Slide 1 BÀI TẬP NHÓM 3 THÀNH VIÊN TRONG NHÓM Ngụy Yến Nhi Chung Ngọc Phương Dung Nguyễn Huỳnh Kim Liên Đỗ Thị Gái Trần Thi Tường Vy Trương Minh Trang 1) Nhà thơ Xuân Quỳnh Giới thiệu tác giả Tác. THÀNH VIÊN TRONG NHÓM Ngụy Yến Nhi Chung Ngọc Phương Dung Nguyễn Huỳnh Kim Liên Đỗ Thị Gái Trần Thi Tường Vy Trương Minh Trang
Trang 1BÀI TẬP NHÓM 3
Trang 2THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
1) Ngụy Yến Nhi
2) Chung Ngọc Phương Dung
3) Nguyễn Huỳnh Kim Liên
4) Đỗ Thị Gái
5) Trần Thi Tường Vy
6) Trương Minh Trang
Trang 31) Nhà thơ Xuân Quỳnh
Giới thiệu tác giả- Tác phẩm
Thống kê số lượng thơ trong chương trình
Tiểu học
Nghệ thuật và nội dung thơ
Phân tích bài ”Tuổi ngựa”
Kết luận
DÀN BÀI CHI TIẾT
Trang 42) Nhà thơ Bế Kiến Quốc
Giới thiệu tác giả- Tác phẩm
Thống kê số lượng thơ trong chương trình Tiểu học
Phân tích bài ”Ngày hôm qua đâu rồi”
Kết luận
Trang 5XUÂN QUỲNH
I)GIỚI THIỆU TÁC GIẢ- TÁC PHẨM
1)Vài nét về tiểu sử
_ Tên thật: Nguyễn Thị Xuân Quỳnh sinh
6/10/1942 tại làng La KHê, xã Vân Khê, tỉnh
Hà Đông
_ Xuất thân trong 1 gia đình công chức, mồ côi mẹ
từ nhỏ
_ 2/1955, được tuyển vào đoàn Văn công nhân
dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa
Trang 6_ Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở người ngoài
và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới
năm 1959 tại Viena (Áo)
_ 1962 -1964, Xuân Quỳnh học Trường bồi
dưỡng những người viết văn trẻ (khoá I)
của Hội nhà văn Việt Nam Sau đó, bà làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt
Nam
_ 1967: ủy viên ban chấp hành
Hội nhà văn Việt Nam( khóa III )
Trang 7_1973: kết hôn với nhà thơ Lưu Quang Vũ
_1978-1988: làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phâm mới
_ Bà mất 29/8/1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương (nay là thành phố), tỉnh Hải Dương cùng với chồng và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi
_ Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng NHà
nước về Văn học nghệ thuật năm 2001
Trang 82) Tác phẩm
a) Các tác phẩm chính
Tơ tằm - chồi biếc (thơ, in chung)
Hoa dọc chiến hào (thơ, in chung)
Gió Lào, cát trắng (thơ, 1974)
Lời ru trên mặt đất (thơ, 1978)
Sân ga chiều em đi (thơ, 1984)
Tự hát (thơ, 1984)
Hoa cỏ may (thơ, 1989)
Thơ Xuân Quỳnh (1992 , 1994)
Thơ tình Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ (1994) Cây trong phố - Chờ trăng (thơ, in chung)
Trang 9MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA XUÂN QUỲNH
Trang 10Thơ tình Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ
(1994)
Trang 11DI BÚT CỦA XUÂN QUỲNH
“Bây giờ em ở đâu”
Tặng hương hồn
Kỳ Anh
Trang 12b) Các tác phẩm dành cho thiếu nhi
Bầu trời trong quả trứng (thơ thiếu nhi, 1982)
Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ, 1985)
Mùa xuân trên cánh đồng (truyện thiếu nhi - 1981) Bến tàu trong thành phố (truyện thiếu nhi, 1984) Vẫn có ông trăng khác (truyện thiếu nhi, 1986)
Tuyển tập truyện thiếu nhi (1995)
Trang 131982
Trang 14II) THƠ- VĂN XUÂN QUỲNH TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC
_ Người làm đồ chơi (SGK lớp 2)
_ Tuổi ngựa (SGK lớp 4)
_ Chuyện cổ tích về loài vật (SGK lớp 4)
Trang 15III) NỘI DUNG THƠ
1) Hình ảnh người mẹ
_ Do bà mồ côi mẹ từ nhỏ nên bà luôn khao khát
tình mẹ vì thế với một trái tim nhạy cảm thì
hình ảnh người mẹ là nguồn sáng tác dạt dào của Xuân Quỳnh
_ Với phong cách riêng biệt, bà đã viết nên các
sáng tác dành cho các em thiếu nhi, nhẹ
nhàng, sâu sắc và ấm áp tình mẹ
Trang 16_ Đọc thơ của bà, ta có thể cảm nhận được cả thế giới thông qua lăng kính tình mẹ con Như
chuyện chú gà con ra đời trong bài thơ “Tại sao
gà con sinh ra”
Gà mái mong con quá Càng ấp iu suốt ngày
Thân xác xơ gày mòn Không ăn mà mãi thức
Trang 17_ Thấy mẹ gà như thế nên gà con liền:
Thương mẹ, đạp vỏ trứng
Thế là gà sinh ra
Thể hiện tình mẫu tử đồng thời cũng nói cho các
em biết cách để sinh ra 1 chú gà con là như thế nào
Trang 18_ Tình mẹ còn được Xuân Quỳnh miêu tả thông qua hình ảnh ông trăng trong bài “Muốn mặt
trăng luôn luôn tròn”
“Trăng khuyết là trăng gầy
Lúc buồn trăng khuyết thế
Trăng giống như là mẹ Lúc con hư mẹ gầy ”
( Muốn trăng luôn luôn tròn)
Sự lo lắng, quan tâm của người mẹ khi đứa con chưa ngoan
Trang 19mẹ như ánh trăng khuyết kia Phải luôn luôn làm
mẹ vui để ông trăng mãi tròn.
Trang 20_ Đặc sắc nhất trong chủ đề này có lẽ là bài thơ” Con yêu mẹ”
_ Bài thơ được xây dựng bằng hình thức đối đáp, giọng điệu thủ thỉ, tâm tình Đứa con bày tỏ tình cảm của mình dành cho mẹ thông qua các hình ảnh như:
Con yêu mẹ bằng ông trời Rộng lắm không bao giờ hết
Trang 21Con yêu mẹ bằng Hà Nội
Để nhớ mẹ con đi tìm
hay
Con yêu mẹ bằng trường học
Suốt ngày con ở đấy thôi
hay
À mẹ ơi có con dế Luôn trong bao diêm con đây
Mở ra là con thấy ngay
Con yêu mẹ bằng con dế
Trang 22_ Hình ảnh so sánh dần dần giảm xuống Vì
sao lại như thế?
_ Người mẹ muốn là vật gì đó gần gũi với con, bà không cần con thương mình bằng trời, bằng Hà Nội, hay bằng trường học
Giáo dục các em phải luôn thương yêu mẹ mình, không nên chỉ nói mà không làm Hãy yêu
thương mẹ bằng những việc làm gần gũi nhất, đời thường nhất
Trang 23 Chính vì sự thiếu thốn tình cảm người mẹ ngay
từ bé nên khi đọc những vần thơ của Xuân
Quỳnh, ta luôn cảm nhận được một sự khao
khát, một tình cảm mãnh liệt và đầm thắm
_ Tình mẹ được thể hiện qua tất cả những vật gần gũi với đời sống các em để từ đó lồng vào trong các em là 1 bài học giáo dục nhẹ nhàng và sâu sắc
Trang 242) Hình ảnh xoay quanh cuộc sống các em
_ Từ những hình ảnh nhỏ nhặt nhưng từ ngòi bút khéo léo của Xuân Quỳnh đã trở thành những bài thơ gần gũi và quen thuộc với các em
Mười ba, đèn đã sẵn rồi Mua hồng mua bánh để mời ông ăn
Hôm nay mười bốn, mai rằm Lạy trời trong sáng cho ông trăng về
Chờ trăng
Trăng như người bạn thân của các em
Trang 25_ Thông qua thơ, Xuân Quỳnh cũng nhẹ nhàng giúp các em ghi nhớ những kiến thức cơ bản như
Cây thông là cây của đồi Cây nhãn của bãi đất bồi triền sông
Bờ ao thường mọc cây sung Cây xoan trước ngõ, cây hồng rìa sân
Cây chanh là cây của vườn
Bài hát về cây
Trang 26_ Cũng có những bài thơ giúp các em hình thành tính tự lập, tinh thần ý thức cao độ
Ngày tết nghỉ ở nhà Bạn nhớ đừng dậy muộn Ngủ nhiều sẽ thiệt thòi Bao điều không kịp biết
( Nếu chúng mình dậy sớm)
Mặc dù những ngày tết là những ngày dành cho các em nghỉ ngơi nhưng bà cũng khuyên các em không nên dậy muộn, mỗi ngày là một ngày mới
và có những nét đặc sắc khác nhau Trong ngày tết cũng như thế, vậy thì các em hãy cùng nhau dậy sớm để khám phá
Trang 27Trời xanh của riêng em
Em chưa nhìn thấy hết Dài và rộng đến đâu
Ai bảo giùm em biết?
Ngầm giáo dục cho các em đất nước ta hết sức rộng lớn, khơi dậy niềm khao khát chinh phục thế giới ở các em
Dài và rộng đến đâu
Lớn rồi em sẽ biết
(Trời xanh của mỗi người)
Trang 28_ Thơ của Xuân Quỳnh có nội dung đa dạng và phong phú được thể hiện qua nhiều đề tài khác nhau nhưng các sự vật, sự việc trong thơ đều quen thuộc và gần gũi với các em
_ Đề tài nổi bật nhất chính là hình ảnh người mẹ
và tình thương của mẹ đối với con cái
Giáo dục các em từ những bài học nhẹ nhàng bằng những hình ảnh, những sự vật quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của các em
Trang 29• NGHỆ THUẬT THƠ
_ Ngôn từ đơn giản, dễ hiểu, dễ thuộc
Hôm qua đi ra nắng Bạn Kiên chẳng che đầu
Thế là bị cảm sốt Suốt cả đêm kêu đau ( Mí ngoan hơn cây nấm) _ Giọng thơ hồn nhiên, trong sáng, có chút nghịch
ngợm cũng có chút giận hờn, trách móc của trẻ thơ
Trang 30Trăng hư lắm!
Trăng hư lắm!
( Trăng hư lắm) _ Giọng thơ pha lẫn một chút thơ vị của đồng dao
"Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa Con ngựa dứt cương "
Nào mau nhắm mắt Kẻo ngựa lạc đường!
( Đi trốn đi tìm)
Trang 31_ Bộc lộ sự ngô nghê của trẻ thơ:
Không có chân có cánh
Mà lại gọi: con sông?
Không có lá có cành Lại gọi là: ngọn gió?
( Vì sao)
Tinh thần ham học hỏi và khao khát tìm hiểu thiên nhiên
Trang 32
Tóm lại:
_ Trong thơ, Xuân Quỳnh không sử dụng nhiều
các biện pháp nghệ thuật, đa số bà dùng biện pháp nhân hóa để giúp các em có thể hiểu thêm
về cuộc sống xung quanh mình
_ Ngôn từ dễ hiểu, thể thơ tự do và nhịp điệu thơ thể hiện sự ngây thơ, trong sáng của tuổi thơ
Với những đóng góp về thơ, Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ trong văn học thiếu nhi
Trang 33IV) PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH BÀI THƠ: ” TUỔI
NGỰA”
- Mẹ ơi, con tuổi gì?
- Tuổi con là tuổi ngựa
Ngựa không yên một
chỗ
Tuổi con là tuổi đi
- Mẹ ơi con sẽ phi Qua bao nhiêu ngọn gió Gió xanh miền trung du Gió hồng vùng đất đỏ Gió đen hút đại ngàn Mấp mô triền núi đá
Con mang về cho mẹ Ngọn gió của trăm miền
Trang 34Ngựa con sẽ đi khắp
Trên những cánh đồng
hoa
Loá màu trắng hoa mơ
Trang giấy nguyên
chưa viết
Con làm sao ôm hết
Mùi hoa huệ ngọt ngào
Gió và nắng xôn xao
Khắp đồng hoa cỏ dại
Tuổi con là tuổi ngựa Nhưng mẹ ơi đừng buồn
Dẫu cách núi cách rừng
Dẫu cách sông cách bể
Con tìm về với mẹ Ngựa con vẫn nhớ đường
Trang 351) Bốn câu thơ đầu:
- Mẹ ơi, con tuổi gì?
- Tuổi con là tuổi ngựa Ngựa không yên một chỗ
Tuổi con là tuổi đi
_ Mở đầu bài thơ là đoạn đối đáp giữa mẹ và bé
Câu hỏi được đặt ra hết sức ngây ngô, qua đó
ta có thể đoán được rằng đứa bé đang ở độ
tuổi bắt đầu tiếp thu những kiến thức mới bằng trực quan hay bằng những câu hỏi ngây ngô thú vị ấy
Trang 36_ Hình ảnh chú ngựa gợi cho người đọc sự tự do
và một chặng đường dài
_ Sau khi mẹ giải thích cho bé về tuổi của mình,
mẹ không quên nhấn mạnh với bé rằng:
“Tuổi con là tuổi đi”
_ Bởi lẽ, ngựa thì không bao giờ dừng chân tại
một nơi lâu và bé cũng như thế, tuổi nhỏ ham học hỏi và thích tìm tòi
Giúp bé hình thành tính tự lập và lòng khoa khát được đi xa tìm hiểu thế giới
Trang 372) Câu trả lời của bé
_ ” phi”: chạy rất nhanh, bốn vó tung lên khỏi mặt đất
_ Bé phi nhanh đến độ vượt qua bao nhiêu là ngọn gió và mỗi ngọn gió tượng trưng cho 1 vùng đất
mà bé đặt chân đến
Gió xanh miền trung du
_ Ngọn gió pha lẫn hương thơm của cỏ, của cây Giọng thơ và ngôn từ làm cho ta cảm nhận
được sự dịu mát
Trang 38Gió hồng vùng đất đỏ
_ Từ “đất đỏ” đã nói lên vị trí mà bé đang đứng bây giờ là ở Tây Nguyên, nơi tập trung nhiều đất đỏ Bazan
Gió đen hút đại ngàn _ Bé không những chỉ đến những nơi tươi đẹp mà
bé còn đến những nơi vực sâu núi cao chưa được khám phá
Mấp mô triền núi đá
Trang 39_ Các tính từ: xanh, hồng, đen ngút đã góp phần làm cho hình ảnh được miêu tả trở nên sinh
động hơn
Xuân Quỳnh đã nói thêm cho các em hiểu về địa
lý vùng miền một cách đơn giản và cũng nhấn mạnh tinh thần tự giác và ý chí muốn khám phá thiên nhiên Tượng trưng cho một thế hệ trẻ
mới:” Không sợ gian lao, không ngại nguy hiểm, ham học hỏi và tìm tòi”
Trang 40Con mang về cho mẹ
Ngọn gió của trăm miền
_ “Tuổi ngựa” phải đi nhưng bé vẫn quay về cùng
mẹ và còn mang theo quà tặng mẹ
_ Món quà của mẹ chính là những điều mà bé đã trải qua ở từng vùng đất khác nhau như gió
xanh, gió hồng, gió đen
Sự gần gũi, thân mật đối với mẹ thông qua từng câu chuyện của bé Thể hiện ý chí, tinh thần
vượt khó, không ngại hiểm nguy
Trang 413) Thế giới xung quanh con mắt trẻ thơ của bé
Ngựa con sẽ đi khắp Trên những cánh đồng hoa
Loá màu trắng hoa mơ Trang giấy nguyên chưa viết
_ Ngựa con chính la cậu bé” tự do và hăng hái
Cậu muốn “ đi khắp”, khám phá tất cả những điều hay điều lạ
_ Cậu rong ruổi khắp nơi, từ những cánh đồng hoa đầy màu sắc, cậu ngỡ nàng như lạc vào cơn mơ
Trang 42_ “Lóa”: do tác động của ánh sáng có cường
độ mạnh nên làm cho thị giác bị rối loạn
_ Nhưng điểm đặc biệt ở đây chính là mặc dù bị
lóa mắt nhưng màu trắng ấy thật đẹp bởi lẽ nó là màu trắng hoa mơ
Cậu đã khám phá ra những vẻ đẹp mà cậu chưa bao giờ biết đến và cũng không có một trang vở nào diễn tả hết vẻ đẹp ấy
Trang giấy nguyên chưa viết
Trang 43Con làm sao ôm hết Mùi hoa huệ ngọt ngào Gió và nắng xôn xao Khắp đồng hoa cỏ dại
_ “làm sao ôm hết”: thế giới rộng lớn với biết bao
vẻ đẹp, hương thơm của cuộc đời
Nghệ thuật nhân hóa, không gian rộng lớn bé có thể nghe được tiếng nắng và gió đang rong
chơi, thả hồn cùng nhau trên khắp cả cánh đồng hoa tươi đẹp ấy Giọng thơ vui tươi pha lẫn bất ngờ
Trang 444) Tình thương của con dành cho mẹ
Tuổi con là tuổi ngựa
Nhưng mẹ ơi đừng buồn
_ Lời an ủi, dỗ dành mẹ hết sức ngây thơ và dễ thương của cậu bé
_ Giọng thơ nhẹ nhàng và tha thiết được thể hiện qua từ “ đừng buồn” và cách gọi mẹ truyền cảm của cậu bé” mẹ ơi”
Trang 45Dẫu cách núi cách rừng Dẫu cách sông cách bể _ Điệp từ” dẫu” làm cho giọng thơ trở nên trầm lại,
không vui tươi, không đầy bất ngờ như khổ thơ phân tích trước
_ “Cách núi, cách sông, cách rừng, cách bể”:
khoảng cách của cậu bé bây giờ ở rất xa với
muôn trùng hiểm trở của sông, của núi, của
rừng, của biển
Lòng dũng cảm của cậu bé
Trang 46Con tìm về với mẹ Ngựa con vẫn nhớ đường _ 2 câu thơ thể hiện tình cảm của cậu bé dành cho
mẹ hết sức rõ ràng Cho dù cậu đi bao xa, bao lâu, thấy được bao nhiêu cảnh đẹp thì trong lòng vẫn luôn nhớ đến mẹ, vẫn “tìm về với mẹ”.
_ “Vẫn” nhấn mạnh điều đó Cậu luôn “nhớ
đường” đồng nghĩa với việc nhớ quê hương, gia dình và trên hết là hình ảnh người mẹ dấu yêu.
Trang 475) Kết luận
a) Nghệ thuật
_ Nghệ thuật nhân hóa khéo léo, dùng phép đối
đáp để xây dựng bài thơ
_ Ngòi bút ngây thơ, trong sáng thể hiện được
những nét tinh nghịch cũng như thể hiện
những niềm vui, nỗi buồn một cách hài hòa,
phù hợp với tuổi thơ
_ Giọng thơ có sự biến đổi từ những cung bậc tình
cảm, suy nghĩ khác nhau
Trang 48b) Nội dung
_ Giải thích thêm cho các em biết về các hiện
tượng tự nhiên
_ Kích thích sự tìm tòi, ham học hỏi ở các em
_ Giúp các em hiểu thêm về tình yêu của mẹ dành cho mình và qua đó cũng hình thành 1 đức tính tốt ở các em, đó chính là “ Hãy thương yêu và dành tình cảm cho mẹ nhiều hơn”
_ Giáo dục tinh thần yêu quê hương, Tổ Quốc cho các em
Trang 49PHÂN TÍCH THÊM VỀ NHÀ THƠ
BẾ KIẾN QUỐC
Trang 50GIỚI THIỆU TÁC GIẢ- TÁC PHẨM 1) Tác giả
_ Ông sinh 19/5/1949, quê quán Hà Nội
_ Bút danh: Chung Ngọc Tử, Đặng Thái Minh _1970: tốt nghiệp đại học Tổng hợp Hà Nội,
ngành Ngữ văn Ông làm công tác văn hóa thông tin ở Hà Tây, sau đó chuyển về công tác tại Tuần báo Văn Nghệ
_ Ông tham gia khóa cao cấp rút gọn của Học
viện Văn học Gorki, lớp viết văn ngắn hạn của Hội Nhà văn Việt Nam
Trang 51_ 1981: ông là hội viên Hội văn nghệ Việt Nam và từng là trưởng ban thơ của tuần báo Văn nghệ _ Ông đã được nhận giải nhì cuộc thi thơ của tuần
báo Văn nghệ năm 1969 (bài thơ Những dòng
sông) Giải thưởng cuộc vận động viết về
thương binh liệt sĩ(1973) Giải thưởng cuộc thi sáng tác cho thiếu nhi(1979 và 1985) Giải
thưởng cuộc thi viết về tài trí Việt Nam(1995 –
1996) của tạp chí Thế giới mới, giải thưởng cuộc thi ký của báo Sài gòn Giải phóng(1985), và
cuộc thi ký của Đài Tiếng nói Việt Nam(1986)
_Ông mất vào ngày 25/6/2002, tại bệnh viện
Hữu nghị Việt Xô vì bệnh ung thư phổi
Trang 522) Tác phẩm
_ Chú ngựa mã sao (truyện thơ thiếu nhi,
Trang 53CHỮ VIẾT TAY
BẾ KIẾN QUỐC
Trang 54KHẢO SÁT CÁC TÁC PHẨM CỦA ÔNG
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC
1) Ngày hôm qua đâu rồi- Bế Kiến Quốc( trang
10-SGK lớp 2/tập 1)
2) Bài hát trồng cây- Bế Kiến Quốc( trang
109-SGK tập 2)
Trang 55PHÂN TÍCH BÀI THƠ:” NGÀY HÔM QUA
ĐÂU RỒI”
Em cầm tờ lịch cũ
Ngày hôm qua đâu rồi
Ra ngoài sân hỏi bố
Xoa đầu em, bố cười
Ngày hôm qua ở lại
Trên cánh hoa trong vườn
Nụ hồng lớn lên mãi
Đợi đến ngày tỏa hương
Ngày hôm qua ở lạiTrong hạt lúa mẹ trồngCánh vàng chờ gặt háiChín vàng màu ước mong
Ngày hôm qua ở lại Trong vở hồng của conCon học hành chăm chỉ
Là ngày qua vẫn còn
Trang 561) Sự ngây ngô của bé
_ Bài thơ bắt đầu bằng một câu hỏi hết sức ngây
ngô của bé
Ngày hôm qua đâu rồi?
_ Giọng thơ có chút gì nuối tiếc pha thêm chút
buồn thể hiện tâm trạng của bé khi cầm tờ lịch
cũ trên tay
Thể hiện sự ham học hỏi, muốn khám phá của
bé đồng thời ông khuyến khích các em đặt
câu hỏi với những sự việc xung quanh
Trang 57_ Người giải đáp thắc mắc của bé không ai xa lạ,
đó chính là bố
Ra ngoài sân hỏi bố
_ Trong mắt bé, bố là người có thể giải thích được tất cả vấn đề bé đặt ra, và mỗi lần bé đều cảm thấy thích thú trước câu trả lời của bố
_ Giọng thơ nhanh, có chút vội vã đã gợi lên cho người đọc hình ảnh cậu bé nhỏ cầm tờ lịch và chạy nhanh ra sân tìm bố