghiên cứu quy luật phát triển cùa sự nghiệp thư viện như bộ phận của công tác tư tưởng, văn hoá giáo dục và hoạt động thông tin khoa học Cho đến nay, các nhà thư viện học Xô viết
đã đạt được nhiều thành tựu nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu thư viện học, thư mục học và thông tin học
Tại các nước tư bản chủ nghĩa, các nhà thư viện học tập trung vào các vấn
để kỹ thuật thư viện, chú trọng đến tính thông tin của tài liệu và việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào công tác thư viện Nhưng do tiếp tục theo quan điểm thư viện học là khoa học ứng dụng nên các nhà thư viện học tư sản không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề lý luận Các trường dạy nghề thư viện ở các nước này thường chú trọng đến khả năng thực hành
Hiện nay, sự nghiệp thư viện đã phát triển trên khắp thế giới Với việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, nhiều loại hình thư viện mới đã xuất hiện như: thư viện điện tử, thư viện số, thư viện ảo Chất lượng và hiệu quả hoạt động của các thư viện được nâng lên rõ rệt Từ chỗ là nơi cung cấp tài liệu, các thư viện đã và đang trở thành nơi cung cấp thông tin, cung cấp tri thức.(3)
Với thực tế quá trình thông tin boá đang diễn ra một cách rộng khắp trên toàn thế giới và quan niệm thư viện là một thành tố của cơ sỏ hạ tầng thông tin quốc gia, tại một số nước phát triển người ta đã xác định Thư viện học là một bộ phận của thông tin học Về vấn đề này hiện còn có nhiều ý kiến chưa hoàn toàn đồng nhất Một số nhà thư viện học cho rằng cần có sự hợp nhất giữa thư viện học và thông tin học để hình thành nên một ngành khoa học mới là thông tin thư viện học, như vậy vai trò và vị thế của ngành khoa học này sẽ được nâng cao hơn Và nhờ vậy thư viện học sẽ có một sức sống mới Một số nhà thư viện học khác thì vẫn tiếp tục duy trì ý kiến cho rằng thư viện học là một ngành khoa học độc lập Thư viện học chỉ sử dụng các thành tựu của thông tin học và công nghệ thông tin để đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của mình
Ngày nay, sự nghiệp thư viện đã phát triển và đạt được những bưốc nhảy vọt ỏ nhiều quốc gia, các thư viện đã được phát triển rộng khắp, nơi thoả măn phần nào lòng khát khao học tập và hiểụ biết của quần chúng
3.2 Lịch sử thư viện Việt Nam
Trang 25So với thế giới, sự xuất hiện các thư viện cũng như thư viện học ở Việt Nam có phần muộn hơn Thư viện học là một ngành khoa học non trẻ Trong suốt thời kỳ phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc, hoạt động thư viện Việt Nam chưa được quan tâm phát triển Ngoài một số bản thư mục như: “Nghệ văn chí” của Lê Quý Đôn và “Văn tịch chí” của Phan Huy Chú được biên soạn, không có công trình nghiên cứu khoa học nào đáng kể về lý luận thư viện
Từ năm 1954 cho đến nay, thư viện học Việt Nam có điều kiện phát triển Trước đây trong một thời gian dài, thư viện học Việt Nam chủ yếu chịu ảnh hưởng trực tiếp của thư viện học Xô viết Các nhà thư viện học Việt Nam đã tiếp nhận những thành tựu của thư viện học Xô viết vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
Trong những năm gần đây, các nhà thư viện học Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của thư viện học phướng Tây trong việc tiếp thu các thành tựu vể kỹ thuật tổ chức và xây dựng thư viện, tự động hoá các quá trình thư viện, thư mục,
tổ chức kho tài liệu, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thư viện Trong giai đoạn vừa qua, thư viện học Việt Nam đã tập trung vào một số hướng nghiên cứu cơ bản như:
- Định hướng phát triển sự nghiệp thư viện Việt Nam
- Vấn đề nghề thư viện và đào tạo cán bộ thư viện
- Vấn đề hoàn thiện các khâu xử lý nghiệp vụ, kỹ thuật thư viện
- Công tác phục vụ người đọc, người dùng tin: phục vụ tại chỗ, phục vụ ngoài thư viện, đẩy mạnh các dịch vụ
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thư viện để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động
- Các vấn đề về quản lý thư viện và cơ quan thông tin
Thư viện học Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định, góp phần đắc lực vào việc nâng cao hiệu quả và chất lượng cúa công tác thư viện Tuy nhiên, xem xét hoạt động nghiên cứu khoa học và thực tiễn hoạt động của các thư viện và cơ quan thông tin ở nước ta hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy trình
độ tổ chức và quản lý khoa học trong các thư viện và cơ quan thông tin ở Việt Nam còn có một số điểm bất cập, công tác nghiên cứu khoa học còn phát triển
Trang 26một cách tự phát, mối quan hệ hợp tác giữa các thư viện trong nghiên cứu còn lỏng lẻo, cơ sở vật chất kỹ thuật dành cho nghiên cứu khoa học nghèo nàn
Mặc dù ở Việt Nam thư viện học và thông tin học vẫn được coi là hai ngành khoa học độc lập nhưng các nhà thư viện học đã thừa nhận mối quan hệ mật thiết giữa hai ngành khoa học này Tại một số cơ sơ đào tạo, tên của các khoa đã có sự ghép nối thư viện - thông tin hoặc thông tin - thư viện Sự chuyển hóa của ngành nghề dưới tác động của công nghệ thông tin đã và đang đặt ra cho các nhà thư viện học Việt Nam những bài toán mới
Trong những thập niên gần đây, với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, các thư viện Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ Việc ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm thay đổi nhiều hoạt động trong thư viện theo hướng tự động hoá Có thể thấy các thư viện Việt Nam hiện nay đang chuyển dịch từ mô hình thư viện truyền thống sang hiện đại Sự thay đổi này mang đến nhiều lợi ích cho người dùng tin và các thư viện Tuy nhiên, đây cũng là nguyên nhân làm bộc lộ nhiều bất cập trong công tác quản lý Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý trong thư viện, trong đó việc xác định lựa chọn và áp dụng mô hình cơ cấu tổ chức quản lý là rất quan trọng, bởi một mô hình cơ cấu tổ chức phù hợp và phương pháp, cơ chế quản lý khoa học sẽ đem lại nhiều lợi ích và nâng cao hiệu quả quản lý Từ những luận điểm trên, việc nghiên cứu sự thay đổi trong các thư viện Việt Nam dưới tác động của khoa học và công nghệ, xác định những vấn đề đặt ra nhằm hoàn thiện
cơ cấu tổ chức quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các thư viện
Trên thực tế, hoạt động thư viện ở Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều thay đổi và thực tế ấy đòi hỏi các nhà thư viện học cần tiếp tục triển khai nghiên cứu nhiều vấn đề mới
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương này đề cập đến những khái niệm cơ bản của môn học và các vấn
đề lý thuyết cơ bản của thư viện học như: khái niệm thư viện; vai trò, chức năng của thư viện; sự hình thành và phát triển của thư viện học của Việt Nam và nước ngoài một cách logic, khoa học giúp người học dễ tiếp nhận kiến thức và vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành một cách hiệu quả
Trang 27CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Câu hỏi 1 Trình bày khái niệm thư viện
Câu hỏi 2 Giải thích các yếu tố cấu thành thư viện
Câu hỏi 3 Phân tích các chức năng của thư viện
Bài tập thực hành Tham quan thư viện trường CĐCĐ Kon Tum, viết
nhận xét về thư viện trường( vốn tài liệu, người đọc, cán bộ thư viện, cơ sở vật chất…) Yêu cầu: Làm việc theo nhóm
Trang 28CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA THƯ VIỆN
MỤC TIÊU
Sau khi học chương này, người học có khả năng:
- Trình bày được đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của thư viện học; giải thích được mối quan hệ giữa thư viện học với các ngành khoa học khác
- Thực hiện thành thạo kỹ năng giải thích, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm; vận dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu trong khoa học thư viện
- Ý thức được mối quan hệ giữa thư viện học và các ngành khoa học khác,
từ đó thấy rõ tầm quan trọng của ngành nghề thư viện trong giai đoạn hiện nay
NỘI DUNG
1 Đối tượng nghiên cứu của thư viện học
Thư viện học có đối tượng nghiên cứu riêng, có phương pháp nghiên cứu đặc thù, có hệ thống thuật ngữ đặc trưng, có lịch sử phát sinh, phát triển và có mối quan hệ với các ngành khoa học khác Thư viện học còn được gọi là khoa học thư viện Trên bình điện khái quát, thư viện học nghiên cứu các quy luật phát triển của sự nghiệp thư viện với tư cách là một hiện tượng xã hội (1)
Xét một cách cụ thể, Thư viện học là khoa học nghiên cứu các vấn đề về tính chất, đặc điểm cơ bản của hoạt động thư viện - thông tin, các quy luật vận động của các quá trình thư viện với mục đích tìm ra những phương thức, những
Trang 29công cụ nhằm tốỉ ưu hoá hoạt động thư viện, thông tin Về mặt lý thuyết, thư viện học có nhiệm vụ tìm ra những quy luật chung nhất của hoạt động thư viện thông tin, của sự nghiệp thư viện Về mặt ứng dụng, thư viện học có nhiệm vụ tìm ra những phương tiện và phương pháp thích hợp nhất để hoàn thiện thực tiễn hoạt động thư viện - thông tin và phát triển sự nghiệp thư viện
Đối tượng nghiên cứu cụ thể của thư viện học là những vấn đề đặt ra trong thực tiễn ngành thư viện Thư viện học nghiên cứu khía cạnh xã hội của sự nghiệp thư viện, tổ chức kỹ thuật thư viện, hiệu quả kinh tế các mặt hoạt động của thư viện, các vấn đề hoàn thiện tổ chức quản lý thư viện, đặc điểm dân tộc của sự nghiệp thư viện, nghiên cứu thư viện với tư cách một lĩnh vực hoạt động thông tin, văn hoá, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu sự nghiệp đào tạo cán bộ thư viện
Trong quá trình phát triển, quan niệm về đối tượng của thư viện học ngày càng được mở rộng Trên thực tế quan niệm vể đối tượng của thư viện học trên thế giới cũng chưa hoàn toàn đồng nhất Theo các nhà thư viện học Âu Mỹ thì đối tượng của thư viện học là các vấn đề cụ thể trong công tác thư viện như: kỹ thuật tổ chức thư viện, tổ chức dịch vụ thư viện, kiểm soát thư mục, tự động hoá công tác thư viện, quản trị mạng, khai thác thông tin phục vụ các nhu cầu tin của người đọc và người dùng tin, đào tạo cán bộ thư viện
2 Cấu trúc của thƣ viên học
Cấu trúc thư viện học là cơ cấu và hình thức bên trong của thư viện học
Là mối liên hệ và sự phối hợp hữu cơ, tương đối vững chắc của các yếu tố, các mặt, các phần của thư viện học với tư cách là một chỉnh thể Việc nghiên cứu cấu trúc thư viện học chẳng những có ý nghĩa giúp cho việc xem xét nhận dạng chỉnh thể của thư viện học mà nó còn giúp chúng ta thấy được mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau của các bộ phận cấu thành nên thư viện học
Về nguyên tắc, cũng như các ngành khoa học khác, thư viện học là một hệ thống lý thuyết bao gồm: các quy luật khoa học, các nguyên tắc khoa học, các lý thuyết khoa học, phương pháp nghiên cứu, hệ thống các khái niệm, các giả thuyết, các sự kiện, dữ liệu quan sát được và các kinh nghiệm trong lĩnh vực thư viện học Hệ thống lý thuyết này một mặt thể hiện những đặc tính chủ yếu của khoa học nói chung, mặt khác qua đó cũng thể hiện các đặc điểm cụ thể của thư viện học nói riêng
Trang 30Trên thực tế, về cấu trúc của thư viện học ngoài cách tiếp cận kể trên còn hai cách tiếp cận khác Một số người quan niệm rằng thư viện học được cấu trúc như một ngành khoa học, một số khác lại cho rằng thư viện học là một bộ môn khoa học Theo Xcvortxov và Cartasov trong cuốn “Thư viện học đai cương", với tư cách là một ngành khoa học, thư viện học là một hệ thống các lý thuyết như sau:
- Cơ sở lý thuyết chung của thư viện học
- Lý thuyết hình thành nguồn lực thông tin thư viện
- Lý thuyết của hệ thống tìm tin
- Lý thuyết phục vụ người đọc của thư viện
- Lý thuyết quản lý công tác thư viện
- Lịch sử công tác thư viện và lịch sử thư viện học
Với tư cách là một bộ môn khoa học, thư viện học là một tập hợp các môn học cụ thể với hệ thống các tri thức thể hiện các vấn đề lý luận chung cũng như các kỹ thuật thư viện Quan niệm về cấu trúc của bộ môn thư viện học cũng không hoàn toàn đồng nhất ở nhiều quốc gia
Theo các nhà thư viện học Nga, cấu trúc của thư viện học bao gồm các phần như: thư viện học đại cương, xây dựng phát triển với tài liệu thư viện, mục lục thư viện, công tác người đọc, kỹ thuật tổ chức và quản lý thư viện và các cơ quan thông tin thư viện, phương tiện kỹ thuật của công tác thư viện Ở Việt Nam, bộ môn thư viện học hiện nay được giảng dạy trong các trường đại học chuyên ngành thư viện thông tin bao gồm những môn học cơ bản như: "Thư viện học đại cương", “Lịch sử sách và thư viện", “Xây dựng và phát triển vốn tài liệu thư viện ", “Mô tả tài liệu ", “Phân loại tài liệu ”, "Định chủ đề và định từ khoá tài liệu ”, "Công tác với người đọc ”, “Tổ chức và quản lý thư viện và cơ quan thông tin ", “Trụ sở và trang thiết bị trong các thư viện cơ quan thông tin",
“Phương pháp nghiên cứu thư viện học”
Trong hệ thống những môn học của bộ môn thư viện học, thư viện học đại cương tập trung vào nghiên cứu những quan điểm lý thuyết và phương pháp luận, những lý luận, nguyên tắc và khái niệm chung của thư viện học "Thư viện học đại cương" cung cấp cơ sở lý thuyết chung và phượng pháp luận Do là nền
Trang 31tảng khoa học đối với việc phát triển của thư viện học nói chung và nền tảng của các phần cụ thể khác của thư viện học Nội dung cụ thể của Thư viện học đại cương bao gồrn: Cơ sở lý luận thư viện học, các nguyên tắc tổ chức sự nghiệp thư viện ở Việt Nam, chính sách thư viện ở Việt Nam và nước ngoài, sự nghiệp thư viện ở Việt Nam, các xu hướng phát triển thư viện hiện đại và một số nét đặc trưng của nghề thư viện
"Xây dựng và phát triển vốn tài liệu thư viện” là môn nghiên cứu tổng thể những quá trình và thao tác liên quan đến việc bổ sung, tổ chức cũng như quản
lý kho thư viện Nội dung cụ thể bao gồm các nguyên tắc bổ sung, các hình thức
bổ sung, các phương thức bổ sung, phương pháp tổ chức sắp xếp kho tài liệu, các hình thức đăng ký, bảo quản tài liệu “Mô tả tài liệu thư viện” nghiên cứu
lý thuyết, lịch sử và phương pháp mô tả tài liệu theo quy tắc mô tả thư mục quốc
tế ISBD, quy tắc biên mục Anh - Mỹ AACR2, mô tả tài liệu đặc biệt, mô tả các xuất bản phẩm định kỳ, mô tả sách bộ, mô tả tùng thư và mô tả theo các khổ mẫu MARC
“Phân loại tài liệu” nghiên cứu lý thuyết, lịch sử phân loại, các bảng phân loại hiện đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam, phương pháp phân loại chung và phương pháp phân loại cụ thể gắn với từng bảng phân loại "Định chủ đề và từ khoá tài liệu” nghiên cứu lý thuyết, lịch sử
áp dụng xử lý theo chủ đề, từ khoá, phương pháp định chủ đề và định từ khoá tài liệu trên hai bình diện: phương pháp chung và phương pháp cụ thể cho một số nhóm tài liệu
"Công tác với người đọc” nghiên cứu lý luận và phương pháp phục vụ người đọc, phương pháp tổ chức công tác bạn đọc trong thư viện, phương pháp nghiên cứu nhu cầu và hứng thú của người đọc, các phương pháp tuyên truyền hướng dẫn đọc sách, tổ chức hệ thống các phòng phục vụ (phòng đọc sách, phòng đọc báo tạp chí, phòng mượn, phòng đọc đa phương tiện) “Tổ chức và quản lý thư viện và cơ quan thông tin nghiên cứu về vấn đề tổ chức và quản lý thư viện và các cơ quan thông tin Nội dung cụ thể của môn học này bao gồm: phương pháp tổ chức, quản lý cơ cấu, bộ máy, kỹ thuật và tổ chức lao động khoa học, kế hoạch hoá công tác thư viện thông tin, kinh tế và marketing trong các cơ quan thư viện thông tin
Trang 32'„Lịch sử thư viện'‟ nghiên cứu lịch sử phát sinh và phát triển của sự nghiệp thư viện ở trên thế giới và Việt Nam “Phương tiện kỹ thuật, trụ sở trang thiết bị trong công tác thư viện” - là môn nghiên cứu cơ sở vật chất kỹ thuật của công tác thư viện, bắt đầu với trang thiết bị cơ giới và cuối cùng với những phương tiện mới của việc máy tính hoá thư viện “Phương pháp nghiên cứu thư viện học” nghiên cứu các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học đặc thù được áp dụng trong chuyên ngành thư viện thông tin
Tóm lại, thư viện học là tổng thể hệ thống các kiến thức khoa học về công tác thư viện, biểu hiện thống nhất của các môn thư viện học cụ thể và thư viện học đại cương.(3)
3 Phương pháp nghiên cứu của thư viện học
3.1 Các nguyên tắc trong nghiên cứu thư viện học
3.1.1 Luật đã xây dựng các nguyên tắc hoạt động thư viện (Điều 24)
Với những nội dung cơ bản có liên quan đến việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, tạo lập môi trường bình đẳng, lấy người sử dụng làm trung tâm; việc triển khai các hoạt động thư viện trên tinh thần tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và chuẩn nghiệp vụ liên quan trong lĩnh vực thư viện; đổi mới sáng tạo về quy trình, sản phẩm thông tin, dịch vụ thư viện trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến; liên thông thư viện; tuân thủ quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ, công nghệ nghệ thông tin, an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan
Trên cơ sở quy định các nguyên tắc hoạt động thư viện Luật Thư viện đã quy định cụ thể các hoạt động thư viện nhằm chuẩn hóa và hiện đại hóa quy trình hoạt động thư viện với các hoạt động cơ bản mà các thư viện phải triển khai như:
3.1.2 Xây dựng tài nguyên thông tin (Điều 25)
Luật quy định về phát triển và thanh lọc tài nguyên thông tin, Luật cũng xác định các phương thức phát triển tài nguyên thông tin bao gồm: bổ sung, mua tài nguyên thông tin và quyền truy cập cơ ở dữ liệu, tài nguyên thông tin số, thu thập tài nguyên thông tin mở, tài nguyên thông tin thuộc về công chúng, tài
Trang 33nguyên thông tin có giá trị; liên thông trao đổi tài nguyên thông tin; chuyển dạng
số hóa tài nguyên thông tin; tiếp nhận tài nguyên thông tin do tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài chuyển giao, tài trợ, viện trợ, tặng, cho, đóng góp Việc thanh lọc tài nguyên thông tin được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2)
3.1.3 Xử lý tài nguyên thông tin và tổ chức hệ thống tra cứu thông tin (Điều 26)
Với các quy định về xử lý tài nguyên thông tin theo tinh thần tài nguyên thông tin sau khi bổ sung vào thư viện phải được xử lý theo quy trình nghiệp vụ, thực hiện biên mục sao chép, áp dụng kết quả xử lý tài nguyên thông tin của các thư viện có vai trò quan trọng để bảo đảm chính xác, thống nhất và tiết kiệm Việc tổ chức hệ thống tra cứu thông tin phải bảo đảm lưu trữ an toàn kết quả xử
lý tài nguyên thông tin, bảo đảm cập nhật, dễ sử dụng
3.1.4 Bảo quản tài nguyên thông tin (Điều 27)
Được thực hiện đối với toàn bộ tài nguyên thông tin trong quá trình lưu giữ và phục vụ, bảo đảm an toàn thông tin phục vụ cho việc quản lý, tra cứu và
sử dụng; thực hiện các hình thức bảo quản dự phòng, phục chế hoặc chuyển dạng tài liệu; tài nguyên thông tin số phải được sao lưu định kỳ và phải có cơ chế khôi phục dữ liệu khi cần thiết; bảo đảm tính tương thích về mặt công nghệ; tài nguyên thông tin là di sản văn hóa, tài nguyên thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước phải được bảo quản theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa, lưu trữ, bảo vệ bí mật nhà nước Các nội dung này sẽ được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định cụ thể
3.1.5 Tạo lập, cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện (Điều 28)
Với các quy định bảo đảm cho việc tạo lập, cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thưu viện khoa học, hiện đại, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện và nhu cầu của người sử dụng, bảo đảm sự đa dạng
về hình thức, phương thức cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện Tại Điều này, Luật đã xác định các loại hình sản phẩm thông tin thư viện
và dịch vụ thư viện cần được triển khai tại thư viện để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng và xã hội
Trang 343.1.6 Liên thông thư viện (Điều 29) là một trong những quy định mới, có
tính cách mạng trong hoạt động thư viện, tạo điều kiện để các thư viện liên thông, liên kết đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Luật đã quy định các nội dung liên thông thư viện, phương thức liên thông và cơ chế liên thông, theo đó, Thư viện được Nhà nước ưu tiên đầu tư làm nòng cốt trong xây dựng, chia sẻ và khai thác tài nguyên thông tin dùng chung giữa các thư viện, hợp tác trong việc
bổ sung, mua quyền truy cập và chia sẻ tài nguyên thông tin nước ngoài, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí của Nhà nước và xã hội; tài nguyên thông tin được xây dựng từ ngân sách nhà nước phải được liên thông, chia sẻ giữa các thư viện, các nội dung này sẽ được Chính phủ quy định chi tiết
- Phát triển văn hóa đọc (Điều 30) với việc lấy ngày 21 tháng 4 hàng năm
là ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam đồng thời quy định nội dung về phát triển văn hóa đọc góp phần hình thành thói quen, phương pháp, kỹ năng đọc, tìm kiếm khai thác và sử dụng thông tin, mở rộng tri thức cho người sử dụng thư viện
- Phát triển thư viện số (Điều 31) với các quy định về xây dựng tài
nguyên thông tin số, thực hiện lưu rữ, bảo quản, tài nguyên thông tin số trên cơ
sở tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ thông tin, chuyên môn, nghiệp vụ thư viện, sử dụng các phần mềm tiên tiến trong quản trị thư viện số, cung cấp quyền truy cập tài nguyên thông tin số
- Hiện đại hóa thư viện (Điều 32) được xây dựng trên tinh thần phát triển
cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, bảo đảm triển khai vận hành thư viện, nghiên cứ ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ trong hoạt động thư viện phù hợp với xu thế phát triển của thế giới
- Truyền thông thư viện (Điều 33) với các quy định về nội dung truyền
thông của thư viện bao gồm: tài nguyên thông tin, sản phẩm thông tin thư viện
Trang 35và dịch vụ thư viện, tiện ích thư viện, nhân lực thư viện và các nội dung khác liên quan đến thư viện phù hợp với quy định của pháp luật Tại điều này, Luật đã quy định về các hình thức truyền thông của thư viện nhằm bảo đảm cho thư viện
có thể đa dạng hóa các hình thức truyền thông giúp cho người sử dụng có thể biết đến thư viện, tiếp cận và sử dụng thư viện
- Phối hợp giữa thư viện với cơ quan tổ chức (Điều 34): Luật đã quy định
các hoạt động mà thư viện phối hợp với các cơ quan tổ chức, trong đó nhấn mạnh sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức về thông tin khoa học và công nghệ, lưu trữ nhằm bảo đảm việc sử dụng và bảo quản hiệu quả tài nguyên thông tin, ngân hàng dữ liệu của nhà nước, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chứ khác theo chương trình hợp tác, hợp đồng và quy định của pháp luật Ngoài ra, thư viện phối hợp với cơ quan tổ chức, về văn hóa, du lịch và cơ quan tổ chức khác nhằm
đa dạng hình thức và dịch vụ thư viện Tất cả các quy định này tạo điều kiện để thư viện có thể tận dụng các nguồn lực nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người
sử dụng
- Hợp tác quốc tế về thư viện (Điều 36): Đây là nội dung mới so với Pháp
lệnh thư viện Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đây là một trong những quy định hết sức quan trọng thúc đẩy việc liên thông, liên kết, giao lưu chia sẻ giữa các thư viện trong nước và quốc tế, từ đó tạo ra các nguồn lực để các thư viện trong nước phát triển Tại Điều này, Luật đã quy định các hình thức hợp tác quốc tế thông qua việc xây dựng và triển khai chương trình, đề án, dự án hợp tác quốc tế; tham gia các tổ chức, hội diễn đàn nghề nghiệp, liên thông với thư viện trong nước và nước ngoài, tham gia xây dựng thực hiện tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật và thông lệ quốc tế về thư viện, nghiên cứu khoa học, trao đổi tài nguyên thông tin, kinh nghiệm đào tạo bồi dưỡng, nguồn nhân lực, ứng dụng chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia, hỗ trợ hoạt động thư viện
- Đánh giá hoạt động thư viện (Điều 37): Đây là nội dung mới so với
Pháp lệnh Thư viện và có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan quản lý nhà nước,
cơ quan quản lý thư viện và các thư viện trong việc nhận diện, đánh giá hiệu quả hoạt động của thư viện, từ đó có các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động thư viện đáp ứng yêu cầu của người sử dụng Theo quy định của Luật, việc đánh giá hoạt động thư viện được thực hiện đối với các loại thư viện nhằm phục vụ công
Trang 36tác quản lý nhà nước về thư viện và nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện, việc đánh giá được dựa trên các nguyên tắc: khách quan, chính xác, đúng quy định của pháp luật; trung thực, công khai, minh bạch, bình đẳng; theo định kỳ hàng năm Tổ chức đánh giá bao gồm: thư viện tự đánh giá, cơ quan, tổ chức, cá nhân thành lập thư viện đánh giá, cơ quan quản lý nhà nước về thư viện đánh giá Nội dung cụ thể của Điều này được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết
- Để bảo đảm cho hoạt động của thư viện được triển khai một cách hiệu quả, Luật đã quy định 01 điều liên quan đến nguồn tài chính của thư viện (Điều 35) Theo đó, tài chính của thư viện được xác định từ nguồn ngân sách nhà nước (đối với thư viện công lập), nguồn thu từ dịch vụ thư viện, nguồn tài trợ, viện trợ, tặng cho, đóng góp từ tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác Quy định này có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm tháo gỡ các khó khăn về mặt tài chính cho các thư viện trong tương lai
Có thể nói, các quy định về hoạt động thư viện được nêu tại Chương 3 sẽ tạo ra sự thống nhất, chuẩn hoá trong hoạt động thư viện, tạo hành lang pháp lý
để các thư viện đổi mới hoạt động, đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin, hưởng thụ các giá trị văn hoá và học tập suốt đời của người dân
3.2 Hệ phương pháp nghiên cứu trong thư viện học
Hệ phương pháp khoa học của thư viện học đó là tổng thể những phương pháp nghiên cứu được sử dụng để nghiên cứu những vấn đề đặt ra cho khoa học này bao gồm phương pháp chung, phương pháp riêng và phương pháp đặc thù
Để xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học, cũng như các ngành khoa học khác các nhà nghiên cứu thư viện học đã sử dụng các phương pháp chung như: phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn địch, cấu trúc hệ thống, lịch sử và lôgic,
từ trừu tượng đến cụ thể
3.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phân tích là phương pháp phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để
đi sâu nhận thức các bộ phận đó Tổng hợp là phương pháp liên kết, thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ Phân tích và tổng hợp có cơ sở khách quan trong cấu tạo và trong tính quy luật của bản thân sự vật
Trang 37cũng như trong hoạt động thực tiễn của con ngưòi Trong hiện thực khách quan tồn tại cái toàn bộ và các bộ phận, yếu tố và hệ thống, phân tán và kết hợp Trong hoạt động thực tiễn của con người, để nghiên cứu một đốỉ tượng người ta tiến hành song song cả hai quá trình: quá trình chia tách các đối tượng và quá trình hợp nhất các đốì tượng đã tách ra vào thành thể thống nhất mới Những quá trình đó được di chuyển vào tư duy thành thao tác tư duy, phương pháp tư duy
Các phương pháp phân tích và tổng hợp của tư duy chỉ là sự phản ánh những quá trình hoạt động thực tiễn của con ngưồi - quá trình phân chia các yếu
tố ra và quá trình hợp nhất các yếu tố lại để nhận thức cái chỉnh thể Tách ra trong ý thức những mặt này, mặt kia của chỉnh thể cần nghiên cứu và hợp nhất chúng lại nhằm thu được tri thức mới là một khâu cơ bản để chiếm lĩnh bằng lý luận các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp nhận thức khác nhau song lại thống nhất biện chứng với nhau Phân tích và tổng hợp hỗ trợ lẫn nhau, tạo tiền đề và khả năng cho nhau Nhờ đó con người mới nhận thức được bản chất, quy luật của sự vật.(3)
3.2.2 Phương pháp quy nạp và diễn dịch
Quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức cụ thể đến tri thức chung Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái riêng, từ tri thức chung đến tri thức cụ thể hơn Quy nạp và diễn dịch đều dẫn tới tri thức mới, từ cái biết rồi để tìm ra cái chưa biết, tức là khám phá ra tri thức mới Quy nạp giúp chúng ta hiểu được cái chung, còn diễn dịch giúp chúng ta đi từ cái chung để hiểu cái riêng Quá trình nhận thức là quá trình đi từ cái riêng đến chung và từ cái chung đến cái riêng Vì vậy phải vận dụng tổng hợp cả hai phương pháp quy nạp và diễn dịch trong nhận thức và nghiên cứu khoa học
3.2.3 Phương pháp lịch sử và lôgíc
Mỗi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, hoặc trong xã hội đều có lịch sử của mình Phạm trù lịch sử chỉ quá trình phát triển và diệt vong của nó Còn phạm trù lôgíc có hai nghĩa: thứ nhất, nó chỉ tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật, đó là “lôgíc khách quan" của sự vật; thứ hai, nó chỉ mối liên hệ tất yếu giữa các tư tưởng phản ánh thế giới khách quan vào ý thức con ngưòi Đó là lôgíc của
tư duy, của ìý luận Với nghĩa thứ hai, lôgíc là sự tái tạo dưới dạng hình ảnh tinh
Trang 38thần khách thể đang vận động và phát triển với những mối liên hệ tất yếu nhất định
Trong nghiên cứu khoa học nói chung và trong lĩnh vực thư viện học nói riêng, cần phải áp dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Phương pháp lịch sử có giá trị to lớn và quan trọng trong thư viện học Tuy nhiên, không phải bao giờ và với bất cứ đối tượng nghiên cứu nào phương pháp lịch sử cũng thích hợp Trong những trưòng hợp đó, phương pháp lôgíc là thích hợp và có ưu thế hơn Phương pháp lôgíc vạch ra bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát Phương pháp lôgíc có nhiệm
vụ dựng lại cái lôgíc khách quan trong sự phát triển sự vật Quá trình tư duy theo phương pháp lôgíc phải bắt đầu từ khởi điểm của lịch sử và phải tập trung nghiên cứu sự vật dưới hình thức phát triển tương đối hoàn thiện và chín muồi nhất của nó Lịch sử mà thiếu lôgíc là mù quáng, còn lôgíc mà thiếu lịch sử thì không có đốì tượng, dễ rơi vào chủ quan, tư biện
3.2.4 Phương pháp từ trừu tượng đến cụ thể
Nhận thức là sự thống nhất của hai quá trình đối lập: Từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể Theo quá trình thứ nhất, nhận thức xuất phát
từ những tài liệu cảm tính, qua phân tích rút ra những khái niệm đơn giản, những định nghĩa trừu tượng phản ánh từng mặt, từng thuộc tính của sự vật Trong quá trình này, toàn bộ biểu tượng đã biến thành một sự quy định trừu tượng Quá trình từ cụ thể đến trừu tượng tạo tiền đề cho quá trình thứ hai - quá trình từ trừu tượng đến cụ thể
Trong quá trình thứ hai, nhận thức phải từ những định nghĩa trừu tượng thông qua tổng hớp biện chứng đi đến cái cụ thể vói tư cách là kết quả của tư duy chứ không phải vối tư cách là điểm xuất phát trong hiện thực Bên cạnh nhũng phương pháp chung các nhà thư viện học sử dụng các phương pháp riêng như: quan sát, thực nghiệm, phỏng vấn, mô hình hoá, thống kê, lập bảng hỏi
3.2.5 Phương pháp quan sát
Là sự tri giác các sự vật, hiện tượng được nghiên cứu nhằm một mục đích nhất định Quan sát là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính và quan hệ của sự vật, hiện tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh xét trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó
Trang 393.2.6 Phương pháp thực nghiệm
Là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng nhằm tạo ra cho chúng những điều kiện nhân tạo, tách chúng thành các bộ phận và kết hợp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng "thuần khiết” Nếu như trong quan sát, chủ thể không can thiệp vào trạng thái tự nhiên của khách thể, thì trong thực nghiệm chủ thể chủ động tác động lên khách thể, thay đổi những điều kiện tồn tại tự nhiên của khách thể, buộc khách thể phải bộc lộ bản tính của mình cho chủ thể nhận thức
Nhờ có thực nghiệm, người ta khám phá ra những thuộc tính của hiện tượng mà trong những điều kiện tự nhiên không thể khám phá được Trong thư viện có thể áp dụng phương pháp so sánh như là một trong những thủ pháp quan trọng đôi với việc nhận thức sự vật và hiện tượng của công tác thư viện Bản chất của phương pháp này là xác định sự tương đồng hay sự khác biệt của sự vật đang nghiên cứu với những sự vật khác có liên quan
3.2.7 Phương pháp so sánh
Được áp dụng vào cả lý thuyết và thực hành của công tác thư viện Phương pháp so sánh trong thư viện học được sử dụng khá rộng rãi cho nên trong thư viện học khoảng ba, bốn chục nám gần đây, phần thư viện học so sánh được hình thành dựa trên cơ sỏ của phương pháp này
Ngoài các phương pháp chung, trong thư viện học còn áp dụng phương pháp đặc thù: đó là phân tích yêu cầu của người đọc và ngưòi dùng tin, thống kê lượt đọc, lượt luân chuyển sách báo Chỉ trong các thư viện và cơ quan thông tin mới thu thập được các phiếu yêu cầu trong đó phản ánh các nhu cầu đọc và nhu cầu thông tin của ngưòi đọc và người dùng tin Thông qua việc phân tích các yêu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu của thư viện và cơ quan thông tin, nắm được thực tiễn lượt đọc và luân chuyển sách báo người cán bộ thư viện thông tin có thể có những định hướng đúng trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện và cơ quan thông tin
4 Sự nghiệp thƣ viện thế giới và Việt Nam
4.1 Sự nghiệp thư viện thế giới
Trang 40Trong quá trình phát triển của nhân loại, thư viện đã tồn tại và được xây dựng trong mọi hình thái kinh tế xã hội Ngay từ thời kỳ cổ đại, thư viện đã được những người đứng đầu nhà nước quan tâm chú ý Sách vốn được coi là một trong những di sản văn hoá của nhân loại, đáng được trân trọng Ở một số nước phát triển, các đạo luật về thư viện đã được ban hành Qua các đạo luật này, người ta có thể thấy được sự quan tâm và chính sách phát triển sự nghiệp thư viện của những nước đó Những đạo luật đó thường là những văn kiện lập pháp tổng hợp trong đó quy định những nguyên tác xây dựng hệ thống thư viện, thủ tục thành lập và hoạt động của thư viện, những hình thức phục vụ của thư viện, các nguồn kinh phí cấp cho thư viện, tổ chức lãnh đạo sự nghiệp thư viện
Trên thế giới đạo luật thư viện xuất hiện vào khoảng nửa cuối thế kỷ XIX gắn liền với sự phát triển thư viện đại chúng và với sự cần thiết quy định những điều kiện hoạt động của chúng
Ví dụ; Đạo luật Thư viện Hoa Kỳ (1845), Luật Thư viện Ba Lan (1968), Luật Thư viện Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Hunggari (1956), Luật về hệ thống thư viện thống nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc(1959), Luật thư viện của Cộng hoà Liên bang Nga
Nền Thư viện học Xô viết đã có những bước phát triển vững chắc gắn liền với việc thực hiện cương lĩnh của Lênin về tổ chức công tác thư viện trong xã hội xã hội chủ nghĩa Con đưòng phát triển của sự nghiệp thư viện Liên Xô là quá trình phấn đấu liên tục nhằm thực hiện các quan điểm của Lênin về phục vụ sách báo cho nhân dân
Ở Anh, luật Thư viện công cộng năm 1919 cho phép các tỉnh được thành lập và nhà nước cấp tiền cho thư viện công cộng Luật này tạo điều kiện cho việc thành lập thư viện ở các vùng nông thôn và các thành phố nhỏ, nơi không
có tiền để xây dựng thư viện
Ở các nước châu Mỹ Latinh, người ta đã lập kế hoạch quốc gia cho dịch
vụ thư viện và thông tin Muốn thực thi điều này họ đã đưa ra một số chủ trương sau:
Tổ chức một nhóm đặc biệt liên ngành để chuẩn bị cơ sở cho một chính sách quốc gia về dịch vụ thư viện và thông tin và đệ trình kế hoạch cho các nhà chức trách chính phủ xem xét và phê chuẩn Lập mối liên hệ với các giới chính