1 THỰC VẬT DÂN TỘC HỌC Mở đầu Từ thuở ban đầu của nền văn minh con người đã biết sử dụng các loài thực vật để làm thuốc Ngay từ thời Neanderthal thực vật đã được cho là có t.
Trang 1Vai trò của thực vật trong cuộc sống là rất lớn, loài người không thể tồn tại trên hành tinh nếu không có thực vật Rất nhiều tài liệu đã ghi nhận chức năng và giá trị sử dụng của hàng ngàn loại thực vật và hàng ngàn tập sách đã được xuất bản Trong những năm gần đây, khoa học đã nhận thức được vai trò cơ bản của thực vật trong nhiều nền văn hóa Tại sao vậy? Thực vật dân tộc học có nhiệm vụ trả lời cây hỏi này
Thực vật dân tộc học (Ethnobotany) là gì?
TVDTH là môn khoa học nghiên cứu về cách thức con người của một nền văn hóa nói riêng hay một vùng, một khu vực địa lý nói riêng, sử dụng các loài thực vật bản địa để phục vụ cuộc sống Nhà thực vật dân tộc học là những người tìm hiểu cách thức các loài thực vật được sử dụng cho những mục đích như thức ăn, chỗ ở, thuốc men, quần áo, săn bắn, và nghi lễ tôn giáo, v.v của những nền văn minh, vùng hay khu vực địa lý đó Hay nói cách khác, thực vật dân tộc học là chuyên ngành nghiên cứu về tri thức truyền thống hay tri thức dân gian (tri thức bản địa)về khai thác và sử dụng các loài thực vật trong cuộc sống ở các vùng địa lí khác nhau hay ở các nhóm người, các dân tộc khác nhau Nói chung thực vật dân tộc học là khoa học nghiên cứu những tác động qua lại giữa con người và cây cỏ
Để nghiên cứu tương tác giữa con người và cây cỏ có khi cần kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau như thực vật học, địa mạo, sinh thái và thảm thực vật rừng, hóa học, v.v Do vậy đôi khi cần đến một nhóm các nhà khoa học làm việc với nhau cho cùng một mục đích Các nhà thực vật thu thập và xác định mẫu cây cỏ, các nhà xã hội học nghiên cứu tên địa phương, tập quán dân tộc, v.v các nhà sinh thái nghiên cứu và mô tả điều kiện sinh thái, các nhà hóa học phân tích thành phần hóa học ở mẫu thu được, các nhà kinh tế học nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế, v.v Tuy nhiên, không phải lúc nào các nhà khoa học ở các ngành khác nhau cũng được làm việc cùng nhau trong một thời gian Chính vì thế các nhà thực vật dân tộc học cần phải nắm được phương pháp thu thập mẫu vật và các thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình để có thể làm việc độc lập tại các vùng nghiên cứu; và chỉ có những nhà thực vật dân tộc học tiếp xúc trực tiếp với dân tộc
Trang 2Các kiến thức trong chuyên đề cũng có thể giúp các bạn thiết kế các đề cương dự án về thực vật dân tộc học
Chuyên đề bao gồm: 10 chương
Chương I THU THẬP DỮ LIỆU VÀ KIỂM ĐỊNH GIẢ THIẾT
1.1 Chọn phương pháp nghiên cứu
- Xác định mục tiêu
- Chọn phương pháp: xác định thời gian đi thực địa, bố trí theo mùa vụ, xen kẽ thời gian thực địa và thời gian trong phòng thí nghiệm
1.2 Sáu chuyên ngành tham gia nghiên cứu trong nghiên cứu TVDT học
Có 4 thành tố chính tác động lẫn nhau trong thực vật dân tộc học:
+ Thu thập tài liệu cơ bản về tri thức cây cỏ truyền thống
+ Lượng giá việc sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên thực vật
+ đánh giá thực nghiệm các nguồn lợi thu được từ cây cỏ, bao gồm cả mục đích mưu sinh và mục đích thương mại
+ Các dự án ứng dụng nhằm nâng cao tối đa giá trị các tri thức sinh thái mà người dân có được và các nguồn tài nguyên cửa học
Sáu lĩnh vực nghiên cứu liên: Thực vật học, dược học, nhân học, sinh thái học, ngôn ngữ học, hóa sinh và kinh tế học
1.3 Đánh giá nhanh thực vật dân tộc học
Do điều kiện thời gian giới hạn, các phương pháp đánh giá nhanh được thực hiện: + Làm ô tiêu chuẩn: có thể có các ô tiêu chuẩn kích thước khác nhau, 100 m2, 500 m2 hay 1000 m2 Sau đó đếm cây, phân chia cây gỗ, phi gỗ, v.v., định loại tên khoa học
+ Phương pháp PRA điều tra thông qua phỏng vấn có sự tham gia của cộng đồng
dân bản địa:
Chuẩn bị: các thông tin về bản đồ, hệ thực vật, hệ động vật và phân tích thảm thực
vật, thống kê dân số, các báo cáo về sử dụng rừng, v.v
Thành lập đội nghiên cứu liên ngành: ngôn ngữ học, thực vật học, nhân chủng học Đảm bảo sự tham gia của cộng đồng: đề nghị chính quyền giới thiệu một số người
địa phương, chuyên gia sử dụng nguồn tài nguyên và những người có thể làm việc với đội đánh giá
Trang 33
Lựa chọn các kỹ thuật đánh giá: tập trung vào các phương pháp sẽ đem lại nhưng
thông tin mà bạn cần cho việc đánh giá hơn là thăm dò nhiều kỹ thuật một lúc Chỉ nên thu thập dữ liệu vừa đủ giúp bạn đánh giá các mô hình sử dụng tài nguyên hoặc tri thức sinh thái ở địa phương hơn là cố gắng tìm hiểu thật sâu một chủ đề cụ thể Lựa chọn phương pháp phân tích mà tất cả mọi người tham gia có thể hiểu được và không phải tốn nhiều thời gian tính toán hay đòi hỏi thiết bị đắt tiền
Làm việc một cách hệ thống: Nhằm phục vụ cho các nhà nghiên cứu khác dễ dàng
tham khảo và phát triển các số liệu của bạn
1.4 Lập kế hoạch dài hạn
Sau khi đánh giá nhanh, tùy theo tình hình chúng ta có thể quyết định kế hoạch và thời gian làm việc để thu thập các dữ liệu thực vật dân tộc học:
+ Mẫu tiêu bản thực vật với đầy đủ thông tin sẽ được lưu giữ tại phòng tiêu bản thực vật
+ Thông tin về phân bố, sử dụng và quản lý
+ Tên cây theo tiếng địa phương: phải ghi chép đầy đủ, có thể phải thu băng tiếng địa phương (nếu cần)
+ Mẫu nguyên liệu để phân tích trong phòng thí nghiệm
+ Nhận thức và phân loại của dân địa phương về các khía cạnh bảo tồn, quần thể thực vật, đất, ranh giới địa lý vùng khí hậu
+ Ước tính giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên sinh vật, đặc biệt khi bạn có dự định so sánh lợi thế kinh tế của các mô hình sử dụng đất khác nhau
1.5 Mô tả địa điểm nghiên cứu
Các thông tin cần mô tả: Mô tả vùng đất, con người, tình trạng bảo tồn
+ Mô tả vùng đất:
Vị trí địa lý và bản đồ
+ Mô tả con người:
Kích cỡ và sự phân bố dân cư
Tiếng nói
Nguồn gốc dân tộc
Lịch sử định cư
Các nhóm hoặc tầng lớp xã hội chính
Hoạt động sản xuất Các cây trồng để ăn và bán Hệ thống sở hữu đất đat Tỉ lệ di cư/nhập cư
+ Mô tả tình trạng bảo tồn
Trang 44
Kích thước, tình trạng của các khu
vực được bảo vệ
Hạ tầng giao thông
Các thảm họa thiên nhiên và nhân tạo
Sự xâm lấn Tình trạng khai thác gỗ Luân canh
Du lịch tự nhiên Sự khai khoáng
1.6 Dữ liệu thực vật dân tộc học
1.6.1 Dữ liệu thực vật dân tộc học: Các thông tin về tác động qua lại giữa người dân địa phương và môi trường tự nhiên bao gồm: các bộ mẫu cây cỏ thu thập, hồ sơ các cuộc phỏng vấn, kết quả phân tích tại phòng thí nghiệm, ảnh, điều tra thị trường, v.v
1.6.2 Thu thập dữ liệu: Không bao giờ có thể thu thập được một bộ dữ liệu thực vật dân tộc hoàn chỉnh Tùy theo phạm vi hay chủ đề nghiên cứu mà chọn đối tượng thực vật cần điều tra, người cung cấp thông tin để thu thập thông tin và dữ liệu
Thu thập dữ liệu thực vật dân tộc học băng tiêu chuẩn phân loại dân dã: là các tiêu chuẩn được rút ra từ cách nhận thức của người dân về sự vật, hiên tượng theo nhãn quan và ngôn ngữ của chính họ
Tiêu chuẩn phân loại giả: được rút ra từ cách nhận thức và phân loại thế giới của các nhà nghiên cứu nhưng không nhất thiết là một phần của hệ thống phân loại dân gian địa phương
Các đơn vị đo lường
1.6.3 Tổ chức dữ liệu
Có thể tổ chức dữ liệu bằng các thẻ theo tên loài với đầy đủ các thông tin và có thể tra cứu chéo
Tổ chức dữ liệu bằng phần mềm máy tính
1.7 Trợ giúp bằng hình ảnh
1.8 Qui luật thông tin mới ngày càng giảm
1.9 Kiểm định giả thiết và lý thuyết
Chương II THỰC VẬT HỌC
2.1 Thu thập và định loại tên cây
2.1 Tiêu bản thực vật
Mẫu tiêu bản là cầu nối 2 phần thông tin giữa phân loại học thực vật học và khoa học dân tộc của tri thức bản địa Ví dụ một loài cây có tên gọi là A được dân tộc Dao sử dụng để làm thuốc tắm Qua phân loại học người ta xác định tên loài là Arisaema rhizomatum C Fischer Từ tên loài này người ta có thể biết nó được sử
Trang 5bộ phận khác
Mẫu tiêu bản thường được ép khô và đính trên 1 tờ giấy có độ cứng nhất định và kích thước khoảng 28,5 x 42 cm Góc bên phải là phần nhãn cung cấp các thông tin về mẫu tiêu bản đó
2.2 Lưu ý các địa điểm thu mẫu khác nhau
- Ghi chép các thông tin về điểm thu mẫu: Các thông tin về thảm thực vật ưu thế,
loại đất và độ chiếu sáng hoặc che bóng, độ dốc và hướng phơi (Đông, Tây, v.v.),
độ cao so với mặt biển hay khoảng cách so với một điểm mốc cố định, vị trí địa lý (GPS), bản đồ địa hình, tên địa phương
- Chọn điểm thu mẫu sao cho ít ảnh hưởng tới thảm thực vật và hoạt động sản xuất của người dân địa phương Khi thu thập trong các vùng bào tồn, cần cẩn thận không được nhổ các cây góp phần làm đẹp đường đi chính hoặc các khu vực có nhiều khách tham quan Dù thu ở khu nào hãy chú ý đừng làm mất đi những cây hiếm Chú ý không khi thu mẫu không làm nguy hại đến sự tồn tại của cây
- Thu thập gần các khu dân cư, cần tìm hiểu loại cây nào đang được người địa phương quản lý hoặc trồng trọt Chú ý tới những cây có ý nghĩa tôn giáo hoặc mọc ở những nơi thờ tự Không thu thập những cây nếu quan niệm địa phương không chấp nhận việc thu thập đó Ví dụ, một số người thu mẫu địa phương ở vùng Sierra Norte rất ngại thu thập những cây cà độc dược (Datura spp.) bởi nó vị coi là được sử dụng trong các phép phù thủy Nếu bạn thu thập các loại cây kiểu này một cách công khai dễ dẫn tới sự nghi ngờ về mục đích của bạn
- Chú ý thu thập ở những nơi rừng khai thác vì ta có thể thu được mẫu của những cây rất cao và các loại bì sinh trên các cây đó
- Việc thu thập mẫu vật còn được quyết định bởi mục tiêu nghiên cứu và sự đa dạng của thực vật địa phương Chú ý tới tên gọi, cách phân loại của dân địa phương
2.3 Thu mẫu
Chọn lựa phần cần thu thập của cây Yêu cầu 1 mẫu tiêu bản thực vật là có thể trải
ra trên một tờ giấy kích thước 30 x 45 cm và mẫu phải mang các đặc điểm hình thái đặc trưng của loài
Các mẫu ép phải thể hiện được diện mạo chung của cây Nếu thu thập mẫu phục vụ cho thực vật dân tộc học thì cần phải thu thêm các thông tin về chế biến và sử dụng,
Trang 66
hoặc các bộ phận được sử dụng Các loài được phối hợp sử dụng hoặc các loài cùng sinh sống với loài cây này (đặc biệt ở các loài ký sinh, bì sinh)
Các dụng cụ thông thường trong thu mẫu thực vật:
- GPS, bản đồ: dùng để xác định vị trí thu mẫu và các thông tin địa lý
- Sổ ghi chép ngoài thực địa và bút không phai
- Kéo cắt cây, dao, dụng cụ đào (cuốc, thuổng, v.v.), kéo cắt cành cao
- Cặp thu mẫu: trước đây người ta thường dùng túi để thu mẫu, mẫu sau khi được thu theo kích thước tiêu chuẩn đề có thể ép vừa tờ báo gấp tư (có đánh số) được đựng trong túi thu mẫu Tuy nhiên những dạng túi này thường khó mang vác trong điều kiện thực địa Hiện tại người ta hay dùng cặp thu mẫu Cặp này có cấu tạo giống như quyển vở mở ra, mỗi trang vở lại là một túi để có thể chứa một tấm bìa hay tấm gỗ dán làm cho có độ cứng; 2 mép trên và dưới hẹp lại nhưng dài ra và có thể gập lại; mép ngoài thẳng và rộng vừa phải; người ta sử dụng 1 trang quyển vở để đựng báo, còn trang kia dùng để ép mẫu thu được trong quá trình làm việc ở thực địa; túi có quai đeo vai và có thể đeo lưng khi cần phải đi bộ đường dài Cấu tạo theo hình vẽ (???)
- Eteket: Tốt nhất ở ngoài thực địa do không có nhiều thời gian nên etekets chỉ đánh số theo sổ mô tả Các thông tin về mẫu được ghi trong sổ mô tả và sau này theo số hiệu của eteket mà tra ra các thông tin
- Túi thu mẫu: Ngoài cặp thu mẫu, chúng ta vẫn nên mang kèm túi nilon để thu các mẫu nguyên liệu hay các mẫu khó ép như củ hay quả mọng nước Đặc biệt các túi lưới bằng sợi nilon dung để thu mẫu nguyên liệu rất tốt vì có độ thoáng
- Thước: có thể mang thước dây hoặc thước gấp để đo các thông tin như đường kính cây hoặc các bộ phận sẽ bị biến dạng khi khô
- Máy ảnh: Ghi lại hình ảnh của thực vật ngoài thiên nhiên Ngày nay, các máp ảnh ký thuật số rất tiện lợi để thu lại hình ảnh cây ngoài thực địa Có nhiều loại máy ảnh khác nhau
- Găng tay: Ngoài thực địa, đôi khi ta cũng phá sử dụng tới găng tay khi thu mẫu các loài song mây (gai) hay thực địa ở vùng núi đá vôi để leo bám
Mẫu tiêu bản thực vật dân tộc học Dân tộc: Tên địa phương nơi thu thập:
(các cây đều ghi chiều cao, riêng gỗ ghi thêm đường kính)
Hình dạng cây:
Tên địa phương:
Nghĩa tên cây:
Sử dụng:
Chế biến
Sử dụng:
Chế biến
Ghi chú khác về sử dụng và chế biến
Tên người cung cấp thông tin:
Trang 77
Bảng 1 Một kiểu mẫu cho 1 trang sổ ghi chép ngoài thực địa
- Sổ ghi chép: Có loại sổ mô tả là dùng chuyên cho thu mẫu phân loại thực vật Ở mỗi trang, người ta đã định dạng sẵn các thông tin cần thu được và người thu mẫu chỉ cần điền vào Sổ này có ưu điểm là các thông tin đã được định dạng sẵn nên các mục thông tin ít khi bị bỏ sót Nó có hạn chế là tốn giấy (vì nhiều mục không có thông tin đành bỏ trống), do định dạng trước nên nhiều mục thông tin thừa chỗ, nhiều mục lại không đủ chỗ viết, ghi chép mất nhiều thời gian Ngoài sổ mô tả chúng ta cũng cần những sổ nhỏ để ghi chép những thông tin cần thiết khác không phục vụ cho công tác phân loại
Có thể sử dụng các sổ ghi chép thông thường, ghi chép cẩn thận và đánh số từng mẫu hoặc dùng để ghi nhật ký Đối với các nhà thực vật dân tộc học những sổ trắng dường như có tác dụng hơn vì những thông tin về sử dụng, cách chế biến hay khai thác thường không có giới hạn nhất định, vì vậy người ta có thể ghi dài hay ngắn theo lượng thông tin thu được Bảng 1 là một kiểu mẫu cho 1 trang sổ ghi chép ngoài thực địa
2.4 Các dụng cụ bảo quản mẫu ngoài thực địa
Mẫu ghi chép thông tin dân tộc học thực vật
Tên địa phương của cây (do người địa phương cung cấp): Ghi rõ ràng, đánh vần từng chữ cái để có thể đọc được
Nghĩa tên cây:
Đặc điểm nhận dạng của người dân địa phương:
Giá trị sử dụng 1:
Cách chế biến:
Giá trị sử dụng 2:
Cách chế biến:
Ghi chú khác về sử dụng và chế biến
Các thông tin về người cung cấp thông tin:
Trang 88
- Dao: dao dung để thái, chặt các mẫu nguyên liệu
- Cưa: loại cưa tay có thể gấp lại
- Dụng cụ để đào: thuổng, cuốc Dùng để thu mẫu rễ hay củ làm nguyên liệu phân tích hoá
Việc thu thập các mẫu không mang các bộ phận sinh sản nên chú ý là rất khó trong định loại tên khoa học vì vậy rất hạn chế Khi thu những mẫu này cần chú ý vào những đặc điểm đặc trưng của cây, chụp ảnh cây và các bộ phận một cách chi tiết có thể giúp các nhà phân loại định loại cây
2.5 Thu thập các mẫu gỗ và vỏ cây
Mục đích thu thập: mẫu gỗ và vỏ cây dùng để xác định các đặc điểm nhận dạng của loài được dùng để làm đồ tạo tác nào đó, để xây dựng dữ liệu về giải phẫu gỗ, và để định loại tên cây
Để xác định gỗ cần phải có nhà giải phẫu gỗ Để xây dựng tài liệu về cấu trúc và chất lượng của một loại gỗ chưa từng được nghiên cứu trước đó, cần tìm ra được loại cây này trên thực địa, thu mẫu mang bộ phận sinh sản và lấy mẫu một khúc gỗ trưởng thành kèm theo mẫu vỏ cây
Nếu phải lấy mẫu gỗ từ một dụng cụ được chế tạo từ gỗ, hãy cẩn thận để không làm mất vẻ đẹp của vật dụng đó hay lẫy mẫu từ các vật dụng tương tự nhưng đã bị hỏng hoặc bỏ đi Nhớ rằng, nếu đến thực địa cùng với một chuyên gia địa phương bạn sẽ thu thập được nhiều thông tin hơn như là cây này được chặt từ khi nào, ở đâu, cách phơn khô và chế tạo, v.v
Theo Ben J.H Welle, một nhà giải phẫu gỗ Hà Lan, mẫu vỏ cây được thu theo kích thước sau: 1,5 x 1,5 x 1,5 cm; mỗi mẫu cần kèm theo một chút gỗ vì phần tượng tần có thể cung cấp thêm một số thông tin Mẫu cần được bảo quản trong cồn 70% hoặc dung dịch FAA
Mẫu gỗ cần chứa gỗ trưởng thành với kích thước: 12 x 8 x 4 cm; nếu là cây gỗ nhỏ hay cây bụ hoặc thảo có phần gốc hóa gỗ thì lẫy từ phần thân chính một mẫu dài khoảng 12 cm là đủ
Bảo quản các mẫu gỗ khá đơn giản vì nó ít bị ảnh hưởng bởi nấm mốc, nhưng tránh làm khô quá nhanh
Chương IV Dược lý học dân tộc và các lĩnh vực liên quan
4.1 Nhiệm vụ của nghiên cứu dược lý học dân tộc
Dược lý dân tộc học là việc mô tả các đặc tính y học trong các bài thuốc dân gian của địa phương Nó cũng tập trung nghiên cứu cách lựa chọn, chế biến, sử dụng các cây làm thuốc để phòng và chữa bệnh trong nhân dân địa phương Phương pháp này có sự kết hợp sức mạnh của các ngành hóa học, thực vật học, nhân học và đòi hỏi các nhà nghiên cứu dược lý dân tộc học phải cân đối thời gian
Trang 99
cho công việc phòng thí nghiệm và trên thực địa Để lựa chọn cây phân tích hóa học còn phải hợp tác với những người dùng cây cho mục đích đặc biệt như thầy lang, bà hàng lá, thợ săn, người đánh cá, những người có kiến thức kinh nghiệm về các hợp chất hóa học bằng cách nếm và ngửi cây, quan sát những tác dụng của cây thuốc trên bệnh nhân và nhận ra mối liên quan giữa hình thái và hiệu quả chữa bệnh của cây Do có mối quan hệ gần với cư dân địa phương, một số nhà nghiên cứu thuốc dân tộc tìm cách áp dụng hiểu biết và phát hiện của nhân dân để góp phần cải thiện sức khỏe cộng đồng nơi họ làm việc
Mặc dù việc nghiên cứu những đặc tính y học gây sự chú ý nhiều nhất, một vài nhà nghiên cứu lại quan tâm tới thành phần hóa học khác trong các cơ thể sinh vật Các nhà hóa học dinh dưỡng đo lường các chất dinh dưỡng khác nhau trong thwujc vật và động vật dùng làm thức ăn để xác định mức độ đáp ứng khẩu phần ăn cần thiết Học có thể quan tâm tới thức ăn truyền thống cảu dân địa phương, tiến hành phân tích cây thực phẩm hoang dại và nuôi trồng chưa được ác nhà dinh dưỡng học khác nghiên cứu Các nhà sinh thái – hóa học nghiên cứu ảnh hưởng của các hợp chất sinh học và mối quan hệ giữa thực vật và động vật, đặc biệt lưu ý tới sự tác động lẫn nhau giữa thực vật và côn trùng Nghiên cứu loại này khích lệ các nhà thực vật dân tộc học tìm hiểu chế độ ăn của người và thuốc được cải tiến thế nào tùy thuộc vào thành phần và hàm lượng của những chất này đã bị biến đổi như thế nào trong quần thể thực vật do con người quản lý
Trong khi các nhà dược liệu và các nhà dược lý dân tộc học tập trung vào khía cạnh sức khỏe và dinh dưỡng, thì các nhà hóa học các hợp chất tự nhiên nghiên cứu trên phạm vi lớn các hợp chất sinh học bao gồm mủ và nhựa dùng trong công nghiệp, các loại tinh dầu dùng làm hương liệu và các chất khác có các ứng dụng phong phú Các nhà hóa học có mối quan tâm đặc biệt về nông nghiệp tập trung nghiên cứu các thuốc trừ sâu thiên nhiên cũng như các dưỡng chất đa lượng có trong cây làm “phân xanh” để tăng độ phì của đất Các nhà nghiên cứu khác đi sâu vào các chất gây ảo giác và các chất gây ngủ dùng trong các buổi lễ nghi tôn giáo hoặc để thư giãn, cũng như các chất độc tự nhiên mà con người sử dụng trong săn bắt, đánh cá và các hoạt động khác
4.2 Các phương pháp lẫy mẫu dược học dân tộc
Thu mẫu ngẫu nhiên: là phương pháp thu bất cứ thực vật nào có thể thu thập để đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng Ưu điểm của phương pháp này là có thể lấy mẫu đa dnagj và nhanh chóng thu gom được một lượng lớn Nhược điểm là chỉ có thể thu được một tỷ lệ thấp những mẫu thực sự có hoạt tính dinh học và dược lý học Phương pháp này chỉ dùng khi có kinh phí lớn và phương tiện để sàng lọc một số lượng lớn các mẫu Nhưng kết quả của nó là sự đánh giá khái quát tỷ lệ các cây có hoạt tính sinh học đang được người dân sử dụng
Trang 1010
Phương pháp thu mẫu theo nhóm hóa học: là phương pháp dựa trên các nhóm hoạt chất hóa học thường phân bố, khu trú theo các nhóm thực vật Ví dụ các loại flavonoid nhóm izoflavone phổ biến trong các cây học đậu Fabaceae Trong số > 5.500 alkaloid đã biết, nhiều loại chỉ có duy nhất ở một chi hay một phân họ Ví dụ chỉ có duy nhất một alkaloid được tìm thấy trong nhiều loài của học Gạo – Bombaceae đã được sàng lọc, nhưng những học như Cà – Solanaceae, Rubiaceae và Rannunculaceae là nguồn cung cấp hàng trăm loại alkaloid khác nhau
Cách để tăng tỷ lệ thành công là sử dụng phương pháp dược dân tộc học, chọn những cây được dân địa phương dùng làm thuốc Đó là phương pháp mà hầu hết các nhà thực vật dân tộc học sử dụng, bởi vì nó làm một cách tốt nhất để kiểm tra tính hiệu quả và độ an toàn của các bài thuốc địa phương
4.3 Thu thập mẫu cây để phân tích hóa thực vật
Ngoài các mẫu tiêu bản, để phân tích thành phần hóa học chúng ta cần thu một số lượng mẫu nguyên liệu để phân tích hóa học Khối lượng cần thu thập thường theo yêu cầu tối thiểu và tối đa (có thể lên tới hàng kilogam) của các chuyên gia hóa học Cũng cần lưu ý về sự chênh lệch về trong lượng giữa mẫu tươi và mẫu khô, thường mẫu tươi có trọng lượng gấp 3-10 lần mẫu tươi tùy theo loài Lựa chọn địa điểm, thời điểm và quần thể thực vật Sự phân bố địa lý khác nhau ở cùng một loài có thể có các thành phần hóa học khác nhau Khi thu mẫu cần chú ý:
- Liệu quần thể đó có đủ để thu thập mẫu nguyên liệu không
- Tránh thu thập các loài hiếm (cân nhắc tới sự bảo tồn loài)
- Khi thu hái lưu ý tới việc đảm bảo cây có thể tái sinh sau thu hái (không thu hái theo kiểu triệt hạ
Sau khi thu thập, các bộ phận của cây thường được cắt nhỏ để dễ bảo quản và không chiếm diện tích
Bảo quản mẫu nguyên liệu: Có các cách bảo quản mẫu nguyên liệu khác nhau
trước khi chuyển giao cho các nhà phân tích hóa Thường có 4 cách: tươi, đông lạnh, khô và bảo quản hoặc chiết trong cồn Thường cách bảo quản được thực hiện theo yêu cầu của các nhà phân tích hóa
Ghi chép ngoài thực địa: Cần lưu ý nhãn mẫu nguyên liệu và nhãn mẫu tiêu
bản phải cùng một số hiệu trên cùng một cây hay một loài Nhãn mẫu nguyên liệu cần bổ sung một số thông tin sau: cách bảo quản mẫu (dung môi bảo quản, thời gian làm khô, v.v.); điều kiện môi trường đặc biệt nơi thu mẫu, ví dụ như ở vùng nhiễm xạ, gần nhà máy hóa chất, v.v.; độ trưởng thành của cây; thời điểm thu mẫu trong ngày (sáng, trưa, tối); các thông tin khác như mùi vị của hoa, lá, quả, vỏ cây, v.v cũng cần được ghi chép
Đặc biệt cần lưu ý ghi chép các phương pháp thu hái, chế biến, bảo quản và sử dụng của người dân địa phương
Trang 1111
Chương V Dân tộc học
Dân tộc học ở đây có nghĩa là các phương pháp khai thác tri thức và sử dụng tri thức dân tộc thực vật học trong nghiên cứu
Cách thu thập thông tin về dân tộc học thường tùy theo năng khiếu của mỗi người, tuy nhiên tính chuyên môn hóa và tính xác thực của thông tin cần phải có những kỹ năng
4.1 Lựa chọn đối tác địa phương
Ai là người sẽ được bạn hỏi để khai thác thông tin?
Tùy theo các nhu cầu, mục đích của từng đề tài, dự án mà các đối tượng khai thác thông tin sẽ khác nhau
Đề tài về cây thuốc, bài thuốc: Đối tượng để hỏi sẽ là các thầy lang, bà mế hay những người thường sử dụng cây thuốc và khai thác cây thuốc ở từng địa phương Đề tài về cây trồng: Đối tượng sẽ là những người nông dân địa phương, những cán
bộ hội nông dân, cán bộ hội phụ nữ, v.v
Đề tài về thực vật liên quan tới tín ngưỡng: thầy cúng, già làng, trưởng bản, hay các
sư sãi hoặc là người giữ đền, chùa, miếu mạo
Dưới đây là một vài biến số xã hội học dùng để mô tả các thành viên địa phương trong một nghiên cứu về dân tộc học:
4.2 Xây dựng mối quan hệ
Việc xây dựng mối quan hệ với người dân địa phương là việc làm rất quan trọng và phải hết sức thận trọng Vì chính những người dân địa phương là những người cung cấp cho chúng ta những thông tin về dân tộc và thực vật dân tộc Việc xây dựng mối quan hệ cần theo các nguyên tắc: thận trọng, cởi mở, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, đẳng cấp, văn hóa, hay vi phạm các phong tục tập quán của địa phương, v.v Nhiều khi phải xây dựng mối quan hệ dựa trên quyền lợi kinh tế
4.3 Đánh giá độ tin cậy của thông tin thu được
Để đánh giá khách quan và tính trung thực của thông tin thu được, trước hết chúng
ta phải gạt bỏ những ý nghĩ chủ quan của mình về các thông tin đó Vì vậy cần
Phiếu điều tra dân tộc học Họ và tên người được phỏng vấn:
Nơi sinh: Nghề nghiệp: Số con:
Số người trong hộ: Thu nhập TB:
Số thế hệ:
Trình độ văn hóa:
Khả năng ngôn ngữ:
Trang 1212
tránh các câu hỏi có tính chất khêu gợi câu trả lời nhằm củng cố các nhận xét hay kết luận có sẵn của mình Nhấn mạnh những kiểu tương tác mà trong đó đối tác địa phương có cơ hội tự diễn đạt bằng tiếng nói của chính học, không hề khiên cưỡng Cách đặt câu hỏi tốt luôn nhận được những câu trả lời mang nhiều thông tin Không nên đặt ra các câu hỏi phân đôi rạch ròi, ví dụ: có hay không, đúng hay sai, ở đây hay ở đàng kia Các câu hỏi này làm cho người trả lời hạn chế một trong hai tình huống Rất có thể sự thật lại nằm giữa 2 khả năng Đặc câu hỏi mở cho phép người trả lời cung cấp thông tin hay hiểu câu hỏi theo cách của mình Ví dụ khi hỏi về một loài cây để biết thông tin chữa bệnh của cây, nếu ta hỏi: “cây A có khả năng làm thuốc hay không?” Người trả lời có thể trả lời là “có” hoặc “không” và ta chỉ biết được thông tin cây A có hoặc không có khả năng làm thuốc Nhưng nếu ta hỏi
“cây A thường được sử dụng vào việc gì? Thì người được hỏi có thể trả lời về giá trị làm thuốc hay các giá trị khác của cây
Vì nhiều lý do, có nhiều người cung cấp thông tin không chính xác hoặc không trung thực Để có thể biết được tính chính xác bạn phải là người có kinh nghiệm Tuy nhiên chúng ta cũng có thể kiểm tra độ xác thực của câu trả lời bằng phương pháp kiểm tra chéo, tức là cùng một thông tin chúng ta cần tới 2 hoặc 3 người cung cấp hoặc các thông tin nhận được có trùng với kết quả thu được bằng phương pháp khác hay không
4.4 Đối thoại mở
Đó là cuộc nói chuyện phỏng vấn về một mục đích không cụ thể hoặc gián tiếp để
đi tới mục đích cụ thể Trực giác và kinh nghiệm của bạn sẽ là những yếu tố cần thiết để có thể thiết lập một cuộc đối thoại mở Có thể câu chuyện ban đầu hoàn toàn không liên quan tới thực vật dân tộc học Nhưng qua câu chuyện đối thoại bạn
sẽ thấy các chủ đề liên quan tới nông nghiệp, thảo dược v.v sẽ xuất hiện một cách tự nhiên Qua đó bạn có thể cảm nhận được những điều cần hỏi Khi mọi người biết bạn đang quan tâm tới điều gì thì cuộc thảo luận sẽ dân hướng tới nội dung về thực vật dân tộc học Những cuộc đối thoại mở này nhiều khi xuất hiện rất ngẫu nhiên khi bạn tới thăm những người dân, tham gia một lễ hội ở địa phương, hay một buổi
đi chợ địa phương, v.v
Thông thường trước khi phỏng vấn bạn thường ghi sẵn một số câu hỏi nhưng trong cuộc phỏng vấn thường phát sinh các câu hỏi khác liên quan tới chủ đề hoặc nội dung bạn đang tìm hiểu Vì thế cần ghi lại tất cả những câu trả lời một cách cẩn thận Nhiều chuyên gia còn dùng cả máy ghi âm để ghi lại cuộc nói chuyện hay phỏng vấn Tuy nhiên cách này cũng có những hạn chế vì làm người được hỏi ngại ngùng khi bạn ghi âm và bạn lại mất thời gian để nghe lại
Chương VI Sinh thái học
Trang 1313
Chương VII Kinh tế học
7.1 Kinh tế và thực vật dân tộc học
Đánh giá giá trị kinh tế luôn có một vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu về giá trị sử dụng thực vật của dân địa phương, đó là kinh tế thực vật học Việc đánh giá giá trị tài nguyên thực vật phải dựa trên giá trị kinh tế để qua đó đóng góp cho sự phát triển cộng đồng và quốc gia
7.2 Giá trị của môi trường
Khi đánh giá giá trị tài nguyên thiên nhiên các nhà kinh tế chia ra hai loại tài
nguyên: tài nguyên không tái sinh được và tài nguyên tái sinh được Tài nguyên
không tái sinh được như than đá, dầu mỏ phải mất nhiều ngàn năm mới hình thành được Trong khi tài nguyên tái sinh được có thể tái sinh trong vòng ít năm hoặc vài thế hệ Thực vật và động vật là tài nguyên tái sinh được nhưng khả năng duy trì chúng lại tùy thuộc cách khai thác và quản lý chúng Sự khai thác quá mức có thể làm cho một số loài mất giá trị thương mại (suy giảm số lượng quá lớn) thậm chí làm chúng tuyệt chủng
Các nhà sinh thái người Mỹ Paul và Mary Ehrlich, đã phân chia giá trị mà con người thu được từ thiên nhiên thành 4 loại:
Giá trị kinh tế trực tiếp: thức ăn, vật liệu xây dựng, cây thuốc và các sản phẩm khác
Giá trị gián tiếp: là những lợi ích có được từ các dịch vụ môi trường khác từ thực vật như điều hòa không khí, làm sạch nguồn nước, duy trì độ phì của nước và hấp thục các sản phẩm thải bỏ
Giá trị thẩm mỹ: tạo nên cảnh đẹp thiên nhiên, sự hấp dẫn về tính đa dạng của thiên nhiên
Giá trị đạo đức: Làm cho con người có niềm tin đơn giản rằng cuộc sống đang tồn tại
Tuy nhiên các nhà kinh tế học truyền thống thường chỉ đánh giá giá trị môi trường dựa trên giá trị kinh tế trực tiếp mà thôi
7.3 Giá trị lâm sản
Để đánh giá một cách đầy đủ các giá trị kinh tế của tài nguyên rừng thì hầu như các nhà thực vật dân tộc học chưa có khá năng đánh giá tất cả các thành phần giá trị này vì còn thiếu kiến thức phân tích kinh tế các lâm sản
Một gợi ý khá hay rằng khi chưa có bộ dữ liệu đầy đủ, cách tốt nhất để đo lường lợi nhuận và tính hấp dẫn tương đối của các cách sử dụng đất khác nhau (giá trị lâm
Trang 1414
sản) là khảo sát các cơ hội kinh tế mà người dân địa phương có được theo cách của họ
7.3.1 Tính giá trị các lâm sản trên các ô định vị
Một cách đánh giá giá trị của một khu rừng là so sánh tỷ lệ tiền thu hoặc lợi ích tài chính thu được từ các cách sử dụng vốn và lao động khác nhau Chúng ta có thể hỏi cách khai thác rừng nào sẽ đem lại thu nhập lớn nhất từ mỗi đơn vị đất – một đại lượng được các nhà kinh tế học gọi là tỷ lệ tiền thu từ đất Ví dụ, liệu có thu được nhiều lợi nhuận hơn không nếu chuyển một khu rừng thành bãi chăn thả gia súc hay chuyển nó thành một khu trồng cây lấy gỗ hoặc để tự nhiên mà thu hái các lâm sản phi gỗ? Kiểu phân tích kinh tế so sánh này đo lường được giá trị sử dụng trực tiếp từ các chiến lược sản xuất khác nhau – một phương pháp mà các nhà kinh tế học gọi là sự thay đổi phương pháp sản xuất
Các phân tích lợi nhuận của nông nghiệp hàng hóa các hoạt động trồng, khai thác
gỗ và chăn nuôi giá súc, dễ dàng tìm thấy trong các tài liệu Mặc dù, các nghiên cứu về khai thác tài nguyên rừng thường hiếm hơn Gần đây có một số nghiên cứu trường hợp cụ thể – như các nghiên cứu mô tả trong/// cho thấy các kỹ thuật khác nhau có thể được dùng để đánh giá giá trị các lâm sản phi gỗ
Bước thứ nhất là kiểm kê tất cả các sinh vật có ích trong một kiểu thảm thực vật nhất định Như đã nói ở chương sinh thái học, việc này thường được làm bằng cách định ranh giới một mảnh đất và thu nhập tài liệu về cây có ích trong phạm vi ranh giới đó Việc làm này cho phép suy rộng kết quả thu được cho một vùng rộng hơn nhiều Mặc dù hầu hết các nhà nghiên cứu chỉ đo các cây và cây leo có đường kính từ 10 cm trở lên, nhưng phương pháp có thể được sửa đổi để có thể bao gồm được nhiều loại thảo mộc, dương xỉ, nấm, cây bụi và các cây cỏ có giá trị làm thuốc làm cảnh và các công dụng khác Các kỹ thuật dùng để xác định số lượng động vật có trong rừng, mang lại hiểu biết đầy đủ hơn tầm cỡ các tài nguyên có giá trị thị trường hiện tại hay tiềm năng
Sau khi nắm được các tài nguyên sẵn có, bạn có thể tiến hành đo lường tiềm năng thu hái mỗi loài Như đã nói ở chương sinh thái học, phương pháp chính xác nhất là đếm hoặc cân trực tiếp quả, vỏ cây, lá hoặc nguyên liệu có thể bán được khác tạo ra hàng năm Các số đo từ một số cá thể thực vật hoặc quần thể thực vật được đo có thể tính trung bình rồi nhân với tổng số cá thể trưởng thành trong ô định vị
Cách khác có thể tính lượng sản phẩm có thể thu hái được có ở trong rừng là nói chuyện với những người thu hái Do họ bị lệ thuộc vào các lâm sản để sinh sống và
có thu nhập, nên nói chung họ hiểu biết chi tiết về mức độ lệ thuộc và sản lượng các loài khác nhau Để kiểm tra chéo các câu trả lời, bạn có thể vẽ một sơ đồ theo mức độ sẵn có tương đối của các tài nguyên khác nhau trong cả năm Bạn cũng có
Trang 15Khi bạn đã xác định được tổng sản lượng tiềm năng của mỗi loài, hãy ước tính số lượng có thể thu hái được mmoix năm không ảnh hưởng tới sự tái sinh hoặc sản lượng tương lai của loài Để lại một số sản phẩm để tái sinh là một nguyên tắc đã được thừa nhận trong quản lý nguồn tài nguyên Nhưng tỷ lệ chính xác cần để lại để sản lượng bền vững tối đa khó mà tính ra được và khác nhau tùy từng loài Muốn tính chính xác mức tối đa sản lượng bền vững, đòi hỏi phải giám sát quần thể trong nhiều năm – một kỹ thuật tốn rất nhiều thời gian và công sức Để đơn giản hóa việc ước lượng giá trị thực hiện thời, hầu hết các nhà nghiên cứu lấy một mức áng chừng cho tất cả các loài, thường là 25%
Ví dụ định giá các lâm sản ở Peru:
Các nhà sinh thái học, thực vật học và kinh tế học tài nguyên đã định giá các lâm sản phi gỗ ở Peru Dựa trên những kết quả kiểm kê tài nguyên trên 1 ha rừng nguyên thủy nhiệt đới gần làng Mishana, Peru Họ đã tìm thấy 50 họ thực vật, 275 loài và 842 cây có đường kính từ 10 cm trở lên Trong số đó, 72 loài (chiếm 26,2%)
và 350 cây (41,6%) cho sản phẩm có giá trị trên thị trường trong tp Iquitos gần đó
60 loài cây cho gỗ, 11 loài (gồm 4 loài cọ) cho quả ăn được và một loài cung cấp nhựa cao su
Các nhà nghiên cứu này đã tính sản lượng hàng năm của các loài cho quả và cho nhựa cao su và đo thể tích gỗ thương phẩm của mỗi cây cho gỗ Giá của các sản phẩm này được ước tính qua khảo sát tại các chợ địa phương, các xưởng gỗ và cơ quan chính phủ kiểm soát giá cao su
Họ tính được, mỗi năm 1 ha rừng ở Mishana cho quả giá trị tới 650 USD và cao su trị giá 50USD Họ lấy tổng số này trừ đi chi phí lao động và vận chuyển để có được thu nhập ròng hang năm là 400 USD từ quả và 22 USD từ cao su