Văn hóa là giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử và trở thành chuẩn mực xã hội được kế thừa, phát huy giao lưu tiếp biến, là thước đo trình độ phát triển và l
Trang 1Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
Học Viện Báo Chí Và Tuyên Truyền Khoa Kinh Tế
Lớp: Quản Lí Kinh Tế K33 A1
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Câu 1: Thế nào là văn hóa? Phân bệt văn hóa với văn minh, văn hiến, văn vật?
Văn hóa là giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử và trở thành chuẩn mực xã hội được kế thừa, phát huy giao lưu tiếp biến, là thước đo trình độ phát triển và là bản sắc của mỗi dân tộc
Phân biệt văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật
Văn minh là khái niệm có nguồn gốc từ phương Tây, dùng để chỉ trình độ phát triển nhấtđịnh của văn hóa nhưng thiên về phương diện các giá trị vật chất kĩ thuật Văn minh chỉ cho ta biết trình độ phát triển của văn hóa, nó là đặc trưng của một thời đại và có tính quốc tế, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn và cả nhân loại Một dân tộc có trình độ văn minh cao song trình độ văn hóa có khi lại rất nghèo nàn Ngược lại một dân tộc còn lạc hậu có khi lại có nền văn hóa phong phú
Văn hiến là một khái niệm của phương Đông Văn là vẻ đẹp hiến là người hiến tài Văn hiến là khái niệm thiên về chỉ các giá trị tinh thần
Văn vật là khái niệm của bộ phận văn hóa, chỉ khác văn hóa ở độ bao quát các giá trị Văn vật là truyền thống văn hóa thiên về các giá trị văn hóa vật chất ở một vùng đất biểuhiện ở việc có nhiều nhân tài, nhiều di tích, công trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử
Câu 2 Phân tích các chức năng xã hội cơ bản của văn hóa?
- Chức năng giáo dục; Là chức năng một văn hóa thông qua các hoạt động, các sản phẩmcủa
mình nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người làm cho con người dần dần có hệ thống phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực xã hội đề ra Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định là truyền thống văn hóa mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ vậy, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, trong việc trồng người Với chức năng giáo dục, văn hóa tạo nên sự phát triển bản sắc dân tộc và là cầu nối hữu nghị gắn bó
Trang 2các dân tộc., gắn kết các thế hệ trong mục tiêu hướng đến cái chân, thiện, mĩ Văn háo là gen xã hội di truyền phẩm chất cộng đồng người để lại cho các thế hệ sau.
- Chức năng nhận thức: Là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn hóa Bởi con
người không có nhận thức này thì không thể có bất cứ một hành động văn hóa nào Nhưng nhận thức này của con người trong các hoạt độnglại được thông qua đặc trưng, đặc thù của văn hóa Nâng cao trình độ nhận thức của con người chính là phát huy những tiềm năng của con người
- Chức năng thẩm mỹ: Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng thụ,
hướng tới cái đẹp Văn hóa là sự sáng tạo của con người theo quy luật cái đẹp, trong đó văn học nghệ thuật là bieur hiện tập trung nhất sự sáng tạo ấy Với tư cách là khách thể của nền văn hóa , con người tiếp nhận chức năng này của văn hóa và thanh lọc mình theo hướng vươn tới cái đẹp và khắc phục cái xấu trong mỗi người
- Chức năng giải trí: Trong cuộc sống, ngoài hoạt động lao động và sáng tạo, con người còn có
nhu cầu giải trí Các hoạt động văn hóa: câu lạc bộ, bảo tàng, lễ hội, ca nhạc… sẽ đáp ứng được các nhu cầu ấy Như vậy sự giải trí bằng các hoạt động văn hóa là bổ ích, cần thiết góp phần giúp con người lao động sáng tạo có hiệu quả hơn và giúp con người phát triển toàn diện
Câu 3: Đặc trưng của văn hoá Đông Sơn Phân tích vị trí của nền văn hoá Đông Sơn trong tiến trình lịch
sử văn hoá Việt Nam.
Văn hóa Đông Sơn được phát hiện từ trước cách mạng tháng Tám, cho đến nay đã tìm được trên 100 địa điểm phân bố hầu khắp các tỉnh miền bắc cho tới Hà Tĩnh Quảng Bình Đống Sơn có tầng văn hóa dày, hiện vật cực kỳ phong phú Địa điểm phân bố rộng rãi và mỗi văn hóa địa phương tuy có sắc thái riêng nhưng đều có các đặc trưng gần nhau
1 Văn hóa Đông Sơn mang những đặc trưng cơ bản:
* Về phương thức sản xuất:
- Trồng trọt và chăn nuôi phát triển, trong đó sản xuất lúa nước đóng vai trò chủ đạo
- Cùng với sản xuất nông nghiệp, họ đã biết chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà… Chăn nuôi đã có vị trí quan trọng, vật nuôi được dùng để lấy sức kéo, ăn thịt, săn thú
- Các loại hình nông cụ của cư dân Đông Sơn khá đa dạng với cuốc, xẻng, mai, thuổng và đặc biệt là lưỡi cày đồng Trên trống đồng Đông Sơn người ta thấy khắc hoa văn hình bò, một số di chỉ khảo cổ còn tìm thấy hình gà
- Nghề thủ công đã có sự phát triển vượt bậc, đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và chiến đấu:
+ Nghề luyện kim màu: Đạt đến trình độ kỹ thuật cao, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, nhiều chủng loại Trong đó, trình độ luyện kim đồng đã đạt đến đỉnh cao, có thể đúc được những vật lớn, hoa văn
Trang 3phong phú Cư dân Đông Sơn cũng đã biết luyện sắt và đúc sắt làm công cụ sản xuất, chiến đấu (tuy đồ sắt được phát hiện trong văn hóa Đông Sơn không nhiều).
+ Đồ gốm Đông Sơn mỗi vùng có phong cách riêng, có sự tiến bộ về sử dụng chất liệu, kỹ thuật tạo hình, tạo dáng và trang trí
+ Một số nghề thủ công khác cũng khá phát triển: nghề làm thủy tinh, nghề mộc, nghề dệt…
* Về văn hóa sinh hoạt vật chất:
- Mô hình bữa ăn của cư dân Đông Sơn là: Cơm – Rau – Cá (cơm và rau là chủ đạo) => sự hiểu biết và tậndụng môi trường tự nhiên của người Đông Sơn
- Đồ dùng sinh hoạt được chế tác bằng 3 chất liệu chủ yếu: đồ gốm, đồ đồng và đồ gỗ Một số loại đồ dùng sinh hoạt tiêu biểu như: nồi, chõ, mâm, chậu, âu, bình, thố, thạp…
- Nhà ở:
+ Vật liệu: Chủ yếu sử dụng các vật liệu thực vật: gỗ, tre, nứa, lá…
+ Dựa theo hình khắc trên mặt trống đồng, người ta thấy 2 mô hình kiến trúc: nhà sàn mái cong và nhàsàn mái khum Trong đó nhà sàn mái cong hình thuyền là loại hình kiến trúc phổ biến, chứng tỏ sự gắn
bó và cách ứng xử thông minh của người Việt cổ với môi trường tự nhiên sông nước
- Trang phục, trang sức: Có những nét riêng, độc đáo:
+ Phụ nữ vặc váy và yếm Nam giới đóng khố, cởi trần Ngày hội trang phục cầu kỳ hơn: nam và nữ đều dùng áo liền váy, chất liệu bằng lông vũ hoặc lá cây, đầu đội mũ lông chim Thời kỳ này đã xuất hiện trang phục của giới quý tộc
+ Về trang sức: Nhuộm răng đen, xăm mình Ngoài ra còn đeo vòng tai hạt, chuỗi, nhẫn, và phổ biến là vòng chân
- Phương tiện đi lại: Chủ yếu là thuyền bè, đường vận chuyển chủ yếu là đường sông, ven biển Thuyền
có loại thuyền độc mộc và thuyền ván ghép
* Về văn hóa sinh hoạt tinh thần:
- Về tín ngưỡng tôn giáo:
Trang 4+ Tín ngưỡng bái vật giáo, tín ngưỡng phồn thực: Có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh con người.
+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Cũng ra đời trong thời kỳ này
- Về phong tục: Đã xuất hiện tục nhuộm răng, ăn trầu, phong tục cưới xin, ma chay, phong tục lễ hội Đặc
biệt lễ hội thời kỳ này khá phong phú như hội mùa, hội cầu nước…
- Về văn hóa nghệ thuật: Nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật tạc tượng, nghệ thuật kiến trúc đã hình thành.
Đặc biệt trống đồng Đông Sơn là sự phát triển vượt bậc, là một biểu tượng văn hóa, cũng là một giá trị nghệ thuật đặc sắc
- Chữ viết:
+ Nghiên cứu một số hiện vật đồng thau thuộc văn hóa Đông Sơn, các nhà khảo cổ đã chứng minh về
sự tồn tại của chữ viết thời Đông Sơn, có thể gọi là chữ viết Đông Sơn Các loại chữ viết này được chạm khắc trên công cụ, vũ khí bằng đồng thau, các đường nét còn sơ lược nhưng khúc triết, rõ ràng
+ Ngoài ra, còn tìm thấy các dạng văn tự khác viết trên đồ đá, đồ xương, đồ gốm Trong đó, có loại hìnhvăn tự thắt nút (dùng một số sợi dây có màu sắc khác nhau buộc lại thành các nút khác nhau, để trao đổithông tin và biểu đạt suy nghĩ, tư duy)
- Kỹ thuật quân sự:
+ Vũ khí: Vũ khí Đông Sơn rất phổ biến, đa dạng về loại hình, độc đáo về hình dáng, phong phú về số lượng Những cuộc khai quật ở thành Cổ Loa (huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội) đã phát hiện ra kho chứa hàng vạn mũi tên đồng
+ Thành quách: Thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước
và chống giặc ngoại xâm Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn
cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, bảo vệ triều đình và kinh đô
2 Vị trí của văn hóa Đông Sơn trong tiến trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam:
- Văn hóa Đông Sơn được coi là cốt lõi của người Việt cổ Cùng với văn hóa Óc Eo, văn hóa Sa Huỳnh, tạothành “tam giác văn hóa” của người Việt Nam
- Đây cũng là một thành tựu văn hóa có ý nghĩa lớn lao trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
- Tạo nền tảng để văn hóa Việt Nam giao lưu tiếp biến với các nền văn hóa khác như: Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á trong thiên niên kỷ đầu CN mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc
- Những thành quả của văn hóa Đông Sơn mở ra một thời kỳ phát triển mới trong văn hóa Việt Nam, tạo thành những nét bản sắc văn hóa riêng biệt của văn hóa Việt Nam
Câu 4: Trình bày tóm tắt các cuộc giao lưu và tiếp biến của văn hoá Việt Nam trong lịch sử Phân tích cuộc giao lưu tiếp biến văn hoá Việt Hán
Trang 51 Khái niệm “giao lưu và tiếp biến văn hóa”
- Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự gặp gỡ, thâm nhập và học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa Trong
quá trình này, các nền văn hoá bổ sung, tiếp nhận và làm giàu cho nhau, dẫn đến sự biến đổi, phát triển
và tiến bộ văn hoá
2 Kể tên các cuộc giao lưu trong lịch sử
- Giao lưu tiếp biến văn hóa với Đông Nam Á
- Giao lưu tiếp biến văn hóa với văn hóa Trung Hoa
- Giao lưu tiếp biến văn hóa với văn hóa Ấn Độ
- Giao lưu tiếp biến văn hóa với văn hóa Phương Tây
3 Phân tích cuộc giao lưu tiếp biến với Trung Hoa.
- Khái quát:
- Giao lưu và tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa là sự giao lưu, tiếp biến liên tục qua nhiều thời kỳ của lịch sử Trung Hoa là một trong những trung tâm văn hóa lớn ở phương Đông, có nền văn hóa lâu đời và phát triển rực rỡ
- Văn hóa Trung Hoa là nền văn hóa nông nghiệp xuất phát từ nông nghiệp trồng khô (trồng kê và lúa mạch) trên đất hoàng thổ của vùng trung du Hoàng Hà Do nằm trên ngã ba đường của các luồng giao lưu kinh tế - văn hóa Đông - Tây, Nam - Bắc trong đại lục Châu Á và miền bình nguyên Âu - Á, nên văn hóa Trung Hoa vừa mang những đặc điểm văn hóa du mục của các cư dân phương Bắc và Tây Bắc, vừa thâu hóa nhiều tinh hoa của văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước của các cư dân phương Nam Lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa Trung Hoa gắn liền với lịch sử mở rộng lãnh thổ bằng các cuộc chinh phạt về mặt quân sự và truyền bá văn hóa của tổ tiên người Trung Hoa từ phía Tây lưu vực sông Hoàng Hà theo hướng từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam Cùng với sự bành trướng về phương Nam của các triều đại phong kiến Trung Hoa, đã diễn ra quá trình Trung Hoa thâu hóa văn hóa phương Nam, Hán hóa các nền văn hóa phương Nam Vị trí địa lý và những diễn biến của lịch sử đã tạo các điều kiện gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa Ngày nay, không thể phủ nhận ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đối với văn hóa Việt Nam là rất lớn
* Tính chất của quá trình giao lưu và tiếp biến giữa văn hóa Việt và văn hóa Trung Hoa
-Giao lưu cưỡng bức
Suốt thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, các đế chế phương Bắc ra sức thực hiện các chính sách đồng hoá về phương diện văn hoá nhằm biến nước ta trở thành một quận, huyện của Trung Hoa
Là giai đoạn nhà Minh xâm lược Đại Việt Trong số các kẻ thù từ phương Bắc, giặc Minh là kẻ thù tàn bạonhất đối với văn hóa Đại Việt Minh Thành tổ ban lệnh cho viên tướng Trương Phụ chỉ huy binh lính vào xâm lược Việt Nam: "Binh lính vào Việt Nam, trừ sách vở và bản in đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu
Trang 6hủy, ngoài ra hết thảy mọi sách vở khác, văn tự cho đến ca lý dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ một mảnh, một chữ đều phải đốt hết Khắp trong nước, phàm những bia do người Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ để còn".
- Giao lưu tiếp biến văn hóa một cách tự nguyện
Là dạng thức thứ hai của quan hệ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa Trước thời kỳ Bắc thuộc
đã từng diễn ra giao lưu tự nhiên giữa tộc người Hán với cư dân Bách Việt Nghiên cứu lịch sử văn minh Trung Hoa người ta thấy có nhiều yếu tố văn hóa phương Nam đã được người Hán tiếp nhận từ thời cổ đại, những yếu tố này nhập sâu vào văn hóa Hán, được hệ thống hóa, nâng cao "chữ nghĩa hóa" rồi truyền bá trở lại phương Nam dưới dáng vẻ mới Có thể nói, đó là sự giao lưu tiếp xúc hai chiều học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa Hiện nay đã phát hiện được trống đồng và nhiều đồ đồng Đông Sơn trên đất Trung Hoa, đồng thời cũng phát hiện nhiều vật phẩm mang dấu ấn Trung Hoa trong các di chỉ khảo
cổ học ở Việt Nam Trong nền văn hóa Đông Sơn, người ta đã nhận thấy khá nhiều di vật của văn hóa phương Bắc nằm cạnh những hiện vật của văn hóa Đông Sơn Chẳng hạn những đồng tiền thời Tần Hán, tiền Ngũ thù đời Hán, các dụng cụ sinh hoạt của quý tộc Hán như gương đồng, ấm đồng v.v Có thể những sản phẩm ấy là kết quả của sự trao đổi, thông thương giữa hai nước
Ở thời kỳ độc lập tự chủ, nhà nước quân chủ Đại Việt được mô phỏng theo mô hình nhà nước phong kiến Trung Hoa Nhà Lý, nhà Trần về tổ chức chính trị xã hội lấy cơ chế Nho giáo làm gốc tuy vẫn chịu ảnh hưởng rất đậm của Phật giáo Đến nhà Lê đã hoàn toàn tự nguyện và chịu ảnh hưởng của Nho giáo sâu sắc
* Cả hai dạng thức của giao lưu, tiếp biến văn hóa cưỡng bức và tự nguyện giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa đều là nhân tố cho sự vận động của văn hóa Việt Nam trong diễn trình lịch sử
- Người Việt luôn có ý thức vượt lên, thâu hóa những giá trị văn hóa Trung Hoa để làm giàu cho văn hóa dân tộc và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa
- Người Việt tiếp nhận một số kỹ thuật trong sản xuất như: kỹ thuật rèn đúc sắt gang để làm ra công cụ sản xuất và sinh hoạt, kỹ thuật dùng phân bón để tăng độ màu mỡ cho đất, kỹ thuật xây cất nơi ở bằng gạch ngói Người Việt còn học hỏi kinh nghiệm dùng đá đắp đê ngăn sóng biển, biết cải tiến kỹ thuật làm
đồ gốm (gốm tráng men)…
- Việt Nam tiếp nhận ngôn ngữ của người Trung Hoa (cả từ vựng và chữ viết), tiếp thu hệ tư tưởng TrungHoa cổ đại (Nho gia, Đạo gia) trên tinh thần hỗn dung, hòa hợp với tín ngưỡng bản địa và các hệ tư tưởng khác, mô phỏng hệ thống giáo dục theo tinh thần Nho giáo, tiếp nhận một số phong tục lễ Tết, lễ hội v.v
Câu 5: Phân tích ảnh hưởng của cá hệ phái tư tưởng triết học trung quốc dối với văn hóa việt nam Câu 6: Phân tích ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ đối với Việt Nam
Trang 7- Ấn Độ là một trung tâm văn hóa văn minh lớn của khu vực phương Đông và thế giới Văn minh Ấn Độ lan tỏa khắp khu vực Đông Nam Á và trên nhiều bình diện có ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam bằng nhiều hình thức.
- Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Ấn Độ diễn ra bằng con đường hòa bình Các thương gia, các nhà sư Ấn Độ đến Việt Nam với mục đích thương mại, truyền bá, văn hóa, tôn giáo
- Ở thiên niên kỷ đầu Công nguyên, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay có ba nền văn hóa: Văn hóa cùng châu thổ Bắc bộ, văn hóa Chăm Pa và văn hóa Óc Eo Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến ba vùng văn hóa này có khác nhau Văn hóa Óc Eo chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ khá toàn diện Trên nền tảng
cơ tầng văn hóa bản địa, các đạo sĩ Bà la môn đến từ Ấn Độ đã tổ chức, xây dựng một quốc gia mô phỏng mô hình của Ấn Độ ở tất cả các mặt: tổ chức chính trị, thiết chế xã hội, đô thị, giao thông cùng vớiviệc truyền bá các thành tố văn hóa tinh thần như chữ viết, tôn giáo v.v
- Người Chăm đã tiếp nhận mô hình văn hóa Ấn Độ từ việc tổ chức nhà nước cho đến việc tạo dựng và phát triển các thành tố văn hóa Họ đã rất linh hoạt trong tiếp biến văn hóa Ấn Độ để tạo dựng nên nền văn hóa Chăm Pa với những sắc thái văn hóa đan xen giữa Ấn Độ, Đông Nam Á và văn hóa bản địa Chăm đặc sắc Điều này thể hiện trên các lĩnh vực, đặc biệt là chữ viết, tôn giáo, kiến trúc và nghệ thuật
* Nghiên cứu giao lưu tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ cần chú ý những đặc điểm sau:
+ Người Việt đã tiếp nhận văn hóa Ấn Độ và đặc biệt là đạo Phật trên tinh thần cơ bản là hỗn dung tôn giáo
Trước khi tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, văn hóa của người Việt đã định hình và phát triển Dưới thời Bắc thuộc, người Việt tiếp nhận văn hóa Ấn Độ vừa trực tiếp qua các thương gia, các nhà sư từ Ấn Độ sang
và vừa gián tiếp qua Trung Hoa Những thế kỷ đầu Công nguyên, người Việt tiếp nhận văn hóa Ấn Độ trong hoàn cảnh đặc biệt: nước mất và phải đối mặt với văn hóa Hán Bởi vậy, ảnh hưởng của văn hóa
Ấn Độ chỉ diễn ra trong tầng lớp dân chúng nhưng lại có sức phát triển lớn Vùng châu thổ Bắc Bộ trở thành địa bàn trung chuyển văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là tôn giáo Giao Châu trở thành trung tâm Phật giáo lớn ở Đông Nam Á Người Việt tiếp nhận Phật giáo một cách dung dị bởi đạo Phật ở một số nội dung giáo lý phù hợp với tín ngưỡng bản địa Việt Nam
+ Phật giáo Ấn Độ đến Giao Châu không chỉ là một hiện tượng tôn giáo mà còn là một hiện tượng văn
hóa Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với tín ngưỡng bản địa của dân tộc và đã chung sống
với chúng Từ tín ngưỡng thờ các hiện tượng tự nhiên, thờ nữ thần nông nghiệp, tín ngưỡng phồn thực của văn hóa bản địa, người Việt đã thâu thái những yếu tố của đạo Phật và tạo nên một dòng Phật giáo dân gian thờ Tứ Pháp hết sức đặc sắc v.v
+ Tiếp nhận văn hóa Ấn Độ ở thời kỳ Bắc thuộc có thể xem là một đối trọng với ảnh hưởng của văn hóa Hán, thể hiện tinh thần chống đồng hóa văn hoá của người Việt
Trang 8Cùng với đạo Phật, một tổng thể văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng đến Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên như: ngôn ngữ, âm nhạc, vũ đạo, nghệ thuật v.v Cũng hình thành ở Việt Nam những công trình văn hóa, nghệ thuật có giá trị: hệ thống chùa, tháp …
Câu 7: Phân tích diện mạo văn hoá Đại Việt thời Lý Trần
1 Giới thiệu chung
- Nhà Lý (1010-1225) trải qua các triều đại: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý cao Tông, Lý Huệ Tông, Lý Chiêu Hoàng
- Nhà Trần (1225-1400): Trải qua các triều vua: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần
Dụ Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông…
Văn hoá Lý - Trần mở đầu cho thời kỳ văn hoá dv, diễn ra sau khi đất nước thoát khỏi ách Bắc thuộc Thời kỳ Lý - Trần tồn tại trong khoảng từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV là thời kỳ đạt được nhiều thành tựu
cơ bản, góp phần khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc
2 Đặc trưng văn hoá
- Nghề gốm: Phát triển đạt trình độ cao.
Trang 9+ Ngoài đồ sành sứ thông dụng, đã sản xuất được nhiều đồ gốm mỹ thuật phủ men ngọc, men hoa nâu, men hoa lam…
+ Các trung tâm gốm thời kỳ Lý - Trần: Bát Tràng, Hương Canh, Thổ Hà, Chu Đậu, Biên Hoà, Ninh Thuận…
- Nghề luyện kim và rèn đúc kim loại: Cho ra đời những thành phẩm cực lớn như: Tháp Báo Thiên,
chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng phật chùa Quỳnh Lâm được coi là “An Nam tứ đại khí”, tất cả đều được đúc bằng đồng
Nghề thủ công phát triển hình thành các làng nghề chuyên sản xuất một mặt hàng nhất định, đặc biệt ở thời nhà Trần
2.2 Văn hoá tinh thần
+ Nho giáo: So với đạo Phật, Nho giáo thời kỳ này chưa ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người
Việt Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống tinh thần người Việt thời kỳ này biểu hiện rõ qua chế độ giáo dục và thi cử
+ Đạo giáo: Du nhập vào nước ta và dần thích ứng, pha trộn với tín ngưỡng dân gian để tồn tại
Trang 10Đến đời Trần, vương triều đã chính quy hóa việc học hành thi cử, mở Quốc học viện và Giảng Võ đường dành cho con em quý tộc và cả con em thứ dân cũng được học.
Từ cách thi cử này mà Nho giáo ảnh hưởng và có địa vị trong xã hội, Nho giáo dần phát triển và lấn át Phật giáo, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống xã hội, trong văn hóa, ứng xử, quan niệm, giáo dục đạo đức luân lý của người Việt, góp phần làm giàu cho văn hóa Việt
* Một số loại hình văn hóa nghệ thuật:
- Văn chương nghệ thuật:
+ Nền văn học viết bằng chữ Hán, sau đó là văn học viết bằng chữ Nôm được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này Trong đó, văn học viết bằng chữ Hán đặc biệt đạt nhiều thành tựu với đội ngũ đông đảo tác giả tham gia và có một số lượng lớn tác phẩm
Lực lượng sáng tác thời kỳ này chủ yếu là các trí thức Phật giáo, sau đó là Nho giáo Nội dung thơ văn thời kỳ Lý Trần chủ yếu thể hiện tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, đặc biệt thời Lý còn mang quan niệm Phật giáo, mang tính Thiền
Một số các tác phẩm tiêu biểu như: Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Chiếu dời đô (Lý Công Uẩn)…
+ Dòng văn học chữ Nôm cũng được hình thành với tên tuổi của một số tác giả như: Trần Nhân Tông, Nguyễn Sỹ Cố…
Có thể thấy, đặt trong diễn trình lịch sử văn hoá dân tộc, sự xuất hiện của một nền văn học dưới cả 2 hình thức viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, đã đánh dấu sự phát triển cả về lượng và về chất của một nền văn hoá
- Nghệ thuật điêu khắc:
Nghệ thuật điêu khắc dưới thời Lý Trần phát triển và đạt đến độ ngày càng tinh xảo, phát triển hơn rất nhiều so với thời kỳ thiên niên kỷ đầu CN Nghệ thụât điêu khắc thời kỳ này chủ yếu thể hiện trên đá, gốm, trong kiến trúc của các ngôi chùa
Thời Lý nghệ thuật điêu khắc chú ý đến những đường nét chạm trổ tinh tế, mềm mại, thanh thoát Thời Trần mang tính chất phóng khoáng, khoẻ khắn và gần thực tế hơn
VD: Hình tượng con Rồng:
Rồng thời Lý: Rồng chỉ có ở kiến trúc cung đình Được chạm khắc là nhưng con rồng thân tròn lẳng, khá dài, không có vẩy, uốn khúc mềm mại và thon dài từ đầu đến chân, rất nhẹ nhàng và thanh thoát
Rồng thời Trần: Thân vẫn giữ dáng dấp như rồng thời Lý, nhưng được chạm khắc thêm nhiều vẩy ở lưng
và có thêm sự xuất hiện chi tiết cặp sừng và đôi tay Rồng thời Lý mềm mại, thanh thoát thì Rồng Trần
uốn lượn thoải mái, động tác dứt khoát, mạnh mẽ, tư thế vươn về phía trước
Trang 11- Ngoài văn học, điêu khắc, các ngành nghệ thuật sân khấu dân gian như: ca, múa, nhạc, chèo tuồng,
múa rối nước… cũng ra đời và phát triển
* Bên cạnh những thành tựu về chữ viết, về văn học nghệ thuật, văn hoá thời kỳ Lý Trần còn cho thấy
những kinh nghiệm, những thành quả nghiên cứu thuộc nhiều ngành có liên quan mật thiết đến việc giữ
gìn độc lập, xây dựng và phát triển đất nước như: thiên văn, lịch pháp, y dược, quân sự…
Về quân sự, do đặc điểm thời kỳ này phải đối phó với giặc ngoại xâm, nên quân sự phát triển
Nhà Lý đã đề ra và nhà Trần tiếp tục thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” “Ngụ binh ư nông” là việc kết hợp hài hòa giữa việc quân sự và nông nghiệp, giữa kinh tế và quân sự, chuyển hóa nhanh từ thời bình sang thời chiến khi cần
Thời Lý - Trần đặc biệt coi trọng giáo dục tướng sĩ và binh lính lòng yêu nước, thương dân, tinh thần
đoàn kết chiến đấu, lòng tự hào dân tộc và lòng căm thù giặc Lý Thường Kiệt có Nam quốc sơn hà, Trần Quốc Tuấn có Hịch tướng sĩ, các vua thường ra các chiếu, dụ gửi tướng hiệu và quân sĩ.
Nhà Trần chuộng võ, khuyến khích coi trọng vũ thuật của trai tráng là lối sống của nam nhi từ quý tộc tới
nô tỳ Năm 1253, Trần Thái Tông lập ra Giảng Võ đường để các quan võ tập trung học binh pháp và rèn
luyện võ nghệ Đây chính là trường cao cấp quân sự đào tạo các võ quan
Trần Quốc Tuấn đã soạn bộ Vạn Kiếp tông bí truyền thư và Binh thư diệu lý yếu lược Ông đã tìm hiểu và tổng kết kinh nghiệm chiến tranh của Trung Quốc cổ từ thời Xuân Thu đến tận Tống, Nguyên đương thời
Tóm lại, những đặc trưng văn hóa thời Lý - Trần đã thể hiện văn hoá Việt Nam thời kỳ này phát triển phong phú và đa dạng Mặc dù đây là thời kỳ xây dựng đất nước sau khi dân tộc ta thoát khỏi ách đô hộ của các đế chế phương Bắc nhưng nó đã đạt được những thành tựu nổi bật Văn hoá Đại Việt thời Lý - Trần là cơ sở, tiền đề cho sự phát triển văn hoá ở những triều đại sau
Câu 8: Trình bày những biến đổi của văn hoá Việt Nam trong quá trình giao lưu với văn hoá Pháp
- Giao lưu với văn hóa phương Tây đã từng diễn ra rất sớm trong lịch sử
- Trong lịch sử mấy ngàn năm, các cuộc giao lưu và tiếp biến với các nền văn hóa trong khu vực chỉ làm đổi thay về phương diện yếu tố của văn hóa Việt Nam
- Về phía người Pháp, sau khi đã lập được ách đô hộ ở Việt Nam, họ rất có ý thức dùng văn hóa như một công cụ để cai trị Vì tinh thần yêu nước và lòng tự trọng dân tộc, thái độ trước hết của người Việt Nam
là chống trả quyết liệt cả về phương diện chính trị và văn hóa Có thể thấy thái độ ấy ở các nhà nho yêu nước ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX như Nguyễn Đình Chiểu, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực Trong hoàn cảnh mất nước, người Việt có ý thức chống lại văn hóa mà đội quân xâm lược định áp đặt cho họ: thái độ không học tiếng Tây, không mặc đồ Tây, không dùng hàng Tây Tuy nhiên, bằng thái độ mềm
Trang 12dẻo, cởi mở, dần dần họ đã tiếp nhận những giá trị văn hóa mới để phát triển văn hóa dân tộc, sử dụng chúng trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc.
- Lần đầu tiên trong lịch sử, quá trình tiếp xúc toàn diện với văn hóa phương Tây giai đoạn 1858 - 1945
đã khiến người Việt cấu trúc lại nền văn hóa của mình, đi vào vòng quay của văn minh công nghiệp phương Tây Diện mạo văn hóa Việt Nam thay đổi trên các phương diện:
* Diện mạo văn hóa Việt Nam
+ Thứ nhất là chữ Quốc ngữ, từ chỗ là loại chữ viết dùng trong nội bộ một tôn giáo được dùng như chữ viết của một nền văn hóa
+ Thứ hai là sự xuất hiện của các phương tiện văn hóa như nhà in, máy in ở Việt Nam
+ Thứ ba là sự xuất hiện của báo chí, nhà xuất bản
+ Thứ tư là sự xuất hiện của một loạt các thể loại, loại hình văn nghệ mới như tiểu thuyết, thơ mới, điện ảnh, kịch nói, hội họa
Câu 9: Phân tích những nét đặc sắc trong văn hoá ẩm thực truyền thồng của người Việt Vai trò ý nghĩa của nó với ngành du lịch hiện nay
Những nét đặc sắc trong văn hoá ẩm thực truyền thồng của người Việt:
Mô hình bữa ăn điển hình là: Cơm- rau- ca, thạo chế biến thức ăn từ nguyên liệu là hạt gạo, rau, cá Tiêu biểu là các thứ bánh trái đc chế biến từ gạo, hay là nước mắm làm từ cá và các loại thủy hải sản…
Bữa ăn của người Việt đặc biệt coi trọng tinh thần cộng cảm, nghĩa là được ngồi ăn chung mâm, được chăm sóc nhau trong bữa ăn “Ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân”
Người việt đề cao sựu khoái khẩu trong bữa ăn Không chỉ thức ăn ngon mà cách bầy biện cũng phải sao cho “ngon mắt”, người ngồi ăn cùng bàn phải tâm đầu hợp ý, chỗ ngồi ăn hợp với thời tiết Ng Việt thích trò chuyện trong bữa ăn, và có những món phải cầm tay ăn mới ngon, không lấy tiêu chuẩn vệ sinh để xem xét bữa ăn như Phương tây
Người việt sử dụng các khuyeenh hướng cân bằng âm dương phù hợp với thể trạng của con người: Nhiệt, hàn, ôn, bình (nóng, lạnh, mát, ấm)
Miếng ăn miếng uống nhiều khi trở thành thước đo tình cảm giữa người này với người khác,
có khi được đồng nhất với địa vị, ngôi thứ trong làng xã
Xét rộng ra, có 2 loại ẩm thực là ẩm thực cung đình và ẩm thực bình dân
- Ẩm thực cung đình là những món ăn hiếm hoi, khó kiếm đươc gọi là cao lương mĩ vị Nhưng
ẩm thực cung đình lại không đủ tư cách đại diện cho nền văn hóa ẩm thực dân tộc
Trang 13- Ẩm thực bình dân là những thức ăn quê, thức quà bình dân khắp mọi miền đất nước Thể hiện sự đa dạng, giàu có của sản vật nước ta, đồng thời thể hiện tài khéo léo, sự tinh tế, tấmlòng yêu mến quê hương của người Việt, Chính vì thế, ẩm thực bình dân lại là đại diện cho nền văn hóa ẩm thực dân tộc.
Các dụng cụ dùng để chế biến, ăn uống, các nguyên liệu, các món ăn đã trở thành biểu tượng tinh thần trong văn hóa VN với nhiều ý nghĩa phong phú và thú vị
Vai trò ý nghĩa của nó với ngành du lịch hiện nay:
Văn hóa ẩm thực là một yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền để thu hút khách du lịch, tạo cơ hội cho khách du lịch được trải nghiệm những khía cạnh văn hóa đời sống và từ
đó kích thích nhu cầu đi du lịch của họ
Văn hóa ẩm thực góp phần đa dạng hóa, tăng sức hấp dẫn cho hoạt động xúc tiến du lịch
Du khách được trải nghiệm thông qua hình thức tham gia chế biến và thưởng thức các món
ăn truyền thống dân tộc, từ đó thêm yêu những địa danh và ghi nhớ cho những lần quay trởlại
Văn hóa ẩm thực truyền thống là một nội dung thông tin quan trọng Hoạt động xúc tiến du lịch không chỉ là việc cung cấp thông tin đơn thuần mà cần phải có nhiều nội dung khác nhau
để tạo ra một hệ thống các hoạt động mang tính tổng hợp tác động đến tâm lý, kích thích tính tò mò và kích cầu khách du lịch tiềm năng Vì vậy thông tin về vấn đề ăn uống không kém phần quan trọng vì nhiều khách du lịch rất quan tâm đến vấn đề này
Câu 10: Trình bày tổng quát hệ thống tín ngưỡng của người Việt và phân tích tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình truyền thống
1 Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình
an cho cá nhân và cộng đồng
2 Nêu hệ thống tín ngưỡng: 5 nhóm
- Tín ngưỡng thờ các hiện tượng tự nhiên và động thực vật
- Tín ngưỡng phồn thực
Trang 14- Thờ cúng tổ tiên ở người Việt bắt nguồn từ kinh tế nông nghiệp gia đình phụ quyền
- Khi Nho giáo du nhập vào nước ta, con người coi trọng chữ Hiếu nội dung chữ Hiếu được truyền bá răn dạy con cái trong các gia đình phong kiến Việt Nam
Hình thức và các nghi lễ của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Trang 15+ Ngũ quả
+ Chân đèn
+ Nhà sang giả thì có Ngai, khám, hoành phi câu đối
* Cúng: Là hoạt động không thường xuyên, diễn ra vào những dịp nhất định, do người sống tiến hành tại
nơi thờ tự hoặc nơi khác, nhằm biểu đạt sự giao tiếp đối với tổ tiên
+Giỗ đầu (Tiểu tường)
+Giỗ hai năm (Đại tường)
+Giỗ ba năm (Đoạn tang hay Từ Phục)
+ Những việc kiêng
+Cúng gia tiên
+ Nhân dịp húy kị tổ tiên
+ Cúng rằm tháng 7 để cầu siêu (Lễ Vu Lan)
+ Cúng vào những dịp cưới hỏi, làm nhà…
+Cúng Thủy tổ
+Thủy tổ là tổ cao nhất của dòng họ, hoặc là người khai địa lập ấp
+Việc cúng thủy tổ cũng vào ngày húy kị, do Cành cả hoặc bô lão trong làng đứng ra Thường là 2 năm một lần
Người ta còn coi trọng chăm nom phần mộ tổ tiên, và bàn thờ tổ tiên Người Việt đặt bàn thờ tổ tiên ở nơi trang trọng trong nhà Các dòng họ có từ đường, đó là nơi không gian thiêng liêng, nơi tổ tiên đi về theo quan niệm của dân gian Trong từ đường có bày biện bàn thờ với các đồ thờ tự quý của dòng họ,
có các hình nhà cửa, hài nón gương lược, quần áo, hia kiếm…làm bằng vàng mã