1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình tâm lý học đại cương dành cho sinh viên CĐTH

148 361 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 27,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu là những hiện tượng tinh thần, nhưng nó không tồn tại lơ lửng, trừu tượng, phi vật chất mà nó gắn liền với hiện tượng sinh lý thần kinh, cũng như các quá trình sinh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON

GIÁO TRÌNH

(Lưu hành nội bộ)

TÂM LÝ HỌC (Dành cho sinh viên các ngành ĐHSP)

Tác giả: Nguyễn Thị Thuỳ Vân- Hoàng Thị Tường Vi

Năm 2016

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 6

PHẦN 1 TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG 7

Chương 1 7

TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC 7

1 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA TÂM LÝ HỌC 7

1.1 Tâm lý học là gì? 7

1.2 Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học 7

1.3 Các quan điểm cơ bản trong tâm lý học hiện đại 9

1.4 Đối tượng của tâm lý học 11

1.5 Nhiệm vụ của tâm lý học 12

1.6 Vị trí, ý nghĩa của tâm lý học 12

2 BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ 13

2.1 Bản chất của hiện tượng tâm lý theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 13

2.2 Chức năng của tâm lý 15

2.3 Phân loại hiện tượng tâm lý 15

3 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ 16

3.1 Các nguyên tắc phương pháp luận 16

3.2 Các phương pháp nghiên cứu tâm lý 17

Chương 2 20

CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ NGƯỜI 20

1 CƠ SỞ TỰ NHIÊN 20

1.1 Não và tâm lý 20

1.2 Vấn đề định khu chức năng tâm lý trong não 21

1.3 Phản xạ có điều kiện và tâm lý 22

1.4 Quy luật hoạt động thần kinh cấp cao 23

1.5 Hai hệ thống tín hiệu 24

1.6 Các kiểu thần kinh cấp cao 24

2 CƠ SỞ XÃ HỘI 24

2.1 Quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội và tâm lý con người 24

2.2 Hoạt động và tâm lý 25

2.3 Giao tiếp và tâm lý 26

2.4 Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động giao tiếp 27

Chương 3 29

SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TÂM LÝ, Ý THỨC VÀ NHÂN CÁCH 29

1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ, Ý THỨC 29

1.1 Sự hình thành và phát triển tâm lý 29

1.2 Sự hình thành và phát triển ý thức 30

2 NHÂN CÁCH VÀ SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH 35

2.1 Khái niệm chung về nhân cách 35

2.2 Cấu trúc của nhân cách 37

Trang 3

2.3 Các thuộc tính tâm lý của nhân cách 38

2.4 Sự hình thành và phát triển nhân cách 44

Chương 4 47

HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC 47

1 NHẬN THỨC CẢM TÍNH 47

1.1 Cảm giác 47

1.2 Tri giác 50

2 NHẬN THỨC LÝ TÍNH 54

2.1 Tư duy 54

2.2 Tưởng tượng 59

Chương 5 62

NGÔN NGỮ VÀ TRÍ NHỚ 62

1 NGÔN NGỮ 62

1.1 Khái niệm chung về ngôn ngữ 62

1.2 Chức năng của ngôn ngữ 62

1.3 Các loại ngôn ngữ 63

1.4 Các đặc điểm cá nhân về ngôn ngữ 64

1.5 Vai trò của ngôn ngữ 64

2 TRÍ NHỚ 65

2.1 Khái niệm 65

2.2 Đặc điểm của trí nhớ 66

2.3 Các loại trí nhớ 66

2.4 Quá trình trí nhớ 67

Chương 6 70

TÌNH CẢM VÀ Ý CHÍ 70

1 TÌNH CẢM 70

1.1 Khái niệm 70

1.2 Đặc điểm của tình cảm 71

1.3 Các mức độ của đời sống tình cảm 72

1.4 Các loại tình cảm 72

1.5 Các quy luật của tình cảm 73

1.6 Vai trò của tình cảm 74

2 Ý CHÍ 74

2.1 Ý chí 74

2.2 Hành động ý chí 75

2.3 Hành động tự động hóa 77

PHẦN 2 80

TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 80

Chương 1 80

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ 80

TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 80

1 KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 80

1.1 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm 80

1.2 Mối quan hệ giữa tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm 81

2 LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA TRẺ EM 81

2.1 Khái quát chung về sự phát triển tâm lý trẻ em 81

2.2 Quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em 85

2.3 Dạy học, giáo dục và sự phát triển tâm lý của trẻ 85

Trang 4

3 SỰ PHÂN CHIA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ 86

3.1 Quan niệm về giai đoạn phát triển tâm lý 86

3.2 Phân chia giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ 87

Chương 2 88

TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 88

1 VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH THCS 88

1 1 Nhữn g yế u tố h oàn cả nh kì m h ã m s ự phá t t riể n t ính n gư ờ i lớ n 88

1.2 Nh ữn g yế u t ố hoà n c ảnh thúc đẩ y sự phá t t ri ển tí nh n gười lớ n 88

2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Ở HỌC SINH THCS 89

2.1 Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lý 89

2.2 Sự thay đổi của điều kiện sống 90

3 HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ HỌC SINH THCS 91

3.1 Đặc điểm hoạt động học tập 91

3.2 Sự phát triển trí tuệ của học sinh THCS 92

4 HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP Ở LỨA TUỔI HỌC SINH THCS 94

4.1 Sự hình thành kiểu quan hệ mới 94

4.2 Hoạt động giao tiếp với bạn bè 95

5 SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Ở HỌC SINH THCS 97

5.1 Sự hình thành của tự ý thức 97

5.2 Sự hình thành tình cảm 98

Chương 3 100

TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 100

1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA LỨA TUỔI HỌC SINH THPT 100

1.1 Khái niệm tuổi thanh niên 100

1.2 Đặc điểm cơ thể 101

1.3 Điều kiện xã hội của sự phát triển 102

2 HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ HỌC SINH THPT 102

2.1 Đặc điểm hoạt động học tập 102

2.2 Đặc điểm sự phát triển trí tuệ học sinh THPT 103

3 SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Ở HỌC SINH THPT 105

3.1 Sự phát triển của tự ý thức 105

3.2 Sự hình thành thế giới quan 107

4 HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG VÀ SỰ LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH THPT 112

5 VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI HỌC SINH THPT 112

Chương 4 113

TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC 113

1 HOẠT ĐỘNG DẠY 113

1.1 Khái niệm về hoạt động dạy 113

1.2 Mục đích của hoạt động dạy 114

1.3 Con đường để đạt được mục đích của hoạt động dạy 114

1.4 Các yếu tố tâm lý cơ bản trong hoạt động dạy 114

2 HOẠT ĐỘNG HỌC 116

2.1 Khái niệm về hoạt động học 116

2.2 Bản chất của hoạt động học 116

2.3 Sự hình thành hoạt động học 117

Trang 5

3 SỰ HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM, KỸ NĂNG, KỸ XẢO HỌC TẬP 120

3.1 Sự hình thành khái niệm 120

3.2 Sự hình thành kỹ năng, kỹ xão 122

4 DẠY HỌC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ 124

4.1 Khái niệm về sự phát triển trí tuệ 124

4.2 Quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ 125

Chương 5 126

TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC 126

1 ĐẠO ĐỨC VÀ HÀNH VI ĐẠO ĐỨC 126

1.1 Khái niệm về đạo đức 126

1.2 Khái niệm về hành vi đạo đức 126

2 CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HÀNH VI ĐẠO ĐỨC 127

2.1 Tri thức đạo đức và niềm tin đạo đức 127

2.2 Động cơ đạo đức và tình cảm đạo đức 130

2.3 Thiện chí, nghị lực đạo đức và thói quen đạo đức 131

2.4 Mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý trong cấu trúc hành vi đạo đức 131

3 NHÂN CÁCH LÀ CHỦ THỂ HÀNH VI ĐẠO ĐỨC 132

3.1 Tính sẵn sàng hành động có đạo đức 132

3.2 Ý thức bản ngã 132

4 VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 133

4.1 Tổ chức giáo dục đạo đức cho HS trong nhà trường 133

4.2 Xây dựng bầu không khí đạo đức của tập thể 133

4.3 Tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh ở trong gia đình 134

4.4 Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua sự tự tu dưỡng, tự rèn luyện 134

Chương 6 136

TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH NGƯỜI THẦY GIÁO 136

1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TRAU DỒI NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI THẦY GIÁO 136

1.1 Sản phẩm lao động của người giáo viên là nhân cách học sinh do những yêu cầu khách quan của xã hội qui định 136

1.2 Giáo viên là người quyết định trực tiếp chất lượng đào tạo 136

1.3 Giáo viên là “dấu nối” giữa nền văn hóa của nhân loại và của dân tộc với việc tái tạo nền văn hóa đó trong chính thế hệ trẻ 137

2 ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN 137

2.1 Nghề mà đối tượng có quan hệ trực tiếp là con người 137

2.2 Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình 137

2.3 Nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội 138

2.4 Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao 138

2.5 Nghề lao động trí óc chuyên nghiệp 139

3 CẤU TRÚC NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI THẦY GIÁO 139

3.1 Phẩm chất nhân cách của người thầy giáo 139

3.2 Năng lực sư phạm của người giáo viên 141

3.3 Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm 144

4 SỰ HÌNH THÀNH UY TÍN CỦA NGƯỜI THẦY GIÁO 145

TÀI LIỆU THAM KHẢO 146

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập học phần: Tâm lý học, tài liệu biên soạn nhằm

cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về bản chất, quy luật, đặc điểm của các hiện tượng tâm lý người; lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ em, đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh trung học, cơ sở tâm lý của hoạt động dạy học và giáo dục Trên cơ sở đó, sinh viên có khả năng vận dụng kiến thức tâm lý trong quá trình thực hiện các bài tập thực hành, giải thích các hiện tượng tâm lý, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, tìm hiểu đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh trung học để tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục ở phổ thông đạt hiệu quả

Nội dung tài liệu bao gồm hai phần:

Phần 1.Tâm lý học đại chương

Phần 2 Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm

Trong quá trình biên soạn tài liệu không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong đồng nghiệp và sinh viên góp ý để tài liệu hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trang 7

PHẦN 1 TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Chương 1 TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC

1 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA TÂM LÝ HỌC

1.1 Tâm lý học là gì?

Trong tiếng Việt thuật ngữ tâm lý đã có từ lâu Từ điển tiếng Việt 1988 định nghĩa một cách tổng quát: “ tâm lý là ý nghĩa, tình cảm, làm thành thế giới nội tâm, thế giới bên trong của con người”

Trong cuộc sống hàng ngày, chữ tâm thường được sử dụng ghép với các từ khác Ta thường có cụm từ “tâm địa”, tâm can, tâm tình tâm trạng, tâm tư, được hiểu là lòng người thiên

về mặt tình cảm Như vậy tâm lý được dùng để chỉ những hiện tượng tinh thần của con người Khái niệm tâm lý trong tâm lý học bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần như cảm giác, tư duy, tình cảm hình thành trong đầu óc con người điều chỉnh, điều khiển mọi hoạt động của con người

Nói một cách chung nhất: tâm lý là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu

óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con nguời

Tâm lý học (Psychology) là khoa học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý Nghiên cứu các quy luật nảy sinh vận hành và phát triển của các hiện tượng tâm lý trong hoạt động đa dạng diễn

ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người Sự ra đời của tâm lý học với tư cách là một

khoa học độc lập là kết quả phát triển lâu dài của nhưng tư tưởng triết học, những quan điểm tâm lý học trong trường kỳ lịch sử và phát triển của nhiều lĩnh vực khoa học khác

1.2 Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học

1.2.1 Những tư tưởng tâm lý học cổ đại

Loài người xuất hiện trên trái đất khoảng 10 vạn năm trước đây Lúc đó con người đã có trí khôn, có lý trí tuy còn mới sơ khai, mông muội

Trong các di chỉ của người nguyên thủy người ta thấy những bằng chứng chứng tỏ đã có những quan niệm về cuộc sống của "hồn ", "phách" sau cái chết của thể xác

Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã nói đến chữ "tâm" của con người là "nhân, trí, dũng", về sau học trò của ông đã nêu thành "nhân, lễ, nghĩa, trí, tín"

Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Xocrat (469 - 399 TCN) đã có câu châm ngôn nổi tiếng: "Hãy

tự biết mình" Đây là một định hướng có giá trị lớn cho tâm lý học: con người có thể tự hiểu biết mình, tự nhận thức, tự ý thức về cái ta

Người đầu tiên "Bàn về tâm hồn" là Arixtot (384 - 322 TCN), ông cho rằng tâm hồn gắn liền với thể xác, tâm hồn có 3 loại:

- Tâm hồn thực vật (“tâm hồn dinh dưỡng”): thực hiện chức năng dinh dưỡng, có chung cả người và động vật

- Tâm hồn động vật (“tâm hồn cảm giác”): thực hiện chức năng cảm giác, vận động, có chung cả người và động vật

Trang 8

- Tâm hồn trí tuệ (“tâm hồn suy nghĩ”): chỉ có ở con người

Đối lập với quan điểm của nhà triết học duy tâm cổ đại Platon (428 - 348 TCN), Arixtôt cho rằng: tâm hồn là cái có trước, thực tại có sau, tâm hồn do thượng đế sinh ra, tâm hồn trí tuệ nằm trong đầu và chỉ có ở giai cấp chủ nô, tâm hồn dũng cảm nằm ở ngực và chỉ có ở tầng lớp quý tộc, tâm hồn khát vọng nằm ở bụng và chỉ có ở tầng lớp nô lệ

Đối lập với quan điểm duy tâm thời cổ đại về tâm hồn là quan điểm của các nhà triết học duy vật (Talet, Anaximen, Heraclit, Đêmocrit ) cho rằng: tâm lý, tâm hồn cũng như vạn vật đều được cấu tạo từ vật chất như: nước, lửa, không khí, đất hay tâm hồn do nguyên tử cấu thành, trong đó “nguyên tử lửa” là nhân tố tạo nên tâm lý Đây chính là cơ sở thuyết ngũ hành coi kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tạo nên vạn vật trong đó có cả tâm hồn

Các quan điểm duy tâm và duy vật luôn đấu tranh mãnh liệt xung quanh mối quan hệ vật chất và tinh thần, vật chất và tâm lý

1.2.2 Những tư tưởng tâm lý học từ nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước

- Thuyết nhị nguyên: đại diện là R.Đêcac (1596 - 1650) cho rằng: vật chất và tinh thần hai thực thể song song tồn tại Coi cơ thể con người phản xạ như một chiếc máy còn bản thể tinh thần, tâm lý con người thì không thể biết được Song, Đêcac đã đặt cơ sở đầu tiên cho việc tìm

ra cơ chế phản xạ trong hoạt động tâm lý

- Sang thế kỷ thứ XVIII, tâm lý học bắt đầu có tên gọi Nhà triết học Đức Vôn - Phơ đã chia nhân chủng học thành hai thứ khoa học: một là khoa học về cơ thể, hai là tâm lý học

- Vào thế kỷ XVII - XIX cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và duy vật xoay quanh mối quan hệ giữa tâm và vật

+ Các nhà triết học duy tâm chủ quan như: Beccơli (1685 - 1753); E.Makhơ (1838 - 1916) cho rằng: Thế giới không có thực mà chỉ là “phức hợp các cảm giác chủ quan” của con người, còn D.Hium (1711 - 1776) coi thế giới chỉ là những “kinh nghiệm chủ quan”

Học thuyết duy tâm phát triển cao thể hiện ở “ý niệm tuyệt đối” của Hêghen

+ Thế kỷ XVII- XIX, các nhà triết học và tâm lý học phương Tây đã phát triển chủ nghĩa duy vật lên một bước cao hơn: Spinoda (1632 - 1667) coi tất cả vật chất đều có tư duy, Lametri (1709 - 1751) thừ nhận chỉ có cơ thể mới có cảm giác Còn Canbanic (1557 - 1808) lại cho rằng não tiết ra tư tưởng như gan tiết ra mật

+ L.Phơbach (1804 - 1872) khẳng định: tinh thần, tâm lý không thể tách rời khỏi não người,

nó là sản vật của thứ vật chất phát triển tới mức độ cao là bộ não

Đến nửa đầu thế kỷ XIX có rất nhiều điều kiện để tâm lý học trưởng thành, tự tách mình ra khỏi mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ của tâm lý học vào triết học với tư cách tâm lý học là một

bộ phận, một chuyên ngành của triết học

1.2.3 Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập

Từ đầu thế kỷ XIX trở đi, nền sản xuất phát triển mạnh, thúc đẩy sự tiến bộ phát triển khoa học kỹ thuật, tạo điều kiện cho tâm lý học trở thành khoa học độc lập Trong đó phải kể tới những thành tựu: Thuyết tiến hoá của S.Đacwin; Thuyết tâm sinh lý học giác quan của Hemhôn; Tâm vật lý học cuả Phécne và Vêbe, tâm lý học phát sinh phát triển của Gantôn (Anh); Các công trình nghiên cứu tâm thần học của Bác sỹ Sáccô (Pháp)

Trang 9

Năm 1879 nhà tâm lý học Đức V.Wundt (1832 - 1920) đã thành lập phòng thí nghiệm tâm lý học đâu tiên trên thế giới ở Laixic (Đức) và một năm sau

nó đã trở thành viện tâm lý học đầu tiên trên thế giới, xuất bản các tạp chí tâm lý học Sự kiện này đánh dấu tâm lý trở thành một khoa học độc lập

Để góp phần tấn công vào chủ nghĩa duy tâm, đầu thế kỷ XX các dòng phái tâm lý học lần lượt ra đời đã đánh dấu những bước ngoặt phát triển quan trọng của tâm lý học

1.3 Các quan điểm cơ bản trong tâm lý học hiện đại

1.3.1 Tâm lý học hành vi

Do nhà tâm lý học Mỹ J.Watsơn (1878 - 1858) sáng lập Theo ông, tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể Ở con người cũng như động vật, hành vi là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó Toàn bộ hành vi, phản ứng của cơ thể nhằm đáp lại kích thích ngoại giới đều thể hiện bằng công thức: S - R

(J.Watsơn) (Kích thích) (Phản ứng)

Với công thức trên, Watson đã nêu lên một quan điểm tiến bộ trong tâm lý học đó là coi hành vi là do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thể quan sát được, nghiên cứu được một cách khách quan, từ đó có thể điều khiển hành vi theo phương pháp “thử - sai” Tuy nhiên, sai lầm của thuyết hành vi là đã quan niệm một cách cơ học, máy móc về hành vi, đem đánh đồng hành vi con người với con vật, coi hành vi chỉ là những phản ứng máy móc nhằm đáp lại kích thích ngoại giới giúp cơ thể thích nghi với môi trường xung quanh Chủ nghĩa hành vi đã đồng nhất phản ứng với nội dung tâm lý bên trong làm mất tính chủ thể, tính xã hội của tâm lý con người

Về sau những nhà hành vi mới (Tolmen, skinner ) có đưa vào công thức S- R những “biến

số trung gian” như: nhu cầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống hoặc hành vi tạo tác nhằm đáp lại những kích thích có lợi cho cơ thể nhưng chủ nghĩa hành vi vẫn mang tính máy móc, thực dụng như thuyết hành vi cổ điển của Watson

1.3.2 Tâm lý học Gestalt (tâm lý học cấu trúc)

Ra đời gắn với tên tuổi của các nhà tâm lý học Đức như: Vecthaimơ (1880 - 1943); Côlơ (1887- 1967); Côpca (1886 - 1947) Họ đi sâu nghiên cứu các quy luật về tính ổn định, tính trọn vẹn của tri giác, quy luật “bừng sáng” của

tư duy Trên cơ sở thực nghiệm, các nhà tâm lý học Gestalt đã khẳng định các quy luật của tri giác, tư duy và tâm lý con người do cấu trúc tiền định của não quyết định, họ đã bỏ qua vai trò vốn kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử

1.3.3 Tâm lý học phân tâm (Phân tâm học)

(V.Wundt)

(M.Kurt Kaffka)

Trang 10

Do S.Freud (1859 - 1939)- một bác sĩ người Áo sáng lập Ông tách con người

ra thành 3 khối:

- Cái ấy (Id): bao gồm các bản năng vô thức như: ăn uống, tình dục, tự vệ trong đó bản năng tính dục giữ vai trò quyết định toàn bộ đời sống tâm lý và hành vi Id tồn tại theo nguyên tắc thỏa mãn và đòi hỏi

- Cái tôi (Ego): con người đời thường có ý thức tồn tại theo nguyên tắc hiện thực (là cái tôi giả hiệu, cái tôi bề ngoài của cá nhân bên trong "cái ấy")

- Cái siêu tôi (Super Ego): là cái siêu phàm, “cái tôi lý tưởng” không bao giờ vươn tới được, tồn tại theo nguyên tắc kiểm duyệt, chèn ép

Freud đã đề cao yếu tố vô thức bản năng quyết định tất cả, phủ định ý thức, phủ nhận bản chất

xã hội lịch sử của tâm lý người Đồng nhất tâm lý với sinh lý, sinh vật hoá tâm lý con người

1.3.4 Tâm lý học nhân văn

Do C Rogers (1902-1987) và H Maslow sáng lập Hai ông cho rằng: Bản chất con người vốn tốt đẹp, có lòng vị tha, có tiềm năng kỳ diệu

Maslow đã nêu lên 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người xếp theo thứ tự từ thấp đến cao (tháp nhu cầu):

(C Rogers )

- Nhu cầu sinh lý cơ bản

- Nhu cầu an toàn

- Nhu cầu quan hệ xã hội

- Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ

- Nhu cầu phát huy bản ngã, thành đạt

(H Maslow )

C Rogers cho rằng con người cần đối xử với nhau cởi mở và tế nhị, thông cảm và chia sẻ Tâm lý học cần giúp con người tìm được bản ngã đích thực của mình để sống thoải mái, hồn nhiên và sáng tạo Tuy nhiên, tâm lý học nhân văn đề cao những cảm nghiệm, thế nghiệm chủ quan của mỗi người, tách con người khỏi các mối quan hệ xã hội, chỉ chú ý đến mặt nhân văn trừu tượng trong con người vì thế thiếu vắng con người trong hoạt động thực tiễn

1.3.5 Tâm lý học nhận thức

Do J Piaget (Thuỵ Sĩ) và G Bruner (Mỹ) sáng lập Tâm lý học nhận thức coi hoạt động nhận thức là đối tượng nghiên cứu của mình Họ nghiên cứu tâm lý, nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, với cơ thể và với não bộ

Họ đã phát hiện ra nhiều sự kiện khoa học có giá trị về nhận thức, khả năng tri giác, trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy của con người, xây dựng được nhiều phương pháp nghiên cứu tâm lí học Song dòng phái này cũng có những mặt hạn chế: coi nhận thức của con người là sự nỗ lực ý chí để đưa ra sự thay đổi vốn tri thức và cấu trúc trí tuệ của chủ thể, nhằm cân bằng, thích nghi với thế giới, chưa thấy hết ý nghĩa tích cực, ý nghĩa thực tiễn của hoạt động nhận thức cải tạo thế giới và bản thân

J Piaget

(S.Freud)

Trang 11

1.3.6 Tâm lý học hoạt động

Do các nhà tâm lý học Xô Viết như: L.X.Vưgôtxki (1896- 1934), A.N.Lêônchiev (1903- 1979), A.R.Luria (1902- 1977) sáng lập Đay là dòng phái tâm lý học lấy triết học Mác - Lênin làm cơ sở lý luận và phương pháp luận Coi tâm lý là sự phản ánh khách quan vào não người, tâm lý mang tính chủ thể và có bản chất xã hội lịch sử, tâm lý được hình thành, phát triển, thể hiện trong hoạt động và các mối quan hệ giao lưu của con người trong xã hội

Vì thế, tâm lý học Mácxít còn gọi là “tâm lý học hoạt động”

Tóm lại, thế giới tâm lý của con người vô cùng diệu kỳ và phong phú, được loài người quan tâm nghiên cứu cùng với lịch sử hình thành và phát triển nhân loại Từ những tư tưởng đầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm lý, tâm lý học đã hình thành và phát triển không ngừng và ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong nhóm các khoa học về con người Đây là một khoa học có

ý nghĩa to lớn trong công việc phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

1.4 Đối tượng của tâm lý học

1.4.1 Đặc điểm của tâm lý học so với các khoa học khác

Tâm lý học là một khoa học chuyên nghiên cứu các hiện tượng tâm lý gần gũi, gắn bó với đời sống con người Từ những hiện tượng tâm lý đơn giản như cảm giác âm thanh đến những hiện tượng tâm lý phức tạp hơn như: trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, tình cảm, ý chí, ý thức, nhân cách Các hiện tâm lý dù ở dạng hiện thực hay tiềm năng, cụ thể hay trừu tượng, đều hoà quyện đan xen vào nhau khó tách bạch ra được, song dù nó trừu tượng đến đâu cũng được bộc lộ thể hiện qua hành vi, cử chỉ, cách nói năng, đi đứng của con người từ đó ta có thể nhận thức được nó

Tâm lý học là nơi hội tụ nhiều khoa học nghiên cứu về con người Nó là khoa học trung gian giữa tự nhiên - xã hội và triết học Đối tượng nghiên cứu là những hiện tượng tinh thần, nhưng nó không tồn tại lơ lửng, trừu tượng, phi vật chất mà nó gắn liền với hiện tượng sinh lý thần kinh, cũng như các quá trình sinh lý hoá khác trên não và được thể hiện qua hệ thống một hành vi hoạt động của con người Mặt khác, tâm lý có nội dung bản chất xã hội lịch sử và bị chế ước bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, mang tính xã hội lịch sử Tâm lý học là sự hội tụ, giao thoa của nhiều khoa học, nó là bông hoa lưỡng tính, sự phát triển tâm lý học là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc thành tựu của các khoa học khác nhau

Tâm lý học là một bộ môn khoa học cơ bản trong hệ thống các khoa học về con người Nó

là một bộ phận nghiệp vụ, tham gia vào qúa trình giáo dục đào tạo con người, nhằm hình thành nhân cách con người Ngoài ra còn tham gia vào các lĩnh vực hoạt động xã hội khác như: văn học nghệ thuật, quân sự, pháp lý, y học, thương mại, quản lý xã hội, công tác chính trị, tự giáo dục, tự rèn luyện

1.4.2 Đối tượng của tâm lý học

Theo quan điểm duy vật biện chứng, thế giới luôn vận động biến đổi không ngừng Mỗi khoa học nghiên cứu một dạng vận động của thế giới: Khoa học tự nhiên nghiên cứu các dạng vận động của thế giới tự nhiên, khoa học xã hội nghiên cứu các dạng vận động của xã hội Có

L.X.Vưgôtxki

Trang 12

những khoa học nghiên cứu các dạng vận động chuyển tiếp, trung gian từ dạng vận động này sang dạng vận động khác (cơ- vật lý học, hoá- sinh học, lý- sinh học, sinh - tâm lý học ) Trong đó, tâm lý học nghiên cứu dạng vận động chuyển tiếp từ vận động sinh vật sang vận động xã hội, từ thế giới khách quan vào não người sinh ra hiện tượng tâm lý với tư cách là một hiện tượng tinh thần

Như vậy, đối tượng của tâm lý học là các hiện tượng tâm lý người với tư cách là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra (gọi chung là các hoạt động tâm lý) Tâm lý học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lý

1.5 Nhiệm vụ của tâm lý học

- Nhiệm vụ cơ bản của tâm lý nghiên cứu bản chất hoạt động của tâm lý, các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lý, cơ chế diễn biến và thể hiện tâm lý, quy luật về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý, cụ thể là nghiên cứu:

+ Những yếu tố khách quan, chủ quan nào đã tạo ra tâm lý người;

+ Cơ chế hình thành, biểu hiện của hoạt động tâm lý;

+ Tâm lý của con người hoạt động như thế nào?

+ Chức năng, vai trò của tâm lý đối với hoạt động của con người

- Có thể nêu lên các nhiệm vụ cụ thể của tâm lý học như sau:

+ Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lý cả về mặt số lượng và chất lượng;

+ Phát hiện các quy luật hình thành, phát triển tâm lý;

+ Tìm ra cơ chế của các hiện tượng tâm lý;

Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, tâm lý học đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành, phát triển tâm lý, sử dụng tâm lý trong nhân tố con người có hiệu quả nhất Để thực hiện các nhiệm vụ nói trên, tâm lý học phải liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhiều khoa học khác

1.6 Vị trí, ý nghĩa của tâm lý học

1.6.1 Vị trí của tâm lý học

Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học Mỗi khoa học nghiên cứu một mặt nào đó của con người Trong đó tâm lý học chiếm một vị trí đặc biệt Nó là trung tâm của 3 khoa học: tự nhiên - xã hội - triết học

Triết học cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận chỉ đạo tâm lý học (những nguyên tắc, phương hướng chung) Ngược lại, tâm lý học làm cho triết học phong phú hơn

Tâm lý học quan hệ chặt chẽ với khoa học tự nhiên: giải phẫu sinh lý người, hoạt động thần kinh cấp cao là cơ sở tự nhiên của các hiện tượng tâm lý Các thành tựu của sinh vật học, di truyền học, tiến hoá luận đã góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc, bản chất tâm lý người

Tâm lý học quan hệ hữu cơ với khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ Ngược lại, những thành tựu tâm lý học được ứng dụng vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, y học, nghệ thuật, giáo dục Tâm lý học là cơ sở cho khoa học giáo dục, thực chất quá trình giáo dục là quá trình hiện thực hoá nội dung tâm lý cần hình thành và phát triển ở con người

Trang 13

1.6.2 Ý nghĩa của tâm lý học

Tâm lý học có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn: Góp phần tích cực vào việc đấu tranh chống lại các quan điểm phản khoa học về tâm lý con người Trực tiếp phục vụ sự nghiệp giáo dục Nó giúp giải thích một cách khoa học những hiện tượng tâm lý xảy ra trong bản thân mình, người khác, trong cộng đồng xã hội Nó là cơ sở cho việc tự rèn luyện, hoàn thiện nhân cách và xây dựng mối quan hệ giao lưu, quan hệ liên nhân cách, quan hệ xã hội Ngoài ra, tâm lý học còn có ý nghĩa thực tiễn đối với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

2 BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ

2.1 Bản chất của hiện tượng tâm lý theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Tâm lý con người là chức năng của

bộ não, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não thông qua chủ thể mỗi người Tâm lý người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử

2.1.1 Tâm lý là chức năng của não

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng vật chất có trước, tinh thần, tâm lý có sau, song không phải ở đâu có vật chất thì ở đó có tâm lý, dù hiện tượng tâm lý đơn giản đến các hiện tượng tâm lý phức tạp bậc cao đều thực hiện thông qua chức năng của bộ não người- thứ vật chất đặc biệt, có tổ chức cao nhất “Tâm lý, ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao,

là chức năng của khối vật chất đặc biệt phức tạp là não người” (V.I.Lênin)

Hình ảnh tâm lý có được là do hiện thực khách quan tác động vào giác quan rồi chuyển lên não Não hoạt động theo cơ chế phản xạ, từ đó sinh ra các hiện tượng tâm lý Trong đó vai trò của phản xạ có điều kiện là cơ sở sinh lý của các hiện tượng tâm lý Hoạt động phản xạ có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn thay đổi

Sự hình thành và thể hiện tâm lý người chịu sự chi phối chặt chẽ của sự tác động qua lại giữa hai hệ thống tín hiệu, trong đó hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở của hoạt động trực quan cảm tính, cảm xúc, còn hệ thống tín hiệu thứ hai là cơ sở sinh lý của tư duy, ngôn ngữ, ý thức, tình cảm và các chức năng tâm lý cấp cao của con người

Tóm lại, các hiện tượng tâm lý người có cơ sở sinh lý là hệ thống chức năng thần kinh cơ động của não bộ, tâm lý là chức năng của não, tâm lý có cơ chế phản xạ của não

2.2.2 Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể

Tâm lý người không phải do lực lượng siêu nhiên nào đó sinh ra, cũng không phải do não

“tiết ra” mà là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não thông qua “lăng kính chủ quan”

- Thế giới khách quan tồn tại bằng các thuộc tính không gian, thời gian và luôn vận động Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật hiện tượng đang vận động, đó là sự tác động qua lại giữa hệ thống này lên hệ thống khác, kết quả là để lại "dấu vết" (hình ảnh) trên cả hai hệ thống

Sự phản ánh đó diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và có sự chuyển hoá lẫn nhau, từ phản ánh

cơ, lý, hoá, sinh đến phản ánh xã hội, trong đó có sự phản ánh tâm lý

- Phản ánh tâm lý là một loại phản ánh đặc biệt:

Trang 14

+ Tâm lý là hình ảnh tinh thần (tâm lý) do thế giới khách quan tác động vào não - tổ chức cao nhất của vật chất mà có Chỉ có hệ thân kinh và não người mới có khả năng nhận tác động của hiện thực khách quan, tạo ra trên não hình ảnh tinh thần chứa đựng trong dấu vết vật chất C.Mác đã nói: Tinh thần, tư tưởng, tâm lý chẳng qua là vật chất được chuyển vào trong đầu

óc, biến đổi trong đó mà có

+ Phản ánh tâm lý tạo ra “hình ảnh tâm lý” như một bản sao về thế giới, là kết quả của quá

trình phản ánh hiện thực khách quan vào não, song hình ảnh tâm lý khác về chất so với các

hình ảnh cơ, lý, hoá, sinh ở chỗ:

 Hình ảnh tâm lý mang tính sinh động, sáng tạo hơn (sự khác nhau giữa quyển sách trước gương với quyển sách trong đầu một người biết chữ)

 Hình ảnh tâm lý mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân (hay nhóm người) mang hình ảnh tâm lý đó Nói cách khác, hình ảnh tâm lí là hình ảnh chủ quan về hiện thực khách quan Mỗi chủ thể khi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới đã đưa vốn hiểu biết, kinh nghiệm, cái riêng của mình (nhu cầu, hứng thú, xu hướng, năng lực, phẩm chất ) vào trong hình ảnh đó làm cho nó mang đậm màu sắc chủ quan Nghĩa là, hình ảnh tâm lý mỗi cá nhân (hay nhóm người) phản ánh thế giới khách quan thông qua “lăng kính chủ quan” của mình + Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện ở chỗ:

Cùng nhận sự tác động của thế giới về cùng một hiện thực khách quan nhưng ở những chủ thể khác nhau xuất hiện những hình ảnh tâm lý với những mức độ, sắc thái khác nhau

Cũng có khi cùng một hiện thực khách quan tác động vào một chủ thể nhưng ở các thời điểm khác nhau, hoàn cảnh, trạng thái cơ thể, tinh thần khác nhau có thể sẽ cho ra mức độ biểu hiện và sắc thái tâm lý khác nhau ở chủ thể ấy

Tâm lý người này khác với người kia do nhiều yếu tố chi phối: mỗi người có những đặc điểm riêng về cơ thể, giác quan, hệ thần kinh và não bộ Mỗi người có hoàn cảnh sống khác nhau, điều kiện giáo dục không như nhau và đặc biệt là mỗi cá nhân thể hiện mức độ tích cực hoạt động, tích cực giao lưu khác nhau trong cuộc sống

Từ luận điểm nêu trên, có thể rút ra một số kết luận thực tiễn sau:

- Tâm lý người có nguồn gốc từ thế giới khách quan, vì thế khi nghiên cứu cũng như khi hình thành, cải tạo tâm lý phải nghiên cứu hoàn cảnh con người sống và hoạt động

- Tâm lý người mang tính chủ thể, vì vậy trong dạy học, giáo dục, quản lý con người phải chú ý đến nguyên tắc sát đối tượng

- Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, vì thế phải tổ chức hoạt động và giao tiếp

để nghiên cứu sự hình thành và phát triển tâm lý người

2.1.3 Tâm lí người mang bản chất xã hội, lịch sử

Tâm lí người khác xa về chất so với tâm lí động vật đó là có bản chất xã hội lịch sử

- Trước hết tâm lí người có nguồn gốc là thế giới khách quan Trong thế giới khách quan các hiện tượng tự nhiên, xã hội đều ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí, trong đó phần xã hội (các mối quan hệ kinh tế, văn hóa xã hội, đạo đức, pháp luật ) đặc biệt quan hệ con người với con người có ý nghĩa quyết định tâm lí người Trên thực tế, nếu con người thoát li khỏi xã hội,

Trang 15

quan hệ người - người thì tâm lý sẽ mất bản tính người (trường hợp trẻ bị lạc sống cùng động vật)

- Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của con người với tư cách là chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo trong các mối quan hệ xã hội Con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội Ngay cả phần tự nhiên ở con người như đặc điểm cơ thể, giác quan, hệ thần kinh, não bộ cũng được xã hội hoá ở mức độ cao nhất “Sự hình thành năm giác quan người là công việc của toàn bộ xã hội lịch sử ”(Ăngghen) Vì thế tâm lý con người mang đầy đủ dấu ấn xã hội lịch sử

- Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm lịch sử, nền văn hoá xã hội loài người biến thành cái riêng của mỗi người thông qua hoạt động, giao tiếp trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động và mối quan hệ giao tiếp của con người trong xã hội có tính quyết định

- Tâm lý của mỗi con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng xã hội Tâm lý của mỗi con người chịu sự chế ước bởi lịch sử của cá nhân và cộng đồng

Từ những luận điểm trên cần chú ý nghiên cứu môi trường xã hội, các quan hệ xã hội để hình thành và phát triển tâm lý, cần tổ chức có hiệu quả hoạt động đa dạng ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau giúp cho con người lĩnh hội nền văn hoá xã hội để hình thành và phát triển tâm lý

Tóm lại, khi xem xét bản chất hiện tượng tâm lý người, có thể phân tích trên 3 phương diện: - Về cơ chế: Tâm lý diễn ra theo cơ chế phản xạ của não

- Về nội dung: Tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan thông qua lăng kính chủ quan (chủ thể)

- Về bản chất: Tâm lý có bản chất xã hội và mang tính lịch sử

2.2 Chức năng của tâm lý

Tâm lý giữ vai trò quan trọng trong đời sống con người Nó điều hành mọi hoạt động, hành

vi của con người, nó tác động trở lại hiện thực bằng tính năng động sáng tạo của nó

- Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho mọi hoạt động thông qua hệ thống động

cơ, mục đích của hoạt động, hướng hoạt động vào mục đích đã được xác định

- Tâm lý là động lực thôi thúc, lôi cuốn con người hoạt động, khắc phục mọi khó khăn vươn tới mục đích đề ra

- Tâm lý điều khiển, kiểm tra quá trình hoạt động bằng chương trình, kế hoạch, phương pháp, phương thức tiến hành hoạt động, làm cho hoạt động con người trở nên có ý thức, đem lại hiệu quả nhất định

- Tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu đã xác định, với

điều kiện và hoàn cảnh thực tế cho phép

Tóm lại, nhờ các chức năng trên mà tâm lý giúp con người không những thích ứng với hoàn cảnh khách quan mà còn nhận thức, cải tạo và sáng tạo thế giới và chính trong quá trình

đó con người cũng nhận thức, cải tạo chính bản thân mình

2.3 Phân loại hiện tượng tâm lý

Trang 16

2.3.1 Cách phân loại phổ biến

Phân loại các hiện tượng tâm lý theo thời gian tồn tại và vị trí tương đối của chúng trong nhân cách Theo cách phân loại này, các hiện tượng tâm lý có ba loại chính: các quá trình tâm

lý, các trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý

- Các quá trình tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn,

có mở đầu, diễn biến, kết thúc tương đối rõ ràng Người ta thường phân biệt ba quá trình tâm lý:

+ Quá trình nhận thức, gồm: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy

+ Quá trình cảm xúc biểu thị sự vui mừng hay tức giận, dễ chịu, khó chịu, nhiệt tình hay thờ ơ

Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý bằng sơ đồ sau:

2.3.2 Các cách phân loại khác

- Các hiện tượng tâm lý có ý thức và chưa được ý thức;

- Hiện tượng tâm lý sống động (thể hiện trong hành vi, hoạt động) và hiện tượng tâm lý tiềm tàng (tích đọng trong sản phẩm của hoạt động)

- Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lý của cá nhân với hiện tượng tâm lý xã hội (phong tục, tập quán, định hình xã hội, tin đồn, dư luận xã hội, tâm trạng xã hội, "mốt" )

Như vậy, thế giới tâm lý của con người vô cùng đa dạng và phức tạp Các hiện tượng tâm lý

có nhiều mức độ, cấp độ khác nhau, có quan hệ đan xen vào nhau, chuyển hoá cho nhau

3 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ

3.1 Các nguyên tắc phương pháp luận

3.1.1 Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng

Nguyên tắc này khẳng định tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào bộ não con người thông qua "lăng kính chủ quan" của mỗi người Tâm lý định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động, hành vi của con người tác động trở lại thế giới, trong đó yếu tố xã hội là

Tâm lý

Các quá trình tâm lý

Các trạng thái tâm lý

Các thuộc tính tâm lý

Trang 17

quan trọng nhất Do đó khi nghiên cứu tâm lý người cần thấm nhuần nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng

3.1.2 Nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức, nhân cách với hoạt động

Hoạt động là phương thức hình thành, phát triển và thể hiện tâm lý, ý thức, nhân cách, đồng thời tâm lý, ý thức, nhân cách là cái điều hành hoạt động Vì thế chúng thống nhất với nhau Nguyên tắc này cũng khẳng định tâm lý luôn luôn vận động và phát triển Cần phải nghiên cứu tâm lý trong sự vận động của nó, nghiên cứu tâm lý qua sự diễn biến, cũng như qua sản phẩm của hoạt động

3.1.3 Nguyên tắc phải nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong mối quan hệ giữa chúng với nhau và trong mối liên hệ giữa chúng với các loại hiện tượng khác

Các hiện tượng tâm lý không tồn tại một cách biệt lập mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chuyển hoá lẫn nhau, đồng thời chúng còn chi phối và chịu sự chi phối của các hiện tượng khác

3.1.4 Nguyên tắc phải nghiên cứu tâm lý của một con người cụ thể, của một nhóm người cụ thể, chứ không nghiên cứu tâm lý một cách chung chung, nghiên cứu tâm lý ở một

con người trừu tượng, một cộng đồng trừu tượng

3.2 Các phương pháp nghiên cứu tâm lý

3.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp nghiên cứu những biểu hiện bên ngoài của tâm lý con người (hành

vi, cử chỉ, nét mặt, lời nói, dáng điệu vv ) diễn ra trong điều kiện sinh hoạt tự nhiên, bình thường của họ để từ đó rút ra kết luận

- Quan sát là loại tri giác có chủ định, cho phép chúng ta thu được nhiều tài liệu cụ thể, sinh động, trực quan, khách quan trong các điều kiện tự nhiên của con người

- Quan sát có nhiều hình thức: quan sát toàn diện, quan sát bộ phận, quan sát có trọng điểm, quan sát trực tiếp hay gián tiếp và tự quan sát

- Muốn quan sát có hiệu quả cao cần chú ý:

+ Xác định mục đích, nội dung, kế hoạch quan sát

+ Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt

+ Tiến hành quan sát một cách cẩn thận, có hệ thống

+ Ghi chép một cách khách quan và rút ra những nhận xét trung thực

- Ưu điểm của phương pháp quan sát là sẽ cho ta thu được các tài liệu cụ thể, khách quan,

các thông tin thô Tuy nhiên, nó phụ thuộc khá lớn vào người tiến hành quan sát (trình độ, kinh nghiệm, tính trạng sức khoẻ ), dễ dẫn đến suy diễn, nhận định chủ quan Phương pháp này

sẽ tốn nhiều thời gian và công sức Đối với các biểu hiện tâm lý sâu kín (niềm tin, lý tưởng, thói quen, nguyện vọng vv ) rất khó có thể quan sát được

3.2.2 Phương pháp trò chuyện (đàm thoại)

Trò chuyện là phương pháp nghiên cứu tâm lý con người thông qua việc trò chuyện chân tình, cởi mở với họ, nêu ra các câu hỏi và dựa vào câu trả lời của họ nhằm thu thập thông tin

về vấn đề nghiên cứu

Trang 18

- Ưu điểm của phương pháp này là cho phép đi sâu nghiên cứu nội tâm con người mà ít tốn kém Tuy nhiên, nó lệ thuộc khá lớn vào kinh nghiệm và khả năng tiếp xúc của người nghiên cứu, dễ xẩy ra việc lồng ý chủ quan của người nghiên cứu qua trao đổi Hơn nữa không phải đối tượng nào cũng dễ dàng chấp nhận lối nghiên cứu này Dễ đưa đến những nhận định chủ quan

- Có thể đàm thoại trực tiếp hay gián tiếp, hỏi thẳng hoặc hỏi đường vòng

- Khi đàm thoại muốn thu được tài liệu tốt nên:

+ Xác định rõ mục đích yêu cầu (vấn đề cần tìm hiểu)

+ Tìm hiểu thông tin về đối tượng

+ Có kế hoạch chủ động “lái hướng câu chuyện”

+ Cần linh hoạt, khéo léo tế nhị khi lái hướng câu chuyện, vừa giữ được lôgíc tự nhiên vừa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu

+ Tạo không khí tâm lý tự nhiên, gần gũi, cởi mở, chân thành

3.2.3 Phương pháp điều tra

Điều tra là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số lượng lớn đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó

- Có thể trả lời miệng (phỏng vấn) hoặc bằng viết gọi là Ankét (enquete) Câu hỏi dùng trong điều tra có thể bằng câu hỏi đóng hoặc câu hỏi mở

- Dùng phương pháp điều tra có thể trong một thời gian ngắn thu thập được một số ý kiến của nhiều người nhưng là ý kiến chủ quan Để có tài liệu tương đối chính xác phải điều tra nhiều lần và cần soạn kỹ bản hướng dẫn điều tra viên theo yêu cầu cụ thể

- Ưu điểm của phương pháp này là thu thông tin khá nhanh và nhiều Đảm bảo tự do tư tưởng cho người được hỏi, nhưng cần có sự hợp tác và trách nhiệm cao của người trả lời để thông tin được chính xác và khách quan

- Để phương pháp này đạt được hiệu quả cao khi sử dụng cần:

+ Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với trình độ của đối tượng được nghiên cứu + Soạn kỹ bản hướng dẫn điều tra viên- người sẽ phổ biến câu hỏi điều tra cho các đối tượng + Khi xử lý số liệu cần dùng phương pháp toán xác suất thống kê để tránh sự sai sót

3.2.4 Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm là phương pháp tác động vào đối tượng một cách chủ động trong những điều kiện đã được khống chế để gây ra ở đối tượng những biểu hiện cần nghiên cứu, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần đo đạc định lượng, định tính một cách khách quan

- Thường có hai loại thực nghiệm:

+ Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: được thực hiện dưới điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài, chủ động tạo ra những điều kiện làm nẩy sinh nội dung tâm lý cần nghiên cứu

+ Thực nghiệm tự nhiên: được tiến hành trong điều kiện bình thường của cuộc sống Ngoài ra, tuỳ theo mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu mà người ta phân biệt thực nghiệm tự nhiên lại được phân thành hai loại:

Trang 19

 Thực nghiệm nhận định: là thực nghiệm nhằm xác định thực trạng vấn đề nghiên cứu ở một thời điểm cụ thể

 Thực nghiệm hình thành: ở loại thực nghiệm này người nghiên cứu tiến hành các tác động giáo dục, rèn luyện nhằm hình thành một phẩm chất tâm lý nào đó ở đối tượng thực nghiệm (nghiệm thể)

- Yêu cầu:

+ Lựa chọn đối tượng tiêu biểu để thực nghiệm

+ Phải xây dựng giả thuyết tốt

+ Phải thực nghiệm nhiều lần và tách yếu tố tất nhiên - ngẫu nhiên

+ Phối hợp với các phương pháp khác

3.2.5 Phương pháp trắc nghiệm (Test)

Test là một phép thử để đo lường tâm lý, đã được chuẩn hoá trên một số lượng người là đại diện tiêu biểu

- Ngày nay có rất nhiều loại Test khác nhau để xác định các loại phẩm chất tâm lý, sinh lý của con người, như: khả năng trí tuệ, năng lực, trí nhớ, độ nhạy cảm của các giác quan, đời sống tình cảm…

- Ưu điểm của Test là có khả năng làm cho hiện tượng tâm lý cần đo trực tiếp bộc lộ qua hành động giải bài tập Test, tiến hành tương đối đơn giản bằng giấy bút, tranh vẽ, lượng hoá và chuẩn hoá chỉ tiêu tâm lý cần đo Tuy nhiên, Test cũng có những hạn chế như: khó soạn một bộ test đảm bảo tính chuẩn hoá, hoàn chỉnh Test chủ yếu là cho ta biết kết quả, ít bộc lộ qúa trình suy nghĩ của nghiệm thể để đi đến kết quả Vì thế, cần sử dụng Test như là một trong các phương pháp chẩn đoán tâm lý con người ở một thời điểm nhất định

- Yêu cầu: Khi soạn thảo bộ Test phải đảm bảo tính chuẩn hoá, phải bảo đảm 4 phần: văn bản Test; hướng dẫn quy trình tiến hành; hướng dẫn đánh giá; bản chuẩn hóa

3.2.6 Phương pháp phân tích sản phẩm

Phân tích sản phẩm hoạt động là phương pháp dựa vào các kết quả, sản phẩm (vật chất, tinh thần) hoạt động của đối tượng nghiên cứu để tìm ra đặc điểm, tính chất những hoạt động của chủ thể trong quá trình tạo ra sản phẩm vì trong sản phẩm bao giờ cũng để lại “dấu ấn” tâm lý, ý thức, nhân cách của chủ thể

- Phương pháp này có ưu điểm là dễ thực hiện, vì sản phẩm của con người dễ dàng có thể lấy ra để quan sát và đánh giá, hơn nữa lại có thể cùng một lúc sử dụng để nghiên cứu nhiều người Nhưng nó có nhược điểm là người nghiên cứu phải giỏi nghiệp vụ mới đưa ra các kết luận chính xác

- Yêu cầu khi sử dụng phương pháp này:

+ Cần thu thập nhiều sản phẩm khác nhau

+ Phân loại sản phẩm (sản phẩm chính, sản phẩm ngẫu nhiên )

+ Nghiên cứu lịch sử quá trình tạo ra sản phẩm

+ Phân tích tìm ra bản chất

Trang 20

3.2.7 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân

Đây là phương pháp nghiên cứu tâm lý gián tiếp thông qua hồ sơ, tiểu sử hoạt động của đối tượng nghiên cứu để chẩn đoán những đặc điểm tâm lý của họ

- Phương pháp này nó có ưu điểm là dễ thực hiện, nhưng lại có nhược điểm là cần phải quản lý tốt hồ sơ, đồng thời lý lịch theo mẫu định sẵn chỉ có thể phản ánh một cách tổng quát theo một số nội dung nhất định nên khó phát hiện yếu tố tâm lý sâu sắc của họ

Tóm lại, các phương pháp nghiên cứu tâm lý khá phong phú Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Vì vậy, muốn nghiên cứu một chức năng tâm lý một cách khoa học cần:

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thích hợp với vấn đề nghiên cứu;

- Sử dụng phối hợp và đồng bộ các phương pháp nghiên cứu để đem lại kết quả khoa học toàn diện

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu tâm lý học là gì ?

2 Phân tích bản chất hiện tượng tâm lý người và rút ra bài học sư phạm

CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ NGƯỜI

Con người là một thực thể sinh vật - xã hội và văn hoá Do đó cần nghiên cứu, tiếp cận con người trên cả ba mặt: sinh vật - tâm lý - xã hội Muốn giải thích đời sống tâm lý của con người một cách khoa học và duy vật cần phải hiểu biết cơ sở tự nhiên (cơ sở vật chất, cơ sở sinh lý)

và cơ sở xã hội của nó

1 CƠ SỞ TỰ NHIÊN

Bàn về cơ sở tự nhiên của tâm lý con người có nhiều vấn đề cần nghiên cứu, ở đây chúng ta chủ yếu chỉ giới hạn ở một số mối quan hệ giữa di truyền, bộ não, phản xạ có điều kiện và hệ thống tín hiệu thứ hai với tâm lý

Trang 21

- Quan điểm tâm lý vật lý song song: ngay từ thời R.Đêcac với quan điểm nhị nguyên, các đại biểu của tâm lý học kinh nghiệm chủ nghĩa coi quá trình sinh lý và tâm lý thường song song diễn ra trong não người, không phụ thuộc vào nhau, trong đó tâm lý được coi là hiện tượng phụ

- Quan điểm đồng nhất tâm lý với sinh lý: đại biểu của chủ nghĩa duy vật tầm thường Đức (Bucsơne, Phôxtơ, Môlêsôt) cho rằng: tư tưởng do não tiết ra giống như mật do gan tiết ra

- Quan điểm duy vật: coi tâm lý và sinh lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, tâm lý có cơ sở vật chất là hoạt động của não bộ, nhưng tâm lý không song song hay đồng nhất với sinh lý

Phơbach (1804 - 1872) - nhà triết học duy vật trước Mác đã khẳng định: tinh thần, ý thức không thể tách rời ra khỏi não người, nó là sản vật của vật chất đã được phát triển tới mức độ cao nhất là bộ não V.I Lênin đã chỉ ra rằng: "Tâm lý là cơ năng của cái phần nhỏ đặc biệt phức tạp của vật chất mà ta gọi là bộ não của con người" Tất nhiên tâm lý và sinh lý không đồng nhất với nhau Ph.Ăngghen cũng đã từng viết: "Chắc hẳn đến một lúc nào đó qua con đường thực nghiệm, chúng ta "sẽ quy" được tư duy thành những vận động phân tử và hoá học

ở trong óc, nhưng điều đó có bao quát được bản chất của tư duy chăng?"

Các nhà tâm lý học khoa học đã chỉ ra rằng, tâm lý là chức năng của não: bộ não nhận tác động của thế giới dưới tác các dạng xung động thần kinh cùng những biến đổi lý hoá ở từng nơron, từng xinap, các trung khu thần kinh ở bộ phận dưới vỏ và vỏ não, làm cho não hoạt động theo quy luật, tạo nên hiện tượng tâm lý này hay hiện tượng tâm lý kia theo cơ chế phản

xạ (nội dung là tâm lý nhưng có cơ chế là phản xạ sinh lý của não)

Cấu tạo của não bao gồm

- Hành tủy ( nối liền tủy sống )

- Cầu não (ở giữa não tủy và hành tủy)

- Não giữa (gồm hai cuống đại não và bốn củ não sinh tư)

- Não trung gian (gồm mấu não, hai đồi thị)

- Tiểu não ( nằm phía sau trụ não, dưới các bán cầu đại não)

- Bán cầu đại não (vỏ não và các hạch dưới vỏ)

Như vậy, tâm lý là kết quả của hệ thống chức năng những hoạt động phản xạ của não, cùng với quá trình sinh lý não, hiện tượng tâm lý thực hiện chức năng định hướng, điều chỉnh, điều khiển hành vi của con người

1.2 Vấn đề định khu chức năng tâm lý trong não

Đây là vấn đề hết sức phức tạp, từ trước đến nay có nhiều quan điểm khác nhau:

Theo quan điểm duy vật biện chứng (tâm lý học hoạt động) khẳng định: Trên vỏ não có nhiều miền (vùng, thùy), mỗi miền là cơ sở vật chất của các hiện tượng tâm lý tương ứng Tuy nhiên, mỗi quá trình tâm lý xảy ra là do sự phối hợp của nhiều miền trên vỏ não Một hiện tượng tâm lý xẩy ra, nhất là các hiện tượng tâm lý phức tạp, bao giờ cũng có nhiều trung khu, nhiều miền tham gia tạo thành hiện tượng đó Tùy theo hiện tượng tâm lý khác nhau mà các trung khu thần kinh cũng được tạo thành khác nhau - nghĩa là hệ thống trung khu thần kinh luôn luôn thay đổi Sự hoạt động dựa trên nguyên tắc “phân công” kết hợp với nguyên tắc

Trang 22

“nhịp nhàng” như vậy tạo nên một hệ thống mà các nhà sinh lý học, tâm lý học Nga (A.R.Luria, P.K.Anokhin ) gọi đó là hệ thống chức năng cơ động

1.3 Phản xạ có điều kiện và tâm lý

- Toàn bộ hoạt động của não là họat động phản xạ Vào thế kỷ thứ XVII, R.Đêcac là người đầu tiên nêu ra khái niệm "phản xạ" và dùng phản xạ để giải thích hoạt động tâm lý Tuy nhiên, Đêcac chỉ mới nói đến hoạt động vô thức gắn với phản xạ

- I.M.Xêtrênôv - nhà sinh lý học Nga đã mở rộng nguyên tắc phản xạ đến toàn bộ hoạt động của não Năm 1863, ông viết: "tất cả các hiện tượng tâm lý, kể cả có ý thức lẫn vô thức,

về nguồn gốc đều là phản xạ" Theo ông phản xạ có 3 khâu chủ yếu:

+ Khâu đầu tiên là quá trình nhận kích thích bên ngoài, biến thành hưng phấn theo đường hướng tâm dẫn truyền vào não;

+ Khâu giữa là quá trình thần kinh trên não và tạo ra hoạt động tâm lý;

+ Khâu kết thúc dẫn truyền hưng phấn từ trung ương theo đường li tâm (dẫn ra) gây nên phản ứng của cơ thể

- I.P.Pavlôv kế tục sự nghiệp của I.M.Xêtrênôv, qua nhiều năm thực nghiệm đã sáng lập ra học thuyết phản xạ có điều kiện - cơ sở sinh lý của hiện tượng tâm lý

Thí nghiệm của I.P.Pavlôv:

- Bật đèn, cho thức ăn => tiết nước bọt

(thực hiện nhiều lần)

- Bật đèn => tiết nước bọt (đã thành lập

phản xạ có điều kiện với ánh đèn)

- Đặc điểm của phản xạ có điều kiện:

+ Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo trong đời sống từng cá thể để thích ứng với môi trường luôn luôn thay đổi, là cơ sở sinh lý của hoạt động tâm lý

+ Cơ sở giải phẫu sinh lý của phản xạ có điều kiện là vỏ não và hoạt động bình thường của

vỏ não

+ Quá trình diễn biến của phản xạ có điều kiện là quá trình thành lập đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa trung khu nhận kích thích có điều kiện và đại diện của trung khu trực tiếp thực hiện phản xạ không điều kiện

+ Phản xạ có điều kiện thành lập với kích thích bất kỳ, đặc biệt ở người, tiếng nói là một loại kích thích đặc biệt có thể lập bất cứ một phản xạ có điều kiện nào

Trang 23

+ Phản xạ có điều kiện báo hiệu gián tiếp kích thích không điều kiện sẽ tác động vào cơ thể Tất cả các hiện tượng tâm lý đều có cơ sở sinh lý là phản xạ có điều kiện Hoạt động phản

xạ có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn thay đổi

1.4 Quy luật hoạt động thần kinh cấp cao

1.4.1 Quy luật hoạt động theo hệ thống

Trong điều kiện tự nhiên của đời sống, các kích thích không tác động một cách riêng lẻ, mà chúng thường tạo thành một tổ hợp kích thích đồng thời hoặc nối tiếp đến cơ thể Mặt khác, cơ thể cũng không phản ứng một cách riêng lẻ mà phản ứng một cách tổ hợp với các kích thích

đó Như vậy, hoạt động tổng hợp của vỏ não cho phép hợp nhất những kích thích riêng lẻ hay không riêng lẻ thành một hệ thống Các hoạt động phản xạ có điều kiện kế tiếp nhau theo một thứ tự nhất định, tạo nên hệ thống định hình động lực của vỏ não, làm cho trong não khi có một phản xạ nào đó xảy ra thì kéo theo các phản xạ khác cũng xảy ra

1.4.2 Quy luật lan toả và tập trung

Hưng phấn và ức chế là hai trạng thái cơ bản của thần kinh (Hưng phấn là hiện tượng hoạt hoá tổ chức sống khi có kích thích tác động, đây là quá trình giúp hệ thần kinh thực hiện chức năng tăng độ mạnh của một hay nhiều phản xạ Ức chế là quá trình hoạt động thần kinh nhằm làm mất hoặc yếu hưng tính của tế bào thần kinh, nói cách khác nó giúp kìm hãm hoặc làm mất đi một hay một số phản xạ) Khi trên vỏ não có một điểm (vùng) nào đó hưng phấn hoặc

ức chế, thì nó sẽ không dừng lại ở điểm ấy mà lan tỏa ra các điểm, vùng khác (gọi là lan tỏa) Sau đó, trong điều kiện bình thường, chúng tập trung lại một điểm nhất định Hai quá trình này diễn ra nối tiếp nhau trong một trung khu thần kinh Nhờ đó mà hình thành một hệ thống chức năng các phản xạ có điều kiện

1.4.3 Quy luật cảm ứng qua lại

Hai quá trình thần kinh cơ bản luôn ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên qui luật cảm ứng qua lại Có bốn loại cảm ứng:

- Cảm ứng qua lại đồng thời: diễn ra giữa nhiều trung khu, hưng phấn ở điểm này gây nên

ức chế ở điểm kia và ngược lại

- Cảm ứng qua lại tiếp diễn: tại một trung khu (một điểm hay vùng) nào đó vừa có hưng phấn, sau đó có thể chuyển sang ức chế ở chính trung khu ấy

- Cảm ứng dương tính: đó là hiện tượng hưng phấn làm cho ức chế sâu hơn và ngược lại

ức chế làm hưng phấn mạnh hơn

- Cảm ứng âm tính: hưng phấn gây nên ức chế, ức chế làm giảm hưng phấn

1.4.4 Quy luật phụ thuộc vào cường độ kích thích

Trong trạng thái, điều kiện bình thường của vỏ não thì độ lớn của phản ứng tỉ lệ thuận với cường độ kích thích Ở người, quy luật này có tính tương đối vì phản ứng của con người không chỉ phụ thuộc vào cường độ kích thích mà còn phụ thuộc vào chủ thể (tâm sinh lý ) Mặt khác, trong trường hợp vỏ não chuyển từ trạng thái hưng phấn sang ức chế thì sự phản ứng còn tuỳ thuộc vào mức độ ức chế nông hay sâu của vỏ não

Tóm lại, các qui luật cơ bản của hoạt động thần kinh cấp cao có quan hệ với nhau, chi phối lẫn nhau, ảnh hưởng đến sự hình thành, diễn biến và biểu hiện hoạt động tâm lý của con người

Trang 24

1.5 Hai hệ thống tín hiệu

1.5.1 Hệ thống tín hiệu thứ nhất: ở động vật chỉ có tín hiệu thứ nhất, bao gồm những tín

hiệu do các sự vật, hiện tượng khách quan và các thuộc tính của chúng tác động vào giác quan

và não gây ra Hệ thống tín hiệu này là cơ sở của hoạt động cảm tính, trực quan, tư duy cụ thể

và xúc cảm cơ thể ở cả người và động vật

1.5.2 Hệ thống tín hiệu thứ hai: đó là các tín hiệu ngôn ngữ, chỉ có ở người, nó là tín hiệu

của tín hiệu, là cơ sở sinh lý của tư duy ngôn ngữ, tư duy trừu tượng, ý thức, tình cảm

Hai hệ thống tín hiệu có quan hệ chặt chẽ với nhau, hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở, tiền

đề cho hệ thống tín hiệu thứ hai Ngược lại, hệ thống tín hiệu thứ hai làm cho con người nhận thức rõ hơn bản chất của sự vật hiện tượng so với hệ thống tín hiệu thứ nhất

1.6 Các kiểu thần kinh cấp cao

Căn cứ vào độ mạnh của quá trình thần kinh thể hiện ở cường độ vận động của hưng phấn

ức chế mạnh hoặc yếu Sự cân bằng của hai quá trình thần kinh cũng như tính linh hoạt của hai quá trình thần kinh (tốc độ chuyển hóa) giữa hưng phấn và ức chế mà ta có 4 kiểu thần kinh chung cho cả người và động vật:

- Kiểu thần kinh mạnh, cân bằng, linh hoạt

- Kiểu thần kinh mạnh, cân bằng không linh hoạt

- Kiểu thần kinh mạnh, không cân bằng

- Kiểu thần kinh yếu

Ngoài ra ở người còn có 3 kiểu thần kinh:

- Kiểu "Nghệ sĩ" loài người này ưu thế hoạt động thuộc về tín hiệu một

- Kiểu "Tri thức" ưu thế hoạt động thuộc về tín hiệu hai

- Kiểu "Trung gian" cả hai hệ thống một và hai tương đương nhau

2 CƠ SỞ XÃ HỘI

2.1 Quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội và tâm lý con người

2.1.1 Thuyết tiến hoá thực chứng luận của G.Spenxơ

Con người không chỉ tồn tại trong môi trường tự nhiên mà còn tồn tại trong môi trường xã hội, sau khi chuyển biến thành người, các qui luật và cơ chế thích nghi của động vật kể cả cơ chế tự tạo trong kinh nghiệm cá thể cũng không thay đổi (theo quan điểm này họ đề cao yếu tố sinh học, hạ thấp vai trò yếu tố xã hội)

2.1.2 Quan điểm xã hội học

Coi xã hội tạo ra bản chất người, con người là một tồn tại “giao lưu” chứ không phải là một tồn tại xã hội hành động và quá trình “xã hội hoá” cá thể là quá trình giao lưu ngôn ngữ, giao lưu tinh thần giữa người này với người khác để lĩnh hội “biểu tượng xã hội”, các tập tục, lề thói tạo ra “hành vi xã hội” Đây là quan điểm tiến bộ, đã đề cao vai trò xã hội

2.1.3 Quan điểm duy vật biện chứng

Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: Các quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người, “ bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng, tồn tại đối với từng cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Qui luật cơ bản chi phối sự phát triển xã hội loài người là quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản

Trang 25

xuất chứ không phải quy luật chọn lọc tự nhiên Hoạt động tâm lý của con người chịu sự tác động của qui luật xã hội, trong đó giáo dục giữ vai trò quan trọng nhất Chỉ có sống và hoạt động trong xã hội con người mới thực hiện được chức năng phản ánh tâm lý

Cơ chế chủ yếu của sự phát triển tâm lý của con người là cơ chế lĩnh hội nền văn hoá xã hội Đặc điểm cơ bản của qúa trình lĩnh hội là nó tạo ra ở con người những chức năng tâm lý mới, những năng lực mới Qúa trình lĩnh hội là quá trình tái tạo những thuộc tính, những năng lực của loài người thành những thuộc tính, năng lực của cá thể mỗi người, hay nói khác, thông qua cơ chế lĩnh hội mà con người tổng hoà các mối quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội thành bản chất người, tâm lý con người

2.2 Hoạt động và tâm lý

2.2.1 Khái niệm chung về hoạt động

a Hoạt động là gì?

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động tuỳ theo góc độ xem xét:

- Dưới góc độ triết học, hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới

- Dưới góc độ sinh học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của con người khi tác động vào hiện thực khách quan, nhằm thoã mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình

- Dưới góc độ tâm lý học, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới (khách quan) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới (khách thể) lẫn về phía con người (chủ thể)

Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời bổ sung cho nhau

+ Quá trình đối tượng hoá chủ thể: Là quá trình chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động hay nói cách khác: tâm lý con người được bộc lộ được khách quan hoá trong quá trình tạo ra sản phẩm (còn gọi là quá trình xuất tâm)

+ Quá trình chủ thể hoá đối tượng: Khi hoạt động, con người chuyển từ phía khách thể vào bản thân mình những quy luật, bản chất của thế giới để tạo nên tâm lý, ý thức nhân cách (gọi là quá trình nhập tâm)

Như vậy, bằng hoạt động con người đã tạo ra sản phẩm cho thế giới vừa tạo ra tâm lý của mình (“sản phẩm kép”) Nói cách khác, tâm lý được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động

b Đặc điểm của hoạt động

- Hoạt động bao giờ cũng là “hoạt động có đối tượng”: Đối tượng hoạt động là cái mà con người cần làm ra, cần chiếm lĩnh Đó là động cơ luôn thúc đẩy con người hoạt động nhằm tác động vào khách thể để làm thay đổi, biến nó thành sản phẩm Đồng thời, tiếp nhận ở đối tượng chuyển vào đầu óc mình, tạo nên cấu tạo tâm lý mới, năng lực mới cho bản thân

- Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể: hoạt động do chủ thể thực hiện (có thể một hoặc nhiều người)

- Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích: mục đích của hoạt động là làm biến đổi thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể Tính mục đích gắn liền với tính đối tượng và bị chế ước bởi nội dung xã hội

Trang 26

- Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp: trong hoạt động, con người gián tiếp tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý trong đầu, phương tiện ngôn ngữ, công cụ lao động Như vậy, công cụ tâm lý, ngôn ngữ và công cụ lao động giữ chức năng trung gian giữa chủ thể

- khách thể tạo nên tính gián tiếp của hoạt động

2.2.2 Các loại hoạt động

Có nhiều cách phân loại khác nhau:

- Xét về phương diện cá thể, có: hoạt động học tập, vui chơi, lao động, xã hội

- Xét về phương diện sản phẩm, có: hoạt động thực tiễn, hoạt động lý luận

- Căn cứ vào tính chất, có: hoạt động biến đổi, hoạt động nhận thức, hoạt động định hướng giá trị và hoạt động giao lưu

Sơ đồ cấu trúc hoạt động Chủ thể (dòng các hoạt động) Khách thể

Trang 27

2.3.1 Khái niệm

Giao tiếp là mối quan hệ giữa con người với con người, là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng, tác động qua lại với nhau

Giao tiếp xác lập, vận hành các mối quan hệ người - người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác

Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xẩy ra với các hình thức sau đây: - Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân

- Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm

- Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng

2.3.2 Chức năng của giao tiếp

Trong giao tiếp, những người tham gia đều là chủ thể, do vậy họ có tác động và ảnh hưởng lẫn nhau

- Chức năng thông tin: Qua giao tiếp, con người trao đổi, truyền đạt tri thức, kinh nghiệm

với nhau Mỗi cá nhân vừa là nguồn phát thông tin vừa là nơi tiếp nhận thông tin Thu nhận và

xử lý thông tin là một con đường quan trọng để phát triển nhân cách

- Chức năng cảm xúc: Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng,

những cảm xúc mới giữa các chủ thể Vì vậy, giao tiếp là một trong những con đường hình thành tình cảm của con người

- Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau: Trong giao tiếp, mỗi chủ thể tự bộc lộ quan

điểm, tư tưởng, thái độ, thói quen của mình, do đó các chủ thể có thể nhận thức được về nhau, làm cơ sở đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá bản thân mình

- Chức năng điều chỉnh hành vi: Trên cơ sở nhận thức và đánh giá lẫn nhau, tự đánh giá mà

mỗi chủ thể có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình cũng như có thể tác động đến động

cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của chủ thể khác

- Chức năng phối hợp hành động: Nhờ giao tiếp, con người có thể phối hợp hoạt động để

cùng nhau giải quyết nhiệm vụ nào đó nhằm đạt tới mục tiêu chung Đây là chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của xã hội hay một nhóm người

2.3.3 Các loại giao tiếp

Có nhiều cách phân loại dựa trên những góc độ khác nhau:

- Căn cứ vào phương tiện, có: giao tiếp vật chất; giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ

- Căn cứ vào khoảng cách, có: giao tiếp trực tiếp (mặt đối mặt) và giao tiếp gián tiếp (qua phương tiện trung gian)

- Căn cứ vào qui cách, có: giao tiếp chính thức (theo quy định, thể chế, chức trách) và giao tiếp không chính thức (tự do)

2.4 Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động giao tiếp

2.4.1 Quan hệ giao tiếp và hoạt động

Có nhiều quan điểm khác nhau:

Trang 28

- Giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động, nó cũng diễn ra bằng các hành động thao tác, sử dụng các phương tiện khác nhau nhằm đạt mục đích, thoả mãn nhu cầu cụ thể và được thúc đẩy bởi những động cơ

- Hoạt động - giao tiếp là hai phạm trù đồng đẳng, phản ánh hai loại quan hệ của con người đối với thế giới Hoạt động được hiểu là quan hệ với đối tượng là vật thể, giao tiếp là quan hệ với con người Hoạt động và giao tiếp có quan hệ qua lại với nhau trong đời sống con người + Có trường hợp, giao tiếp là điều kiện để hoạt động

+ Có trường hợp, hoạt động là điều kiện để con người thực hiện mối quan hệ giao tiếp với nhau

2.4.2 Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động giao tiếp

Tâm lý người có nguồn góc từ bên ngoài, từ thế giới khách quan chuyển vào não người bằng chính hoạt động người đó.Trong thế giới đó, các quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội quyết định tâm lý người

Tâm lý người là kinh nghiệm lịch sử xã hội chuyển thành kinh nghiệm bản thân thông qua hoạt động, giao tiếp trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo

Tâm lý là sản phẩm hoạt động, giao tiếp Hoạt động, giao tiếp và mối quan hệ giữa chúng

là quy luật tổng quát hình thành, biểu lộ tâm lý người

Có thể khái quát thành sơ đồ sau:

Giao tiếp

Hoạt động

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Phân tích cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của tâm lý người

2 Tại sao nói tâm lý là sản phẩm hoạt động và giao lưu ?

Thảo luận:

- Các quy luật hoạt động thần kinh cấp cao

- Hoạt động là gì? Tại sao nói hoạt động tạo ra “sản phẩm kép”? Lấy ví dụ thực tiễn để minh hoạ cho 2 quá trình xuất tâm và nhập tâm của hoạt động

- Lấy ví dụ về một hoạt động cụ thể để phân tích cấu trúc của hoạt động

Xã hội (các quan hệ

XH, nền văn hoá XH)

Con người- chủ thể (tâm

lý- ý thức- nhân cách)

Đối tượng của giao tiếp

Đối tượng của hoạt động

Trang 29

- Giao tiếp là gì? Phân tích các chức năng của giao tiếp và cho ví dụ cụ thể về các loại giao tiếp

Thực hành: Hướng dẫn sinh viên thực hiện các bài tập trong sách thực hành

Chương 3

SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TÂM LÝ, Ý THỨC VÀ NHÂN CÁCH

1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ, Ý THỨC

1.1 Sự hình thành và phát triển tâm lý

1.1.1 Sự hình thành tâm lý về phương diện loài người

1.1.1.1 Tiêu chuẩn xác định sự nảy sinh tâm lý

Xét trong lịch sử tiến hoá sinh vật, những sinh vật bậc thấp có tế bào thần kinh nằm rải rác

khắp cơ thể có khả năng đáp lại các tác động bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại

và phát triển của cơ thể, gọi là tính chịu kích thích (ví dụ: cơ thể đơn bào do có tính chịu kích

thích nên vận động di chuyển về phía ánh sáng hoặc nhiệt độ cao hơn) Đây là cơ sở đầu tiên cho tính cảm ứng, nhạy cảm xuất hiện

Trên cơ sở tính chịu kích thích bắt đầu xuất hiện hệ thần kinh mấu hạch đã giúp cơ thể có

khả năng đáp lại kích thích có ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đối với sự tồn tại của cơ thể

mà tính cảm ứng (nhạy cảm) xuất hiện (ví dụ: ếch phản ứng với kích thích gián tiếp thông qua màu vàng hoa mướp, nhện giăng luới bắt mồi, con cóc vồ đớp que diêm có hình thù giống như con sâu mà nó quen ăn, que diêm gỗ chỉ báo hiệu tín hiệu cho con cóc về một thức ăn quen thuộc) Tính nhạy cảm được coi là mầm mống đầu tiên của tâm lý Hiện tượng tâm lý đầu tiên

là cảm giác, từ hiện tượng tâm lý đơn giản nhất này dần dần phát triển lên thành các hiện

tượng tâm lý khác phức tạp hơn

1.1.1.2 Các thời kỳ phát triển tâm lý

- Thời kỳ tư duy:

+ Tư duy bằng tay: Có ở động vật bậc cao (vượn oxtralopitec) cách đây khoảng hơn 10 triệu năm, vỏ não phát triển trùm lên các phần khác của não, con vật đã biết dùng "bàn tay" để

sờ mó, lắp ráp, giải quyết các tình huống cụ thể trước mắt

+ Tư duy ngôn ngữ: Đây là loại tư duy chỉ có ở người, giúp con người nhận thức được bản chất, quy luật của thế giới Nhờ có loại tư duy này mà hoạt động của con người có tính mục đích, tính kế hoạch cao nhất, hoàn chỉnh nhất, giúp con người không chỉ nhận thức, cải tạo thế giới mà còn nhận thức và sáng tạo chính bản thân mình

b Xét theo nguồn gốc nảy sinh

Trang 30

- Thời kỳ bản năng: Bản năng là hành vi bẩm sinh, mang tính di truyền có cơ sở là những phản xạ không điều kiện Nhằm thoả mãn nhu cầu có tính thuần tuý của cơ thể Nhưng bản năng của con người khác xa về chất so với bản năng của con vật “bản năng của con người là bản năng có ý thức´ (C.Mác) Bản năng của con người có sự tham gia của tư duy, mang tính xã hội và mang đặc điểm lịch sử loài người

- Thời kỳ kỹ xảo: Kĩ xảo là hành vi mới tự tạo do lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành định hình trong não động vật So với bản năng, hành vi kỹ xảo có tính mềm dẻo và khả năng biến đổi lớn hơn

- Thời kỳ hành vi trí tuệ: Là kết quả của luyện tập, do cá thể tự tạo trong đời sống Hành vi trí tuệ động vật nhằm giải quyết tình huống cụ thể liên quan thoả mãn nhu cầu sinh vật của cơ thể, hành vi trí tuệ con người nảy sinh trong hoạt động nhằm nhận thức bản chất, các mối quan

hệ có tính quy luật, nhằm thích ứng và cải tạo thế giới khách quan, gắn liền với ngôn ngữ, là hành vi có ý thức

1.1.2 Sự hình thành tâm lý về phương diện cá nhân

1.1.2.1 Thế nào là sự phát triển tâm lý (về phương diện cá thể)

Theo nguyên lý chung của mọi sự phát triển trong thế giới, sự phát triển tâm lý trải qua nhiều giai đoạn khác Đó là quá trình chuyển đổi liên tục từ cấp độ này sang cấp độ khác, ở mỗi cấp độ lứa tuổi, sự phát triển tâm lý đạt tới một chất lượng mới và diễn ra theo quy luật đặc thù Sự phát triển tâm lý đạt tới một chất lượng mới và diễn ra theo quy luật đặc thù gắn liền sự phát triển hoạt động trong đó hoạt động chủ đạo đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển

Mỗi giai đoạn lứa tuổi có một hoạt động chủ đạo :

- Tuổi sơ sinh là hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp với người lớn

- Tuổi nhà trẻ là hoạt động với đồ vật

- Tuổi mẫu giáo là hoạt động vui chơi

- Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi học sinh

- Lao động và hoạt động xã hội là hoạt dộng chủ đạo của lứa tuổi thanh niên và người trưởng thành

Các hoạt động chủ đạo có tác dụng quyết định chủ yếu nhất đối với sự hình thành những nát đặc trưng và cơ bản cho mỗi giai đoạn (thời kỳ, lứa tuổi), đồng thời nó quy định tính chất của các hoạt động khác

1.1.2.2 Các giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi

- Giai đoạn tuổi sơ sinh và hài nhi: 0 -> 12 tháng

- Giai đoạn trước tuổi học: 1 -> 6 tuổi

- Giai đoạn tuổi đi học: 6 -> 25 tuổi

- Giai đoạn tuổi trưởng thành: 25 -> 55, 60 tuổi

- Giai đoạn tuổi già: > 60 tuổi

1.2 Sự hình thành và phát triển ý thức

1.2.1 Khái niệm chung về ý thức

1.2.1.1 Khái niệm

Trang 31

Theo nghĩa rộng, ý thức được dùng đồng nghĩa với tinh thần, tư tưởng (ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần dân chủ )

Theo nghĩa hẹp, khái niệm ý thức được dùng để chỉ một cấp độ đặc biệt trong tâm lý con người

Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở người, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng hiểu được các tri thức mà con người đã tiếp thu được (phản ánh của phản ánh, tri

thức về tri thức, hiểu biết của hiểu biết)

1.2.1.2 Các thuộc tính cơ bản ý thức

- Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới:

+ Nhận thức cái bản chất, khái quát bằng ngôn ngữ

+ Dự kiến trước kế hoạch hành vi, kết quả và làm cho hành vi mang tính chủ định

- Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới: Ý thức không chỉ là nhận thức sâu

sắc của con người về thế giới mà còn thể hiện thái độ của con người đối với nó

- Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người: Trên cơ sở nhận

thức bản chất khái quát và tỏ rõ thái độ với thế giới, ý thức điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người đạt được mục đích đã đề ra Vì thế, ý thức có khả năng sáng tạo

- Khả năng tự ý thức: Con người không chỉ nhận thức thế giới mà ở mức độ cao hơn là khả

năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh và hoàn thiện mình

- Mặt thái độ của ý thức: Nói lên thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc, thái độ đánh giá của

chủ thể đối với thế giới

- Mặt năng động của ý thức: Thể hiện ở khả năng điều khiển, điều chỉnh mọi hoạt động

của con người, đó là quá trình con người vận dụng những hiểu biết và tỏ thái độ của mình nhằm thích nghi, cải tạo thế giới và cả biến cả bản thân Mặt khác, ý thức nảy sinh và phát triển trong hoạt động, cấu trúc của hoạt động quy định cấu trúc của ý thức Vì thế, nhu cầu, động cơ, hứng thú, ý chí đều có vị trí nhất định trong cấu trúc của ý thức

1.2.2 Sự hình thành và phát triển ý thức

1.2.2.1 Sự hình thành ý thức của con người (xét về phương diện loài)

Trang 32

Chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ: Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai động lực chủ yếu đã biến bộ não vượn thành bộ óc con người, đây cũng chính là hai yếu tố tạo nên sự hình thành ý thức con người

a Vai trò lao động đối với sự hình thành phát triển ý thức

Điều khác biệt giữa người với vật (người kiến trúc sư với con ong, người thợ dệt với con nhện) là trước khi lao động con người đã hình dung ra trước mô hình cái cần làm và cách làm

ra cái đó trên cơ sở huy động toàn bộ vốn hiểu biết, năng lực trí tuệ của mình, từ đó con người

có ý thức về cái mà mình sẽ làm ra

Trong lao động con người phải chế tạo và sử dụng các công cụ lao động, tiến hành các thao tác và hành động lao động tác động vào đối tượng tạo ra sản phẩm Ý thức của con người được hình thành, phát triển và thể hiện trong quá trình lao động

Kết thúc quá trình lao động, con người có ý thức đối chiếu sản phẩm con người làm ra với

mô hình tâm lý của sản phẩm đã hình dung ra trước để đánh giá hoàn thiện sản phẩm đó

Tóm lại, ý thức được hình thành, phát triển và biểu hiện trong quá trình lao động thống nhất với quá trình lao động và sản phẩm lao động do mình làm ra

b Vai trò của ngôn ngữ và giao tiếp đối với sự hình thành ý thức

Nhờ có ngôn ngữ ra đời cùng với lao động mà con người có công cụ để xây dựng, hình dung ra mô hình tâm lý của sản phẩm Hoạt động ngôn ngữ giúp con người ý thức về việc sử dụng công cụ lao động, tiến hành hệ thống các thao tác lao động để làm ra sản phẩm Ngôn ngữ cũng giúp con người phân tích, đối chiếu, đánh giá sản phẩm mà mình làm ra

Hoạt động lao động là hoạt động tập thể mang tính xã hội Trong lao động nhờ ngôn ngữ và giao tiếp mà con người thông báo trao đổi thông tin với nhau, phối hợp tác động với nhau để cùng làm ra sản phẩm Nhờ có ngôn ngữ và giao tiếp mà con người ý thức về bản thân mình, ý thức được người khác (biết mình, biết người), ý thức được hình thành phát triển song song với

sự phát triển xã hội

1.2.2.2 Sự hình thành ý thức và tự ý thức của cá nhân

a Ý thức được hình thành trong hoạt động và được thể hiện trong sản phẩm hoạt động của

cá nhân: Trong hoạt động, cá nhân đem vốn kinh nghiệm, năng lực cá nhân, hưúng thú,

nguyện vọng của mình thể hiện trong quá trình tạo ra sản phẩm Đồng thời, qua sản phẩm hoạt động mà con người thu đựơc mọi giá trị cho bản thân tạo nên tâm lý - ý thức – nhân cách

b Ý thức cá nhân được hình thành trong mối quan hệ giao tiếp của con người với người khác, với xã hội: Trong giao tiếp con người đối chiếu mình với người khác, với chuẩn mực đạo

đức xã hội để có ý thức về người khác và ý thức về chính bản thân mình

c Ý thức cá nhân được hình thành bằng con đường tiếp thu nền văn hoá xã hội, ý thức xã hội: Thông qua các hoạt động đa dạng, bằng con đường dạy học, giáo dục và giao tiếp trong

quan hệ xã hội, từ đó cá nhân tiếp thu, lĩnh hội các chuẩn mực, giá trị xã hội để hình thành ý thức cá nhân

d Ý thức cá nhân được hình thành bằng con đường tự nhận thức, tự đánh giá, tự phân tích hành vi của mình: Trên cơ sở đối chiếu mình với người khác, với chuẩn mực xã hội, tự giáo

Trang 33

dục, tự hoàn thiện bản thân mà cá nhân có ý thức về bản thân mình (ý thức bản ngã - tự ý thức)

1.2.2.3 Các cấp độ ý thức

a Cấp độ chưa ý thức (vô thức)

Hàng ngày có những hiện tượng tâm lý chưa có ý thức diễn ra chi phối hoạt động của con người (mộng du, say rượu, người bị thôi miên, người bị động kinh ) Hiện tượng tâm lý không có ý thức (vô thức) này khác xa với từ “vô ý thức” mà ta vấn dùng (vô ý thức tổ chức

kỷ luật ) Ở đây, người vô ý thức thể hiện sự thiếu ý thức tôn trọng tổ chức, tôn trọng kỷ luật, quy định chung của tập thể

Vô thức là hiện tượng tâm lý ở tầng bậc chưa ý thức - nơi mà ý thức không thực hiện được chức năng của mình (điều khiển, điều chỉnh ) Nó bao gồm những hiện tượng tâm lý khác

nhau ở tầng không (chưa) ý thức:

- Vô thức ở tầng bản năng (dinh dưỡng, tự vệ, sinh dục) tiềm tàng, mang tính bẩm sinh, di truyền

- Vô thức còn bao gồm những hiện tượng tâm lý dưới ngưỡng ý thức (tiền ý thức)

- Hiện tượng tâm thế: Là hiện tượng tâm lý dưới ý thức, hướng tâm lý sẵn sàng chờ đợi, tiếp nhận một điều gì đó, ảnh hưởng đến tính linh hoạt và tính ổn định của hoạt động Cũng có lúc phát triển xâm nhập cả vào tầng ý thức

- Có những hiện tượng tâm lý vốn là có ý thức nhưng do lặp đi lặp lại nhiều lần chuyển thành dưới ý thức Chẳng hạn một số kĩ xảo, thói quen trở thành “tiềm thức”, một dạng tiềm tàng sâu lắng của ý thức Tiềm thức thường trực chỉ đạo hành động, lời nói, suy nghĩ của một người tới mức không cần ý thức tham gia

b Cấp độ ý thức và tự ý thức

- Ở cấp độ ý thức, con người nhận thức, tỏ thái độ có chủ tâm và dự kiến trước hành vi của mình làm cho hành vi có ý thức

- Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, biểu hiện ở các mặt sau:

+ Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến bên trong, cũng như vị thế bản thân và các quan hệ xã hội;

+ Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, đánh giá;

+ Tự điều khiển, điều chỉnh hành vi theo mục đích tự giác;

+ Tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân

c Ý thức nhóm và ý thức tập thể

Trong mối quan hệ giao tiếp và hoạt động, ý thức cá nhân sẽ phát triển dần đến cấp độ ý thức nhóm, tập thể, xã hội (ví dụ: ý thức về gia đình, ý thức về dòng họ, ý thức nghề nghiệp, ý thức dân tộc ) Ý thức xã hội thường được biểu hiện trong cuộc sống bằng những hành động

vì tập thể, cộng đồng, xã hội

Tóm lại, các cấp độ ý thức luôn tác động chuyển hoá bổ sung cho nhau tạo nên sức mạnh của ý thức, ý thức thống nhất với hoạt động, hình thành phát triển và thể hiện trong hoạt động,

nó chỉ đạo điều khiển điều chỉnh mọi hoạt động làm cho hoạt động có ý thức

1.2.3 Chú ý- Điều kiện của hoạt động có ý thức

Trang 34

1.2.3.1 Khái niệm

Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật hiện tượng để định hướng hoạt động, bảo đảm điều kiện thần kinh - tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả Chú ý được xem như là một trạng thái tâm lý luôn “đi kèm” với các hoạt động tâm lý khác, giúp chúng hoạt động có hiệu quả (ví dụ: chăm chú nghe, lắng tai nghe, tập trung là biểu hiện của chú ý) Chú ý không có đối tượng riêng, đối tượng của nó chính là đối tượng của hoạt động tâm lý mà nó đi kèm Vì thế, chú ý được xem là phông, nền, điều kiện của hoạt động có ý thức

1.2.3.3 Các thuộc tính cơ bản của chú ý

a Sức tập trung chú ý: Là khả năng chỉ chú ý đến đối tượng ở trong phạm vi hẹp nhưng

cần thiết cho hoạt động Số lượng các đối tượng mà chú ý hướng đến gọi là khối lượng chú ý Khối lượng này phụ thuộc vào đặc điểm đối tượng cũng như nhiệm vụ và đặc điểm của hoạt động

Nếu không tập trung chú ý sẽ khó có thể hoàn thành nhiệm vụ nhưng có những trường hợp quá say mê tập trung vào đối tượng nào đó mà quên đối tượng khác gọi là hiện tượng đãng trí

b Sự bền vững chú ý: Là khả năng duy trì chú ý lâu dài vào một hay một số đối tượng của

hoạt động, ngược với độ bền vững là sự phân tán chú ý (không bền vững) Phân tán chú ý diễn

ra theo chu kỳ có xen kẽ của sự bền vững chú ý gọi là sự dao động của chú ý

c Sự phân phối chú ý: Là khả năng cùng một lúc chú ý đầy đủ đến nhiều đối tượng hay

nhiều hoạt động khác nhau một cách có chủ định Thực tế chứng minh rằng chú ý chỉ tập trung vào một số đối tượng chính còn các đối tượng khác chỉ có sự chú ý nhất định nào đó

Trang 35

d Sự di chuyển chú ý: Là khả năng di chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác

theo yêu cầu hoạt động

Trên đây là những thuộc tính cơ bản chưa chú ý, chúng có quan hệ bổ sung cho nhau Mỗi thuộc tính của chú ý có thể giữ vai trò tích cực hay không tuỳ thuộc vào việc ta biết sử dụng từng thuộc tính hay phối hợp các thuôc tính theo yêu cầu của hoạt động

2 NHÂN CÁCH VÀ SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH

2.1 Khái niệm chung về nhân cách

2.1.1 Nhân cách là gì?

2.1.1.1 Khái niệm con người, cá nhân, cá tính, nhân cách

* Con người: Là thành viên của một cộng đồng, một xã hội, vừa là một thực thể tự nhiên,

vừa là một thực thể xã hội

Có một định nghĩa được thừa nhận khá rộng rãi: “con người là một thực thể sinh vật- xã

hội và văn hoá” Với quan niệm này cần nghiên cứu, tiếp cận con người trên cả 3 mặt: sinh

học, tâm lý, xã hội

* Cá nhân: dùng để chỉ một con người cụ thể của một cộng đồng, thành viên của xã hội Cá

nhân cũng là một thực thể sinh vật - xã hội và văn hóa nhưng được xem xét cụ thể riêng ở từng người, với đặc điểm về sinh lý, tâm lý và xã hội, để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác trong cộng đồng

* Cá tính: dùng để chỉ cái đơn nhất, có một không hai, không lặp lại trong tâm lý hay sinh

lý của cá thể

* Chủ thể: Khi cá nhân thực hiện một cách có ý thức, có mục đích một hoạt động hay một

quan hệ xã hội thì cá nhân đó được coi là chủ thể

* Nhân cách: Khái niệm nhân cách chỉ bao hàm phần xã hội và tâm lý của cá nhân, với tư

cách là thành viên của xã hội nhất định, là chủ thể mối quan hệ giữa người với người, của hoạt động có ý thức và giao lưu

2.1.1.2 Khái niệm nhân cách trong tâm lý học

Nhân cách là một phạm trù lớn trong tâm lý học đã được nhiều trường phái, nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu Ở mỗi góc độ khác nhau, có các quan niệm khác nhau về nhân cách

a Một số quan niệm sai lầm về nhân cách:

- Quan điểm sinh vật hóa nhân cách: coi bản chất nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể, ở góc mặt, ở thể trạng, ở bản năng vô thức

- Quan điểm xã hội hóa nhân cách: lấy các quan hệ xã hội (gia đình, họ hàng, làng xóm )

để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính tâm lý của cá nhân

Có những quan niệm chỉ chú ý đến cái chung, bỏ qua cái riêng, cái đơn nhất của con người Ngược lại, một số quan niệm khác lại chỉ chú ý đến tính đơn nhất, có một không hai của nhân cách

b Quan niệm khoa học về nhân cách:

Khái niệm nhân cách được xem như một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội- lịch sử, nghĩa

là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội cụ thể

Trang 36

chuyển vào thành đặc điểm nhân cách của từng người Có thể nêu lên một số định nghĩa như sau:

- “Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định” (A.G.Covaliov)

- “Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định các hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội” (E.V.Sorokhova)

- “Nhân cách là cá thể hoá ý thức xã hội” (V.X.Mukhina)

Từ những quan điểm trên có thể nêu lên một định nghĩa về nhân cách như sau: Nhân cách

là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người

- Trước hết, nhân cách không phải là tất cả các đặc điểm của cá thể mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý xã hội, biểu hiện giá trị và cốt cách làm người của cá nhân

- Nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà là một cấu tạo tâm lý trọn vẹn, là tổng hợp những đặc điểm tâm lý đặc trưng với một cơ cấu xác định Do vậy, con người sinh ra không phải đã có nhân cách mà nó được hình thành trong quá trình tham gia vào các mối quan hệ xã hội

- Nhân cách quy định bản sắc, cái riêng của mỗi người trong sự thống nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biến của cộng đồng

- Nhân cách biểu hiện trên ba cấp độ:

+ Bên trong cá nhân: nhân cách được thể hiện dưới dạng cá tính, khác biệt với mọi người,

với cái chung Chính vì vậy, giá trị nhân cách ở cấp độ này là tính tích cực của nó trong việc khắc phục những hạn chế của hoàn cảnh và những hạn chế của bản thân

+ Liên cá nhân: nhân cách được thể hiện trong các mối quan hệ, liên hệ với nhân cách khác

Nhân cách nằm trong mối quan hệ liên nhân cách Giá trị nhân cách ở cấp độ này được thể hiện trong hành vi ứng xử xã hội của chủ thể

+ Siêu cá nhân: ở cấp độ cao nhất này, nhân cách được xem xét như một chủ thể đang tích

cực hoạt động và gây ra những biến đổi ở người khác, giá trị nhân cách được xác định ở hoạt động của nhân cách này có ảnh hưởng như thế nào tới những nhân cách khác

2.1.2 Các đặc điểm cơ bản của nhân cách

2.1.2.1 Tính thống nhất của nhân cách

Nhân cách là một cấu trúc tâm lý tức là thống nhất các thuộc tính, các đặc điểm tâm lý xã hội, một chỉnh thể thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức và tài Nói cách khác, nhân cách là một chỉnh thể thống nhất của tất cả mọi nét khác nhau của nó, nghĩa là nó không phải là tổng cộng đơn giản của nhiều thuộc tính, phẩm chất riêng lẻ mà là một khối thống nhất, trong đó mỗi nét nhân cách đều liên quan không tách rời với những nét nhân cách khác

Vì vậy, khi nói về một nét nhân cách (thuộc tính, phẩm chất) nào đó thì chúng ta không nên đánh giá bản thân nó là tốt hay xấu Muốn đánh giá đúng đắn một nét nhân cách nào đó ta cần phải xem xét nó trong sự kết hợp, trong mối liên hệ với các nét nhân cách khác ở con người đó

Trang 37

Tính thống nhất của nhân cách còn thể hiện ở sự thống nhất giữa 3 cấp độ Ở cấp độ thứ ba xem xét giá trị xã hội ở nhân cách ở những hoạt động, ở những mối quan hệ xã hội mà nhân cách đó tạo ra sự biến đổi ở những nhân cách khác

Chính nhờ có tính ổn định này của nhân cách mà chúng ta có thể dự kiến trước được hành

vi của một nhân cách nào đó trong tình huống, hoàn cảnh này hay trong tình huống, hoàn cảnh khác

2.1.2.3 Tính tích cực của nhân cách

Nhân cách là chủ thể của hoạt động và giao tiếp, là sản phẩm của xã hội, vì thế nhân cách mang tính tích cực Mỗi cá nhân được thừa nhận là nhân cách khi cá nhân đó tích cực hoạt động trong những hình thức đa dạng của nó, nhờ đó mà nhận thức, cải tạo thế giới qua đó mà cải tạo bản thân mình Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thể hiện rõ nét ở tính tích cực của nhân cách

Hệ thống nhu cầu chính là nguồn gốc động lực chủ yếu của nhân cách, tính tích cực của nhân cách biểu hiện trong quá trình thoả mãn các nhu cầu đó Con người không thoả mãn nhu cầu bằng các đối tượng có sẵn mà nhờ công cụ, nhờ lao động con người đã biến đổi, sáng tạo

ra các đối tượng làm cho nó phù hợp với nhu cầu của bản thân Mặt khác, con người tích cực tìm kiếm những cách thức, phương thức thoả mãn các nhu cầu là một quá trình tích cực có mục đích, trong đó con người làm chủ được những hình thức hoạt động do sự phát triển xã hội quy định nên

2.1.2.4 Tính giao lưu của nhân cách

Nhân cách chỉ có thể hình thành, phát triển, tồn tại và thể hiện trong hoạt động và trong mối quan hệ giao tiếp với những nhân cách khác Nhu cầu giao tiếp được xem như một nhu cầu bẩm sinh của con người, con người sinh ra và lớn lên luôn có nhu cầu quan hệ giao tiếp với người khác, với xã hội Thông qua giao tiếp, con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội các chuẩn mực giá trị đạo đức và hệ thống giá trị xã hội Đồng thời, cũng qua giao tiếp

mà con người được đánh giá, được nhìn nhận theo quan hệ xã hội Qua đó, con người đóng góp các giá trị phẩm chất nhân cách của mình cho người khác, cho xã hội

Đặc điểm này của nhân cách là cơ sở của nguyên tắc “giáo dục trong tập thể, bằng tập thể”

do A.X.Macarenco xây dựng

2.2 Cấu trúc của nhân cách

Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc của nhân cách:

Trang 38

1 A.G.Côvaliov cho rằng trong cấu trúc của nhân cách bao gồm: các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý cá nhân

2 Quan điểm coi nhân cách bao gồm 3 lĩnh vực cơ bản: nhận thức (tri thức và năng lực trí tuệ), tình cảm (rung cảm, thái độ) và ý chí (phẩm chất ý chí, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen)

3 K.K.Platônov nêu lên 4 tiểu cấu trúc của nhân cách như sau:

- Tiểu cấu trúc có nguồn gốc sinh học (bao gồm khí chất, giới tính, lứa tuổi và đôi khi cả các thuộc tính bệnh lý)

- Tiểu cấu trúc về các đặc điểm của các quá trình tâm lý (cảm giác, tri giác, trí nhớ )

- Tiểu cấu trúc về vốn kinh nghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen )

- Tiểu cấu trúc xu hướng nhân cách (nhu cầu, hứng thú, thế giới quan, lý tưởng )

4 Quan điểm coi nhân cách bao gồm 4 nhóm thuộc tính tâm lý điểm hình của cá nhân: xu hướng, tính cách, khí chất và năng lực

5 Quan điểm coi cấu trúc nhân cách bao gồm 2 mặt thống nhất với nhau: đức và tài (phẩm chất và năng lực)

- Năng lực chủ thế hoá: Khả năng thể hiện tính độc đáo, đặc sắc, khả năng thể hiện cái riêng, cái bản lĩnh của cá nhân

- Năng lực hành động: Khả năng hành động có mục đích, chủ động, tích cực

và hiệu quả

- Năng lực giao lưu: khả năng thiết lập

và duy trì mối quan hệ với người khác

2.3 Các thuộc tính tâm lý của nhân cách

2.3.1 Xu hướng

Hoạt động của cá nhân trong cộng đồng bao giờ cũng hướng vào một mục tiêu nào đó Không thể có một hoạt động không có phương hướng (tức là không có mục tiêu, không có đối tượng) Sự hướng tới này được phản ánh trong tâm lý mỗi người gọi là xu hướng của nhân cách Cá nhân có thể hướng hoạt động của mình vào một sản phẩm cụ thể, một tri thức khoa học hoặc một tư tưởng chính trị đồng thời thúc đẩy hoạt động nhằm từng bước chiếm lĩnh chúng

2.3.1.1 Khái niệm: Xu hướng nhân cách là một thuộc tính tâm lý điển hình của cá nhân,

bao hàm trong nó một hệ thống động lực quy định tính tích cực của cá nhân và quy định sự lựa chọn các thái độ của nó

2.3.1.2 Biểu hiện của xu hướng

Trang 39

* Nhu cầu: là sự đòi hỏi tất yếu, hợp quy luật của con người cần được thỏa mãn để tồn tại

và phát triển

- Nhu cầu của con người có những đặc điểm sau đây:

+ Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng: Khi nào nhu cầu gặp đối tượng có khả năng đáp ứng

sự thoả mãn thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm tới đối tượng

+ Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định

+ Nhu cầu có tính chu kỳ

+ Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật, nhu cầu con người mang bản chất xã hội

- Các loại nhu cầu: Nhu cầu của con người rất đa dạng, tuy nhiên được phân thành 2 loại: + Nhu cầu vật chất gắn liền với sự tồn tại của cơ thể: ăn, ở, mặc

+ Nhu cầu tinh thần: nhận thức, thẩm mỹ, lao động, giao lưu

* Hứng thú: là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối

với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động

- Hứng thú giữ vai trò to lớn trong hoạt động của con người Trước tiên, hứng thú làm nảy sinh khát vọng tìm hiểu đối tượng, làm tăng hiệu quả của hoạt động, tăng sức làm việc

- Hứng thú tạo sự tập trung chú ý cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động, do

đó dù khó khăn vẫn cố gắng vượt qua

Như vậy, cùng với nhu cầu, hứng thú là động lực thúc đẩy con ngươì hoạt động đạt hiệu quả cao

* Lý tưởng: là một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực, tương đối hoàn chỉnh, có sức

lôi cuốn con người vươn tới

* Thế giới quan: là hệ thống các quan điểm về tự nhiên, xã hội và bản thân, xác định

phương châm hành động của con người Thế giới quan khoa học là thế giới quan duy vật biện

chứng mang tính khoa học, tính nhất quán cao

* Niềm tin: là một phẩm chất của thế giới quan, là cái kết tinh các quan điểm, tri thức, tình

cảm, ý chí được con người thể nghiệm, trở thành chân lý bền vững trong mỗi cá nhân Niềm tin

tạo cho con người nghị lực, ý chí để hành động phù hợp với quan điểm đã chấp nhận

Trang 40

Có thể hiểu niềm tin là một hệ thống các nhu cầu mà con người nhận thức được qua hiện thực biến thành nhân sinh quan, thế giới quan để xem xét cuộc đời, để định hứong hành vi, cử chỉ của con người Niềm tin được củng cố nhờ có nhu cầu được thỏa mãn

* Hệ thống động cơ của nhân cách:

Toàn bộ các thành phần trong xu hướng nhân cách như: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin là các thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách, chúng là động lực của hành vi, của hoạt động

Các thành phần trong hệ thống động cơ nhân cách có quan hệ chi phối lẫn nhau theo những thứ bậc, trong đó có những thành phần giữ vai trò chủ đạo, quyết định, có những thành phần giữ vai trò thứ yếu tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể của hoạt động

2.3.2 Tính cách

2.3.2.1 Khái niệm

Mỗi một cá nhân đều có sự phản ứng riêng biệt khác nhau đối với những tác động của thế giới khách quan và thế giới chủ quan Sự phản ứng này biểu hiện những thái độ riêng và tương ứng với những thái độ đó là hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng riêng của cá nhân

Có một số thái độ và một số hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng đó có tính chất điển hình, nghĩa là không phải biểu hiện một cách bất thường mà được biểu hiện thường xuyên tương đối ổn định và bền vững, đặc trưng cho cá nhân ở nhiều khía cạnh khác nhau, được gọi

là nét tính cách Nét tính cách là một bộ phận phẩm chất nhân cách biểu hiện trong hành vi cụ thể Nhiều thái độ, nhiều hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương đối ổn định và bền vững kết hợp lại với nhau theo một kiểu riêng biệt nhất định gọi là tính cách

Như vậy, tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân bao gồm một hệ thống

thái độ của nó đối với hiện thực, thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng

Có những nét tính cách tốt và cũng có những nét tính cách xấu Trong cuộc sống, những nét tính cách tốt được gọi là “đức tính”, “lòng” “tinh thần” những nét tính cách xấu thường đựoc gọi là “ thói”, “tật” Một cá nhân có thể có những nét tính cách tốt lẫn những nét tính cách xấu Xét một cá nhân tốt hay xấu là xem xét tỷ lệ giữa nét tính cách tốt và xấu

2.3.2.2 Đặc điểm của tính cách

Tính cách mang tính ổn định và bền vững, tính thống nhất và đồng thời cũng mang tính độc đáo, riêng biệt, điển hình cho mỗi cá nhân Vì vậy, tính cách của cá nhân là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái điển hình và cái cá biệt Tính cách của cá nhân chịu sự chế ước của

xã hội

2.3.2.3 Cấu trúc của tính cách: gồm có 2 bộ phận:

- Hệ thống thái độ của cá nhân (mặt nội dung):

+ Thái độ đối với tập thể và xã hội, thể hiện qua nhiều nét tính cách như: lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, thái dộ chính trị, tinh thần đổi mới, tinh thần hợp tác công đồng

+ Thái độ đối với lao đông, thể hiện ở những nét tính cách như: cần cù, sáng tạo, tiết kiệm,

kỷ luật

+ Thái độ đối với bản thân, thể hiện ở những nét tính cách như: khiêm tốn, tự trọng

Ngày đăng: 24/08/2017, 11:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Kế Hào (chủ biên), Nguyễn Quang Uẩn (2004), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào (chủ biên), Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2004
[2]. Lê Văn Hồng (chủ biên) Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1997), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (chủ biên) Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1997
[3]. Vũ Thị Nho (chủ biên) (2003), Tâm lý học phát triển, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Vũ Thị Nho
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2003
[4]. Phan Trọng Ngọ (2005), Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn Tâm lý học đại cương, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn Tâm lý học đại cương
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2005
[5]. Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Dương Diệu Hoa, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Nhân Ái, Bùi Thị Huyền (2005), Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Phan Trọng Ngọ, Dương Diệu Hoa, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Nhân Ái, Bùi Thị Huyền
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2005
[6]. Trần Trọng Thuỷ (chủ biên), Ngô Công Hoàn, Bùi Văn Huệ, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Quang Uẩn (2002), Bài tập thực hành Tâm lý học, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập thực hành Tâm lý học
Tác giả: Trần Trọng Thuỷ (chủ biên), Ngô Công Hoàn, Bùi Văn Huệ, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2002
[8]. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang (2014), Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm