1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quality of education and quality of education management in vietnamese universities chất lượng giáo dục và chất lượng quản lý giáo dục tại các trường đại học việt nam

9 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 162,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không đề cập đến vấn đề chúng ta đang là nền kinh tế chuyển đổi về mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực giáo dục và đào tạo, với những tồn tại và bất cập nêu trên, từ trước tới nay chúng ta vẫn

Trang 1

Conference on:

“High Quality Study Program – Theoretical Issues and Practices”

Quality of Education and Quality of Education Management

in Vietnamese Universities?

Ch ất lượng giáo dục và chất lượng quản lý giáo dục

t ại các trường đại học Việt Nam

Dr Nguyen Hoang Tien, Economic Faculty, TDMU

Abstract: Education is a top priority in national development policy Education is a prerequisite for the socio-economic development of all countries in the world The quality

of education will determine the destiny of the nation as it has a profound effect on labor productivity and the competitiveness of the labor market and economy in the context of global integration In order to have a good education, a perfect educational management system is needed This article will analyze the lack of quality in educational management or the lack of professionalism in the management of education, controlling the quality of teaching and learning in educational institutions will affect the quality of education in university in our country

Key words: quality education, educational management, quality control of education, higher education

Tóm t ắt: Giáo dục là quốc sách, giáo dục là yếu tố tiên quyết đối với sự phát triển kinh tế xã

hội của tất cả các quốc gia trên thế giới Chất lượng giáo dục sẽ quyết định về vận mệnh quốc gia do nó có ảnh hưởng to lớn tới năng suất lao động và tính cạnh tranh của thị trường lao động và nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập toàn cầu Để có được chất lượng giáo dục

tốt cần phải có hệ thống quản lý giáo dục hoàn hảo Bài viết này sẽ phân tích việc thiếu chất lượng trong quản lý giáo dục hay thiếu tính chuyên nghiệp trong quản lý giáo dục, kiểm soát

chất lượng dạy và học tại các cơ sở giáo dục đào tạo sẽ ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục ở bậc đại học tại nước ta

T ừ khóa: chất lượng giáo dục, quản lý giáo dục, kiểm soát chất lượng giáo dục, giáo dục đại

học

Trang 2

1 Thực trạng nền giáo dục đại học tại Việt Nam

H ệ thống giáo dục nước ta còn nhiều vấn đề, tồn tại và bất cập cần phải được giải quyết để có thể được vận hành và hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế thị trường

tư do như ngày nay Những vấn đề, tồn tại và bất cập này đều có những điểm tương đồng không chỉ đối với giáo dục mà còn trong tất cả các lĩnh vực khác của nền kinh

tế Chúng là mẫu số chung kìm hãm sự phát triển các khu vực của nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường với thành phần kinh t ế tư nhân đang dần lớn lên để trở thành động lực phát triển chủ đạo So với các nước tư bản lâu đời hẳn chúng ta đang thiếu trầm trọng kinh nghiệm trong quản lý hiệu quả các tổ chức, các loại hình doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước tại các cấp,

bộ, ban và ngành

Không đề cập đến vấn đề chúng ta đang là nền kinh tế chuyển đổi về mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực giáo dục và đào tạo, với những tồn tại và bất cập nêu trên, từ trước tới nay chúng ta vẫn là nền kinh tế có hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, chưa thực sự phát triển, không chỉ so với các nước phương Tây, các nước trong khu vực, mà còn so với cả các nước cũng đang trong quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế như chúng ta, chẳng hạn như các nước Đông Âu, các nước thuộc Liên Xô cũ và ngay

c ả Trung Quốc Có thể do khởi điểm phát triển của đất nước chúng ta quá thấp và quá muộn so với các quốc gia trong khu vực Thế nhưng thực tế cho thấy, ngay cả trong khu vực ASEAN, nhiều quốc gia đi sau nhưng lại đi tắt đón đầu và tới trước trong quá trình phát triển và hội nhập vào nền kinh tế thế giới và cũng có những nước đi trước những lại tới sau Hàn Quốc và Singapore có cũng một mốc khởi điểm như chúng ta vào những năm 70-80 thế kỷ trước nay thuộc top các nền kinh tế hàng đầu trên th ế giới với hệ thống giáo dục xuất chúng và công tác quản lý giáo dục rất chuyên nghiệp Các quốc gia khác như Ấn Độ và Thái Lan, vốn là những nền kinh tế thị trường lâu đời, lại không có được những bước nhẩy thần kỳ như vậy Các trường đại học của Ấn Độ và Thái Lan rất ít khi nằm trong top 1000 của thế giới Trước hết cần phải lạc quan nhận thấy rằng nền giáo dục và đặc biệt là giáo dục đại học của Việt Nam cũng đã có nhiều điểm sáng đáng khích lệ giúp cải thiện tình hình và chất lượng giáo dục trong nước mà cần phải nhắc tới như:

- Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng du học sinh đông nhất trên thế giới (chủ yếu tại Mỹ và các quốc gia sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh), không chỉ ở bậc đại học, sau đại học mà còn ở các cấp bậc giáo dục thấp hơn như trung học phổ thông, trung học cơ sở với xu hướng các gia đình khá giả cho con cái mình hội nhập sớm hơn với nền giáo dục quốc tế để

Trang 3

trở thành những công dân toàn cầu thực thụ thay vì chờ đợi cho đến khi học hết trung học phổ thông tại quê nhà Các du học sinh trong tương lai

sẽ là lực lượng tri thức đông đảo có thể đóng góp nhiều cho quá trình nâng cao chất lượng giáo dục tại quê nhà

- Việt Nam là một trong những quốc gia cởi mở nhất đối với các nền giáo

d ục nước ngoài (du học tại chỗ) Việt Nam là điểm đến dễ dàng cho các cơ

sở giáo dục nước ngoài thành lập chi nhánh, chiêu sinh và tuyển sinh Điều này khiến cho các trường đại học trong nước phải cải thiện và nâng cấp chính mình để có thể cạnh tranh với các đơn vị nước ngoài

- Các trường đại học Việt Nam rất cởi mở và tinh thần cầu thị cao trong việc hợp tác quốc tế và liên kết đào tạo với các trường đại học nước ngoài Các trường đại học Việt Nam có thể nhận chuyển giao rất nhiều kinh nghiệm

và tri thức thông qua những dạng liên kết và hợp tác như thế này

Tuy nhiên, giáo dục đại học Việt Nam cũng đã bộc lộ nhược điểm ở nhiều mặt: a) Thiếu tính chuyên nghiệp và nghiêm minh trong quản lý (và kiểm soát chất lượng) giáo dục tại cấp trung ương (cấp bộ) và cấp địa phương (cấp tỉnh

và cấp các cơ sở giáo dục đang hoạt động)

b) Sự nghiệp nghiên cứu khoa học và quá trình phát triển đội ngũ còn non trẻ

và gặp nhiều thách thức và hạn chế

c) Năng lực sử dụng ngoại ngữ trong giảng dạy và hội nhập khoa học giáo dục quốc tế của các giảng viên

2 Chất lượng giáo dục và chất lượng trong quản lý giáo dục

Trong số 03 mặt yếu kém của nền giáo dục đại học Việt Nam nêu trên, yếu tố

đầu tiên, thiếu tính chuyên nghiệp và nghiêm minh trong kiểm soát chất lượng giáo

d ục tại cấp trung ương và cấp địa phương thuộc phạm vi quản lý chất lượng giáo

dục Hai yếu tố tiếp theo: sự nghiệp nghiên cứu khoa học và quá trình phát triển đội

ngũ còn non trẻ và gặp nhiều thách thức và hạn chế và năng lực sử dụng ngoại ngữ trong gi ảng dạy và hội nhập khoa học giáo dục quốc tế của các giảng viên thuộc

phạm vi chất lượng giáo dục hiện hữu Chúng ta tập trung vào việc phân tích nhóm đầu tiên và mối quan hệ giữa hai nhóm yếu tố này, và dựa trên kinh nghiệm của một

số nước tiến tiến trên thế giới, nhằm đề xuất đổi mới và cải tiến chất lượng giáo dục

và quản lý giáo dục tại cấp độ trung ương và tại cấp độ các cơ sở giáo dục Việt Nam

Thứ nhất, thiếu tính chuyên nghiệp và sự nghiêm minh trong quản lý (và kiểm soát chất lượng) giáo dục tại cấp trung ương (cấp bộ) và cấp địa phương (cấp tỉnh và

Trang 4

cấp các cơ sở giáo dục đang hoạt động) Quản lý giáo dục ở nước ta, cũng như quản

lý ở nhiều lĩnh vực các của nền kinh tế, mang nặng tính hành chính quan liêu mà ít chú trọng tới hiệu quả đầu ra của quá trình quản lý, cụ thể ở những điểm mấu chốt như sau:

- Kiểm soát chất lượng giáo dục tại các cơ sở đào tạo – bộ giáo dục không phải không có những biện pháp và chế tài nhằm đảo bảo chất lượng đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học Bộ cũng có những quy định về các điều

ki ện mở ngành, những việc thực thi những quy đinh này trong thực tế còn chưa nghiêm túc và chưa thực sự hiệu quả Quy định về số lượng và trình

độ giảng viên tối thiểu để mở ngành tuy còn ít khắt khe và quá dễ dãi so với quốc tế và khu vực, thế nhưng các trường đại học vẫn có cách lách luật

để tuyển dụng số lượng tối thiểu giảng viên nhằm cắt giảm chi phí đảm bảo lợi nhuận tối đa (các trường tư thục) Ở nước ngoài cơ quan chức năng của

B ộ Giáo Dục thường cứ hàng năm, trước khi bắt đầu năm học, rà soát lại các trường đại học trực thuộc (bất kể công lập hay tư thục), xem xét lại trình độ và hợp đồng lao động của đội ngũ giảng viên để quyết định xem trường có đủ điều kiện tuyển sinh và tiến hành các hoạt động đào tạo trong năm hay không, nếu không sẽ có những biện pháp chế tài nghiêm khắc phù hợp

- Cấp phép cho các chương trình đào tạo tại các ngành bậc đào tạo – việc cấp phép này đều dựa trên những tiêu chí về đội ngũ giảng viên và cơ sở

v ật chất hết sức lỏng lẻo và dễ dãi Dường như việc cấp phép này là vĩnh viễn, rất hiếm khi bị thu hồi Việc xem xét các cơ sở đào tạo có đủ năng lực hay không chỉ được thực hiện một lần trước khi cấp phép Trong cơ chế thị trường, tình hình nhân sự không chỉ của các doanh nghiệp mà cả của các cơ sở giáo dục, kể cả công lập, luôn có những biến động Do đó ở nước ngoài, để đảm bảo chất lượng cho các chương trình đào tạo được cấp phép vi ệc cấp phép chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ 3 năm) Sau thời gian đó, Bộ Giáo Dục lại rà soát lại về đội ngũ giảng dạy và chương trình đào tạo để quyết định có kéo dài giấy phép hay không Điều này khiến cho các trường đại học phải liên tục chiêu mộ giảng viên có trình độ, đãi ngộ hợp lý và khuyến khích họ gắn bó với trường và cùng với đồng nghiệp phát triển hơn thế nữa

- Cấp phép cho các chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở nước ngoài – không cứ phải cơ sở giáo dục nước ngoài nào cũng là “vàng” Ở nước ngoài, ngay cả những nước phát triển nhất, cũng có nhiều trường đại học

Trang 5

“ma”, không đảm bảo chất lượng (chưa hoặc không qua được kiểm định)

Họ tìm cách liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục các nước đang phát triển, xuất khẩu dịch vụ đào tạo kém chất lượng, không được công nhận ngay tại chính nước họ Việc buông lỏng quản lý và cấp phép một cách đại trà và dễ dãi cho các chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở nước ngoài này s ẽ có những ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng của toàn bộ hệ thống giáo dục

- Thủ tục phong học hàm giáo sư/phó giáo sư – giáo sư và phó giáo sư chỉ nên hiểu được là chức danh nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục đại học theo đúng cách tiếp cận của các nước phát triển trên thế giới Ở Việt Nam, các chức danh này đều có giá trị vĩnh viễn, ngay cả khi những cá nhân được phong nh ững chức danh thôi không còn làm việc ở các trường đại học và chuyển sang công tác quản lý tại các vị trí lãnh đạo trong các bộ, ban, ngành của nền kinh tế Giá trị vĩnh viễn này có thể khiến cho một số cá nhân sau khi được phong sẽ không còn động lực phấn đấu trong nghiên cứu giảng dạy và công bố khoa học nữa Trong thế giới khoa học và công nghệ phát triển như ngày nay các nhà khoa học chỉ cần ngưng hoạt động một thời gian có th ể sẽ không kịp bắt nhịp với sự phát triển đi lên trong lĩnh vực của mình nữa Ở các trường đại học nước ngoài, các tiến sĩ trong vòng 3 năm

mà không có công bố khoa học nào đáng giá sẽ coi như đãbị loại ra ngoài cuộc chơi, các tiến sĩ trong vòng 5-7 năm mà không lên được chức danh phó giáo sư sẽ bị buộc thôi việc Bản thân chức danh phó giáo sư cũng không phải là vĩnh viễn, mà chỉ có dạng hợp đồng lao động dài hạn 5 năm,

h ết hạn nhà trường sẽ xem xét phong lại Chỉ những phó giáo sư lâu năm trong ngành, có những cống hiến đóng góp to lớn cho khoa học (nhiều công trình tầm cỡ, hướng dẫn nhiều thế hệ các nhà khoa học trẻ thành danh), có thái độ tích cực, tâm huyết, yêu nghề mới được bầu làm giáo sư thực thụ (full professor) Chức danh giáo sư này đươc coi là vĩnh viễn vì trên thực

tế các vị giáo sư này luôn gắn bó và cống hiến cho cơ sở giáo dục mình đang làm việc cho đến hơi thở cuối cùng

Thứ hai, sự nghiệp nghiên cứu khoa học và quá trình phát triển đội ngũ còn non trẻ và gặp nhiều thách thức và hạn chế

- Chế độ đãi ngộ đối với giảng viên đại học – chế độ đãi ngộ đối với giảng viên đại học chưa hợp lý và thấp hơn nhiều so với các ngành nghề khác,

Trang 6

cho nên chưa thu hút được các giảng viên, nghiên cứu viên có học vị học hàm và nhiều kinh nghiệm

- Tạo động lực và môi trường thuận lợi cho nghiên cứu khoa học cho các giảng viên trẻ phát triển – trong hầu hết các trường đại học ở Việt Nam chưa tồn tại và chưa phát triển các hệ sinh thái trong môi trường đội ngũ cán b ộ giảng dạy Ở nước ngoài, trung bình một khoa của trường đại học

có ít nhất vài chục giáo sư thuộc thành viên hội đồng khoa học với các chuyên ngành và hướng nghiên cứu đa dạng Họ tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực cho khoa như hướng dẫn nghiên cứu sinh, là người thầy

cố vấn dày kinh nghiệm (mentor) chăm sóc sự nghiệp cho các giảng viên trẻ có trình độ tiến sĩ trong quá trình thăng cấp khoa học, hỗ trợ cho nhau trong công tác ch ủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, công bố khoa học quốc tế, hợp tác với các đơn vị khác ngoài trường Đội ngũ nhân sự của khoa gồm các giáo sư, các tiến sĩ, các nghiên cứu sinh hợp tác chặt chẽ với nhau tạo nên một hệ sinh thái cộng hưởng giúp nhau phát triển và đạt được những mục tiêu đề ra của tổ chức và của cá nhân Điều này hiếm thấy trong môi trường giáo dục của các đại học ở Việt Nam, khi đội ngũ còn mỏng về lượng và yếu về chất, các giảng viên ai mạnh gì người ấy làm, ít có sự hợp tác, chia sẻ, cộng hưởng thành quả của nhau trong khuôn khổ hệ sinh thái như vậy

Thứ ba, năng lực sử dụng ngoại ngữ trong giảng dạy và hội nhập khoa học giáo dục quốc tế của các giảng viên

- Hội nhập, hơp tác và giao lưu quốc tế – các giảng viên đại học Việt Nam

ít có điều kiện giao lưu và công bố quốc tế, một phần do năng lực của giảng viên, một phần cũng do kinh phí nhà trường còn hạn hẹp Giảng viên các trường đại học uy tín trên thế giới, ai không giao lưu hợp tác quốc tế, với

sự hỗ trợ ít nhiều của đơn vị cơ sở mình, sẽ dần mất đi uy tín cá nhân và

sự ảnh hưởng trong giới khoa học

- Sử dụng ngoại ngữ trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học – do sự hợp tác, h ội nhập và giao lưu quốc tế của các giảng viên Việt Nam còn chưa cao, cho nên họ ít có cơ hội sử dụng ngoại ngữ trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và giao tiếp, trình độ và năng lực ngoại ngữ của họ ngày càng hạn chế

- Tính chuyên nghiệp và sự tự chủ trong công tác giảng dạy – do ít cơ hội nhập, hơp tác và giao lưu quốc tế, ít liên tục sử dụng ngoại ngữ trong giảng

Trang 7

dạy và nghiên cứu tài liệu tham khảo bằng tiếng nước ngoài kiến thức của các giảng viên bị bó hẹp trong phạm vi những sách xuất bản trong nước, ít

đa dạng và ít được cập nhật Điều này khiến cho sự chuyên nghiệp trong giảng dạy không cao và ít có sự đổi mới đột phá cả trong nội dung lẫn hình thức và phương pháp giảng dạy

3 Đổi mới và cải tiến chất lượng quản lý giáo dục tại trung ương và tại cấp các cơ sở giáo dục Việt Nam

Sau đây là một số giải pháp đề xuất nhằm cải tiến hệ thống giáo dục Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới công tác quản lý giáo dục nhằm đem lại những hiệu quả nhất định, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các giải pháp này có thể nói là mang tính chất rất là quyết liệt, nhằm giúp tháo

gỡ một số nhưng không phải tất cả các vấn đề tồn tại trong hệ thống giáo dục Việt Nam

a) Áp dụng cơ chế thị trường và quy luật cung và cầu trong tuyển dụng và đào tạo nhân sự tại các trường đại học – điều này nhằm tìm kiếm, phát triển và duy trì đội ngũ nhân sự mạnh về chất, đủ về lượng đảm bảo chất lượng giáo dục

và đào tạo hiện tại và tương lai Trên thế giới sự khác biệt giữa giảng viên đại

h ọc và giáo viên phổ thông trung học chính là trình độ tối thiểu là tiến sĩ (chuẩn đầu vào) Chính vì vậy không cần có chế độ ưu đãi gì đối với các thạc sĩ sẽ và đang là nghiên cứu sinh Nếu họ muốn được đãi ngộ thỏa đáng cả về vật chất lẫn phi vật chất, họ phải cố gắng bảo vệ tiến sĩ nhanh chóng nhất có thể để trở thành lực lượng nòng cốt của nhà trường Cần xây dựng cơ chế lương bổng mang tính phân loại cao để thu hút, phát triển và duy trì đội ngũ nhân sự chất lượng cao tại các trường đại học Thu nhập trung bình của các giảng viên đại học Việt Nam thường thấp so với khu vực và thế giới, trình độ của họ cũng vậy Cần có sự phân hóa thu nhập giữa các giảng viên có học hàm học vị khác nhau (ThS, TS, PGS, GS), giữa các ngành đào tạo khác nhau (theo quy luật cung cầu có thể chấp nhận trả lương cho tiến sĩ ngành này cao hơn cả giáo sư ngành kia nếu nhà trường có hoặc không có nhu cầu tuyển dụng chính đáng)

Ch ấp nhận cơ chế thu nhập và trả lương linh hoạt, tùy theo dự báo nhu cầu về nhân sự hiện tại và tương lai tại từng đơn vị (các khoa trong nhà trường), chẳng hạn như trong năm 2017 nếu khoa chưa tuyển đủ giảng viên có trình độ tiến sĩ thì nên đề xuất mức lương cao để thu hút (ví dụ 20 triệu) đến khi đã tuyển đủ thì hạ dần mức lương này theo năm (dẫn xuống còn 15triệu), tăng giảm căn cứ theo tình hình nhân sự tại từng năm

Trang 8

b) Áp dụng kiểm soát chất lượng giáo dục theo kiểu ex-ante (kiểm soát trước sự việc) và in-process (kiểm soát trong quá trình diễn biến sự việc) thay vì ex-post (kiểm soát sau quá trình diễn biến sự việc), kiểm soát liên tục và thường xuyên thay vì kiểm soát định kỳ và mang tính chiếu lệ, cả nể – ví dụ như ở nước ngoài nêu trên, cơ quan chủ quản là Bộ Giáo Dục đều liên tục kiểm tra thường niên, trước khi năm học mới bắt đầu, điều kiện hoạt động giảng dạy tại các cơ sở giáo dục nhằm loại bỏ những cơ sở không đạt chuẩn; các trường đại học liên tục kiểm tra chất lượng các phó giáo sư, cứ 05 năm một lần xem xét lại để có cơ sở tiếp tục bổ nhiệm hay miễn nhiệm; các giáo sư là người hướng dẫn (mentor) của các tiến sĩ là giảng viên trẻ liên tục theo dõi năng lực của họ, có những cảnh báo và chế tài phù hợp nếu sau một thời gian công tác dài (5- 7 năm) mà họ không có triển vọng phong chức phó giáo sư; hướng dần tới việc không tuyển dụng thạc sĩ trong công tác giảng dạy đại học ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt xuất xắc

c) Tiếp tục đổi mới, cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục, giảm thiểu tính trì trệ và sự quan liêu trong quản lý, mở cửa và hội nhập, liên kết và cạnh tranh bình đẳng với các cơ sở giáo dục nước ngoài đã, đang và sẽ hoạt động tại thị trường Việt Nam, dần tiến tới xuất khẩu giáo dục sang thị trường các nước lân cận trong khu vực nhằm tạo sức ảnh hưởng và khẳng định vị thế giáo dục của nước nhà, đa dạng hóa và dần cân bằng giữa nhập khẩu và xuất khẩu (xuyên biên giới và tại chỗ) thể loại mặt hàng dịch vụ này

4 Kết luận

Đổi mới trong quản lý giáo dục bậc đại học là vấn đề thời sự cấp bách trong bối cảnh mở cửa nền kinh tế và cạnh tranh khốc liệt tại thị trường Việt Nam trong những năm tới đây Đổi mới quản lý giáo dục sẽ là tiền đề cho đổi mới giáo dục và đổi mới hệ thống giáo dục tại Việt Nam hướng tới công tác kiểm định nhằm tuân thủ các chuẩn của khu vực và quốc tế Song song với đổi mới và cải cách giáo dục đại

h ọc cần có những chính sách và cơ chế để thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học Việt Nam Có như thế thì quá trình cải cách đổi mới cũng như kết quả của nó mới mang tính lâu dài và bền vững, mang lại lợi thế cạnh tranh và nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội và nền kinh tế Việt Nam trong những thập kỷ tới

Tài li ệu tham khảo:

Brown, R (2011), Lesson from America, Higher Education Policy Institute report www.hepi.ac.u/484-1936/:essons-from-America.html

Trang 9

Howard, T and Kai P (2012), A Sustainable Model for Business Schools Journal of Management

Development, Vol 31 No 4, p 381 (DOI 10.1108/02621711211219031)

Nguyen Hoang Tien (2017a), Challenges in the International Cooperation of Pedagogical Universities in Vietnam Conference on “Perspectives of International Cooperation of the Universities”, October 2017, University of Pedagogy, Ho Chi Minh City

Nguyen Hoang Tien (2017b), International Executive MBA Study Program as Part the of International

Cooperation Strategies of the Universities Proceeding of Conference Perspectives of International

Cooperation of the Universities, October 2017, University of Education, Ho Chi Minh City, pp 81-83

OECD (2010), Education at a Glance, OECD, Paris

Reel J and Block W E (2013), Education Vouchers: Freedom to Choose? Contemporary Economics, Vol 7

No 4, pp 111-122 DOI: 10.5709/ce.1897-9254.126

Rynca R and Radomska J (2009), Strategic Dilemmas of Universities Contemporary Economics, Vol 11 No

3, pp 87-93

Todose D (2008), Education Management in Knowledge Based Society Contemporary Economics, Vol 7

No 3, pp 109-117

TS Nguyen Hoang Tien, Economic Faculty, TDMU

vietnameu@gmail.com

01208741048 12a11, cc Thái An 4, Nguyễn Văn Quá, Q.12, TP.HCM

Ngày đăng: 17/10/2022, 11:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm