1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

E learning and development of academic staff in vietnamese universities

14 5 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 16,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Hoàng Tiến Truong Dai hoc Thu Dau Mét Xây dựng và phát triển học liệu mở nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong môi trường đào tạo E-learning Trương Tần Trung và Lê Thị Thu Thú

Trang 1

Y THU DAU U MỘT

20 ¿2THỤ DAU tong UNIVERSITY

b fi eee vào

HỘI THẢO KHOA HỌC

_ E-LEARNING Ủ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

VÚI VIỆC NÂNG CA0 CHẤT LƯỢNG DAO TAO

Trang 2

er

0

MUC LUC

Hảo cáo đề dẫn

E-learning trong nang cao chất lượng đào tạo tại Việt Nam

ThS Tran Minh Thuong

Truong Dai hoc Thu Dau Mét

E-learning và sự phát triển của đội ngũ giảng viên đại học tại Việt Nam

1S Nguyễn Hoàng Tiến Truong Dai hoc Thu Dau Mét

Xây dựng và phát triển học liệu mở nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong môi trường đào tạo E-learning

Trương Tần Trung và Lê Thị Thu Thúy Trường Đại học Công nghệ Đông Nai

Dạy học trực tuyến (E-learning) các môn lý luận chính trị tại Trường đại học

Thủ Dầu Một

ThS Luong Thi Hai Thao

Truong Dai hoc Thu Dấu Một

E-learning - phương thức dạy và học hiệu quả trong thời đại công nghệ số qua giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Trường

Đại học Thủ Dầu Một

ThS Trân Thị Thúy Trường Đại học Thú Dâu Một

Phương thức hoạt động nhóm trong giảng dạy hoà hợp tích cực

môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin theo hướng tiếp

cận CDIO

ThS Nguyễn Lê Khôi Trường Đại học Thú Dấu Một Thiết kế khóa học môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” tại Trường Đại học Thủ Dầu Một theo phương thức E-learning phù hợp với

chuẩn đầu ra AUN-QA

ThS Nguyễn Thanh Kỳ Trường Đại học Thủ Dâu Một Thiết kế hoạt động trực tiếp trong giảng dạy hoà hợp tích cực môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

ThS Thái Thị Tuyết

Trường Đại học Thủ Dầu Một Xây dựng bài giảng và tổ chức dạy học Tư tưởng Hồ Chí Minh bằng E-

learning & Trường Đại học Thủ Dầu Một - thực trạng và những đề xuất cải tiến

ThS Tran Trung Chung

Trường Đại học Thủ Dâu Một

23

29

38

49

62

78

Trang 3

h vien trén E-learninng theo

í¡ Minh của 5

anil Truong Dai hoc Thi Dau Ths Phan Thanh Bang Mot

day ly thuyết giáo

phương thức Ï

¡ học Thủ Dầu Một ThS Cao Thị Thuy I

Thuận lợi và khó khăn kh

ˆ Joa va ThS Nguyen Hữu Phong Truong Dai hoc Thi Dau Mot

giờ học

ục thể chất theo hướng hòa hợp tích cực

giáo d

Truong Dai hoc Thủ Dấu Một

học Thủ Dầu Một

ThS Nguyén Xuan Ty va ThS Mai Van Hoang

Truong Dai hoc Thu Dấu Một

tại Trường Đại học Thủ Dầu Một

ThS Bùi Đặng Hồng Nhung và Thế Nguyễn Hữu Phong

Trường Đại học Thủ Dáu Một

trên hệ thống E-learning tại Đại học Thủ Dầu Một

ThS Trịnh Phước Thành

Trường Đại học Thú Dâu Một

16 Đào tạo E-learning ngành Luật ở Việt Nam hiện nay

ThS Huynh Thị Lệ Kha

Trường Đại học Thủ Dâu Một

17 Thực trạng hoạt động giảng dạy E-leaming tại Khoa Kinh tế Trường Đại học

Thủ Dầu Một

TAS Nguyễn Thị Thanh Hoa

Trường Đại học Thủ Dâu Một

18 Phân tích thực trạng ty hoc trén E-learning của sinh viên Trường Đại học Thủ

Dầu Một và đề xuất giải pháp

ThS Nguyễn Hồng Quyên

Trường Đại học Thủ Dâu Một

ứng yêu cầu của cuộc cách mạng 4.0

TS Trần Văn Trung và ThS Lê Văn Hải

Trường Đại học Thú Dâu Một

ii

pal

„ &

oe

“ sỹ;

«Ÿ#

«7

«7

111 cS

«7

cS

os

LẠ

=

a

ae

as

#

138 - |

163

173

Trang 4

E-LEARNING VA SU PHAT TRIEN CUA DOI NGU GIANG VIÊN ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM

TS Nguyễn Hoàng Tiến

Trường Đại học Thủ Dau Mot

TOM TAT

Bai viét nay xoay quanh vấn đề E-learning và tác động của nó đối với sự phát triển và

nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại các trường đại học Việt Nam Bài viết phân tích

hiện trạng chất lượng đào tạo và chất lượng đội ngũ giảng viên, trên cơ sở đó tìm cách

nâng cấp và cải thiện hiện trạng này thông qua áp dụng những công cụ E-learning phố biến

hiện nay

Từ khóa: E-learning, giảng viên đại học, Việt Nam

I DAT VAN DE

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, đào

tạo trực tuyến (E-learning) ra đời như một cuộc cách mạng về đạy và học, trở thành

một xu thế tất yếu của thời đại và đang “bùng nỗ” ở nhiều nước đã và đang phát triển

Thuật ngữ E-Learing đã trở nên quen thuộc trên thế giới trong một vài thập ki gần đây

Cùng với sự phát triển của tin học và truyền thông, các phương thức giáo dục ngày càng

được cải tiến nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho người học Ngay từ

khi mới ra đời, E-learning đã xâm nhập vào hầu hết các hoạt động huấn luyện và đào tạo

của các nước trên thế giới, được chứng minh qua sự thành công của hệ thống giáo dục hiện

đại có sử dụng phương pháp E-learning của nhiều quốc gia như Mĩ, Anh, Nhật E-learning

là một phương thức dạy học mới dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Với E-

learning, việc học là linh hoạt mở Người học có thể học bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, với

bắt cứ ai, học những vấn đề bản thân quan tâm, phù hợp với năng lực và sở thích, phù hợp

với yêu cầu công việc mà chỉ cần có phương tiện là máy tính và mạng Internet Phương

thức học tập này mang tính tương tác cao, sẽ hỗ trợ bổ sung cho các phương thức đào tạo

truyền thống góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy

Khái niệm E-learning: E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới

Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-

learning Hiéu theo nghia rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào

tạo dựa trên công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin

Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ

điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tính, mạng Internet, Intranet, trong đó nội dung

học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio thông qua một máy tính

hay tivi; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức

như: thư điện tử (e-mail), thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo, video

12

A3444ÁARqQ

Trang 5

GGGGẲ©G

VUE’

VÀ hụt tÂt ph hụp Hung việc đâu lậu ngiận Hân bực chẾt Ì400 có, đáp hy v0 có

hội Mô hình nây đã lậu tí những VÊU IA thay ÁẾi sâu sốc ong gree dye you thon ý

không gidh sÉ không râH bị tạng buậc chải ChE, DEED hye the we hye lop Đế viên

đến IhrØng, Nự chuyến gián IH thúc không con chiếu) v2 U0 any dou cue pao:

WH thie qua gián Hiếu Presi Hi Âại M6 A ue Cone DWE Oy UP ve lnlerne!

WHOL HHO Ru hic Hie, eH IW) va fan chBg có DÊ g140 Đạu vue U6) kibm du

MÌ#!, cÔH, sức, lại vữa hạt lâp HỚI cách HIỆU que hen Pe) plea eo VỚI phúng phút

truyền thống Hãng chục HghũH ainh viên đã và dang theo hoc bing phucong phar

warn thầy hái làng với chẾI lung 1á những 0u viỆL của 042

Hiện Hay, lí leatHing phái liên không đồng đÊ) tại các chủ vực trốn

triển mạnh nhất # khịu vực Hắc MÁ? và châu Âu, trong khi Áó châu Á và Đôi

hai kh vực tặc di việt 0n dụng công ni nây 90 ph:Êu bêA cậu Lạy phiền triệu

tươi sáng, Tren thie 18 vide hye tye tuyén 48 khong con min mé O các nước trên thể gió

Nong & Viel Nain, ná tới chỉ hãi đâu phái tiên một số nấm wn day, dong thén voi vide ke

nOl internet Nang thong rong Ay trién khai mạnh rã tới tôi cô các trường học Sự hữu (ch

liện loi của Ií:loaHing thị đã rñ nhưng 4Ê đạt 4c thánh công, các cấp quân lý cần có

tIll[mtg uy tách hyp ly Viet Nam đã gia nhép Mang bi-learmng châu A (Asia } leanning

Network » ALIN, www asia-clearning net) vi sy tham gia 60a Bộ Cháo đục & Đào tạo, Hộ Khoa học : Cong nghé, trướng Đại học Bách hoa, B6 lưu chính - Viên Thông Điều này

cho thấy tinh hink nghién cứu vá ứng dụng loạt hình 4á 14o này đang được quan tâm ứ Việt

Nam [uy nhiên, so với các nước trên thể giới, l~learmng ở Việtam tới chỉ ớ giải đoạn

đầu và côn rất nhiêu việc phái lâm 4É cá thế tiên kịp cá nước, Chú trương cúa lộ C19&17T

trong giai đoạn tới lá tích cực triển khái các hoạt động xây dựng một xã bội học lập, mà ở

đó mọi công dân (tứ học sinh phô thiông, sinh viên, che tang lớp người lao động, ) đều có

cơ hội được học lập, hướng tới việc: học bắt kỹ thứ g) (any things), bat kỳ lúc nào (any

time), bAL ky nei dau (any whiere) và học tập suốt đới (lifs long learning) Đề thực biện được

các mục liêu miêu trên, l-Ìearning nên œ6 một vai trõ chú đạo trong việc tạo ta một môi

trường học tập áo

II, NỘI DUNG

1, Hiện trạng chất lượng giáng dạy và chất lượng giáng viên tại Việt Nam

1,1, Đánh giá chung

Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân 16 chia khóa, là động lực thúc đây nền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ớ hầu hit các quốc gia khác trên thế giới,

13

Trang 6

các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Vậy tại sao giáo dục đào tạo lại có

tầm quan trọng đến chiến lược phát triển đất nước như vây?

— Thứ nhất: Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kính té

~ Thứ hai: Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xă hội

- Thứ ba: Và trên hết giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người

Hiệu được điều này, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng sự phát

triển của nên giao dục, đã và đang củng có xây dựng nền giáo dục thực sự vững mạnh và c0

chât lượng Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tam va tar

trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam Hiện trên cả nước có khoảng gân 300 cơ

sở đào tạo đại học bao gồm các trường đại học quốc gia, đại học vùng, các trường đại học

công lập, bán công, dân lập và các học viện Tới đây sẽ có thêm một số trường đại học tư

thục ra đời Lực lượng giảng viên không ngừng nâng cao về chất lượng và quy mô, số lượng

sinh viên tăng đáng kể (tăng khoảng 15 lần so với 20 năm trước) và do đó làm cho trình để dân trí tăng lên rõ rệt Thành tích trên là đáng trân trọng và tôn vinh

1.2 Hiện trạng chất lượng giáng đạy tại các trường đại học ở Việt Nam Những năm qua, giáo dục đại học nước ta đã có những chuyến biến tích cực, góp phân quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực, phát triển kinh tế- xã hội Tuy nhiên, với con so

khoảng hơn 200 nghìn người có trình độ đại học lâm vào tình trạng thất nghiệp đòi hỏi

ngành giáo dục cân có những giải pháp hữu hiệu nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đây giáo dục đại học phát triển, đáp ứng nhu cầu xã hội Về phương pháp kiểm tra đánh giá không phải

chỉ có hình thức kiểm tra trắc nghiệm, tự luận mới đánh giá được sự hiểu biết của người

học Các giảng viên còn rất nhiều cách đánh giá khác như: vấn đáp, semina, thực hiện các chuyên đề , phương pháp nào cũng đạt hiệu quả trong một phạm vi nhất định và cũng

không có phương pháp nào là tốt nhất Mặt khác vấn đề quan trọng là đằng sau kiến thức đã

day sẽ là cái gì sẽ diễn ra, kiến thức đó sẽ áp dụng vào đâu và áp dụng như thế nào? Người

học sẽ vận dụng những kiến thức đó ra sao? Hiện nay, cách giảng dạy của các giảng viên tại các trường đại học dần có chất lượng, giảng viên đã tạo cho sinh viên cảm thấy thích môn học mà mình đang giảng dạy, thực hiện được năng lực tư duy, sáng tạo (đặt van dé dé sinh viên tự giải quyết thông qua nội dung môn học ), kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn (Giao

nhiệm vụ thực hiện chuyên đê, tham quan, thu thập sô liệu, xử lý sau đó báo cáo trước

lớp ), điều cần nhất là người giảng viên phải luôn theo sát và quan tâm đến những vấn đề

đã giao cho sinh viên hoặc nhóm sinh viên, giúp cho sinh viên giải quyết được vấn đề và làm quen với thực trạng xã hội vê văn hóa ứng xử, làm việc, sự cạnh tranh và giải quyết được tình huống bắt ngờ Chỉ rõ địa chỉ áp dụng môn học (áp dụng của từng nội dung,

từng công thức vào vấn đề thực tế trong xã hội Đây chính là những ví dụ hùng hồn nhất

để làm cho sinh viên thích thú, phấn khởi trong học tập) Để phương pháp giảng dạy mới

được áp dụng thì quy mô lớp học phải tối đa là 50 sinh viên, lý tưởng là 30 - 35, trong thực

14

PREPPPPPPEPE

Trang 7

»

ĐỀ MĐM

VAN

VMWUVVVUVVVVVVVVVVVVVVYWYYVYVvvVV

tế rất ít có lớp học như vậy, mà có khi lên đến 100 — 150 sinh viên Những lớp học quá đông

sinh viên, việc áp dụng phương tiện giảng dạy hiện đại như dùng đèn chiếu hoặc projector cũng kém hiệu quả, hoặc giảng dạy trong phòng mô hình học cụ lại càng khó thực hiện (mà

sinh viên đã có nhiều phản ánh) Tất nhiên chúng ta đang đứng trước những mâu thuẫn giữa quy mô lớp học, thu nhập của giáo viên và chất lượng đào tạo ! Những bài toán này cũng

cần được giải gấp Cần phải thưởng điểm cho sinh viên khi kết thúc môn học đê khuyến khích những sinh viên thật sự quan tâm, có nhiều sáng tạo, có ý tưởng mới trong việc học

tập và thực hiện nhiệm vụ được phân công Qua đó, giảng viên đã có những quy định hạn

chế những sinh viên học vẹt, chỉ trả lời theo sách, bài giảng một cách khô khan Hình thức thi hết môn cũng không nhất thiết phải thi, có thé cho làm chuyên đề sau đó báo cáo, thực hiện các nhiệm vụ, các bài tập được giao trong suốt học kỳ của môn học và lấy trung bình

của các bài đó Kiến thức không nhất thiết phải thuộc làu như đưới phô thông mà chủ yếu là

giải quyết được vấn đề, phân tích được các yêu cầu kỹ thuật , tạo được kỹ năng cho mình, còn những vấn đề khác đã có số tay của từng môn học

1.3 Hiện trạng chất lượng đội ngũ giảng viên tại các trường đại học ở Việt Nam Chất lượng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay chưa cao, chưa đáp ứng được sự đòi

hỏi của đất nước và hội nhập quốc tế Trong 30 năm, theo biểu đồ trên, chỉ số về số lượng

thạc sĩ tăng liên tục ở mức độ tương xứng, nhưng số lượng tiến sĩ đến thời kỳ 2010 - 2015 mới nâng dân, số lượng giáo sư, phó giáo sư tăng không đáng kể, số lượng giảng viên có trình độ đại học, cao đẳng gia tăng đáng kể, đến năm 2011 - 2012 mới có xu hướng giảm dần Về cơ cầu thành phần giảng viên số lượng giáo sư, phó giáo sư năm 2015 cả nước chỉ

đạt 5,17%, số lượng tiến sĩ đạt 12,06% (trong khi đó ở các trường đại học trung bình ở

phương Tây khoảng 70% đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ), thạc sĩ chiếm 46,41% Qua

số liệu cho thấy, chất lượng đội ngũ giảng viên đại học ở Việt Nam còn rất thấp (12,06% là

tiến sĩ, chỉ đạt 48,24% so với mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục) Mặc dù số lượng

nhà giáo đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo là rất cao, nhưng năng lực và trình độ

chuyên môn nghiệp vụ của nhiều nhà giáo còn hạn chế, chưa thực sự đổi mới phương pháp

giảng dạy, vẫn còn có những giáo viên xếp loại yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là

nhà giáo công tác ở miễn núi, ít có điều kiện nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức Về

tin học và ngoại ngữ của đội ngũ nhà giáo đã được nâng lên (đặc biệt ở các cấp học cao và đối với

giảng viên) Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ chưa đạt yêu cầu về năng lực sư phạm, trình độ tin học và ngoại ngữ Đây là nguyên nhân dẫn tới tình trạng nhà giáo gặp khó khăn trong

việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy tiên tiến, hạn chế khả năng nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế Trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ giảng viên đại học vẫn còn thấp Các trường mở ngành đào tạo theo chương trình tiên tiến, đội ngũ giảng viên dạy bằng tiếng Anh chưa nhiều, mới chỉ tập trung ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, một bộ phận đội ngũ giảng viên đội ngũ giảng viên có biểu hiện thiếu trách nhiệm, thiếu tâm huyết

15

Trang 8

với nghề, vi phạm đạo đức, lối sống, ảnh hưởng không tốt tới uy tín của nhà gido trong xã hội Năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học của một bộ phận đội ngũ giảng viên còn thấp

Phương pháp dạy học, công tác thi, kiểm tra, đánh giá của đội ngũ giảng viên chậm được

đổi mới Nội dung giảng dạy còn nặng về lý thuyết, sách vở, chưa phù hợp với đặc thù khác

nhau của các loại hình cơ sở giáo dục, vùng miền và các đối tượng người học; đào tạo chưa

gắn chặt với sử dụng, với đời sống kinh tế - xã hội; chưa chuyên mạnh theo nhu cầu xã hội;

chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, rèn luyện các kỹ năng mềm (làm việc nhóm, ứng

dụng công nghệ thông tin, nâng cao trình độ ngoại ngữ và hoạt động xã hội), phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của sinh viên Chất lượng sản phẩm của đội ngũ giảng viên đại

học là sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm và làm được việc

2 Vai trò của E-learning trong nang cao chất lượng giảng dạy tại Việt Nam

2.1 Khái quát về E-leaning

Việt nam đã gia nhập mang E-learning châu A với sự tham gia của Bộ GD&ĐT, Bộ

Khoa học — Công nghệ, Bộ Thông tin - Truyền thông Chủ trương của Bộ GD&ĐÐT trong giai đoạn tới là tích cực triển khai các hoạt động xây dựng một xã hội học tập mà ở đây mọi công dân đều có cơ hội được học tập, hướng tới việc học: học bất cứ thứ gì, bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu và học tập suốt đời Để thực hiện được các mục tiêu trên, E-learning nên có một vai trò chủ đạo trong việc tạo ra môi trường học tập ảo Trong dạy học E-learning cũng

như truyền thống, vai trò của người giáo viên là thiết yếu trong việc triển khai E-learning

Người giáo viên có thể xuất hiện dưới dạng ảo hay thực tùy nội dung cần giảng dạy ; tô chức những buổi hội thảo, thảo luận qua mạng hoặc trực tiếp tại lớp dưới sự chủ trì của giáo viên (như môn phương pháp dạy học và E-learning ching ta dang hoc); tao mét Room trén mạng để giáo viên và tất cả các học viên có thể tương tác trực tiếp (chat, voice chat nhiều người) Trong dạy học tại lớp truyền thống nên kết hợp chiếu các đoạn phim liên quan đến bai hoc cho học sinh làm quen dần với công nghệ hiện đại, lên kế hoạch học tập cụ thẻ, giao

bài tập cho học sinh, sinh viên dé có thể gặp nhau trao đổi trực tiếp hoặc qua diễn đàn học

tập Kiểm tra, đánh giá học sinh có thể dùng hình thức trắc nghiệm tại lớp trên giấy hoặc

làm ngay trên máy tính Tăng cường học nhóm, thảo luận nhóm, làm việc theo nhóm và thực hiện các dự án học tập theo nhóm Giảng viên không chỉ cần nắm bắt được phương

pháp học tập mới mà còn phải là người chủ động tham gia soạn bài giảng điện tử, case síudy, bài tập phục vụ cho giảng dạy, phục vụ cho tự học của người học Do đó phải có hình

thức đầu tư trang thiết bị, hỗ trợ kinh phí, đào tạo, tập huấn, trao đổi kinh nghiệm sử dụng

công nghệ mới cho đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu dạy học hiện đại nhất như có

phương pháp, kỹ năng, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, thiết kế bài

giảng điện tò đạt chất lượng tốt, có khả năng sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại và

quan trọng hơn cả là có năng lực tự học, tự nghiên cứu khoa học Cần tăng cường đội ngũ quan tri E-learning vé sé luong va chat lượng, đặc biệt cần bồi dưỡng trình độ cho quản trị

viên dé không những vận hành tốt, xử lý kịp thời mỗi khi xảy ra sự cố mà còn phải có

16

{4444ddá44á44444444ã8ã8â§§§8A§8AÁA4A444

3141.

Trang 9

_"

salt

=

=

=

“=

eC

Ẳ«&=

«=>

&=

&>=

Ps od

oe

oe

=

=

roe

=

«=

«2

«2

«72

s72

s2

«2

s2

sZ

c7

LAX

At

những chiến lược lâu dài nhằm phát triển, mở rộng quy mô, phạm vi ứng dụng của hệ thông

E-learning trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục

2.2 Vai trò của E- leaning trong nâng cao chất lượng giảng dạy tại Việt Nam:

Trong môi trường 4.0, phương pháp đào tạo cần phải thay đổi căn bản trên cơ sở lấy người học làm trung tâm, ứng dụng tối đa công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng và

truyền đạt bài giảng Cùng với đó là sự đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiêm tra theo hướng đáp ứng năng lực làm việc và tính sáng tạo của sinh viên Và E-learning là một hình thức giảng dạy hiện đại có hiệu quả giúp nâng cao chất lượng giảng dạy Sử dụng

E-learning trong nâng cao chất lượng giảng dạy tại Việt Nam:

- Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học và cao đăng, các cơ sở giáo dục cân xác

định E-leaming là một chiến lược trong giáo dục mới hướng tới xã hội học tập Cần triển khai, tuyên truyền, nhân rộng E-learning không chỉ có ngành giáo dục mà còn với toàn xã hội Bộ và các trường tăng cường hợp tác doanh nghiệp trong việc xây dựng các Website E learning của các nước

- Tăng cường tập huấn về phương pháp, kĩ năng, sử dụng tổng hợp nhiều hợp phần đề

tạo bài giảng E-learning

- Đầu tư trang thiết bị, hỗ trợ kinh phí cho giảng viên trong việc tạo bài giảng

- Các trường phô hướng đến online hóa trường học bao gồm online về quản lí, điều

hành, tác nghiệp và online về dạy học Website trường học phải trở thành địa chỉ thân thiện với cán bộ, giảng viên, học viên và sinh viên Hướng dẫn phương pháp tự học, học tập và trao đổi qua mạng cho người học Đây là kĩ năng cần thiết để học tập ở các trường ĐH và

giáo dục nghề nghiệp

Phương thức đào tạo E-learning này cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học của các bài, đặc

biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức

thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi với những người cùng học hoặc giáo viên ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền

thống là không thể hoặc đòi hỏi chi phí quá cao Kết quả đạt được từ phương pháp học E-

learning cao hơn so với phương pháp học truyền thống do E-learning có tính tương tác cao dựa trên đa phương tiện, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng

như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người Theo đánh giá của giới chuyên gia, hệ thống E-learning làm biến đổi cách học cũng như vai trò của người học Người học đóng vai trò trung tâm và chủ động của quá trình đào tạo, có thể học

mọi lúc, mọi nơi nhờ có phương tiện trợ giúp việc học; Người học có thể học theo thời gian

biểu cá nhân, với nhịp độ tuỳ theo khả năng và có thể chọn các nội dung học E-learning cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức

cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến

17

Trang 10

_ thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách

nhanh chóng, tự do trao đổi mới những người cùng học hoặc giáo viên ngay trong quá trình

học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể hoặc đòi hỏi chỉ phí quá cao

E-learning còn lôi cuốn rất nhiều người học, đặc biệt là những người trước đây chưa bao giờ

bị hấp dẫn bởi lối giáo dục kiểu cũ và phù hợp với hoàn cảnh của những người đang đi làm

Các chương trình đào tạo từ xa trên thế giới hiện nay đã đạt đến trình độ phong phú về giao

diện, với nhiều hiệu ứng đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động ba chiều, kỹ

rin hoạt hình có độ tương tác cao giữa người sử dụng và chương trình, đàm thoại trực

tiếp qua mạng Điều này đem đến cho học viên sự thú vị, say mê trong quá trình tiếp thu

kiến thức cũng như hiệu quả trong học tập

Với việc áp dụng E-learning, giảng viên có thể dành nhiều thời gian hơn cho sinh viên

tự học, tự đọc tài liệu cung cấp sẵn trên khóa học nhưng vẫn đảm bảo được mối liên hệ chặt chẽ giữa giảng viên và sinh viên trong thời gian không học trên lớp Vì vậy, để mô hình ứng

dụng E-learning hỗ trợ dạy và học được hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng đào

tạo theo học chế tín chỉ, nhà trường cần có chính sách cụ thể về việc ứng dung E-learning, giảng viên và sinh viên cần chủ động trong việc ứng dụng vào công việc dạy và học hàng ngày

Ngưới Quần In hệ thông

cerenseremoeoesteseteletsgcd tarnnuobeeermrmmororestoioeee.Z

Công cụ | Hgướn học | Xây đựng nổi đụng học lập bee re

(Aubonng Tool

MO HINH HE THONG E-LEARNING

3 Vai trò của E-learning trong việc phát triển đội ngũ giảng viên đại học Việt Nam

Vai trò của E-learning trong việc phát triển đội ngũ giảng viên cũng vô cùng quan

trọng, với đặc thù nghề nghiệp của mình, việc tự bồi dưỡng và được bồi dưỡng chuyên môn

là hết sức quan trọng Do đó, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, công tác bồi dưỡng, phát triển thường xuyên chuyên môn của giảng viên luôn được quan tâm và triển khai đa dạng

Vì vậy, giảng viên không chỉ nắm bắt được phương pháp học tập mà còn là người tạo ra bài

18

10114144444444444444444444444404A814%

Ngày đăng: 10/10/2022, 10:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w