Điều tra hộ gia đình

Một phần của tài liệu Giáo trình thực vật học dân tộc (Trang 25 - 30)

7.3. Giá trị lâm sản

7.4.3. Điều tra hộ gia đình

Sauk hi có được cảm nhận ban đầu về nền kinh tế địa phương qua các kỹ thuật đánh giá nhanh này, có thể tiến hành một cuộc điều tra hộ gia đình để có các dữ

liệu định lượng chi tiết hơn về các hoạt động sản xuất của mỗi gia đình trong cộng đồng. Trước khi điều tra, cần xem lại các kỹ thuật trình bày ở chương 4. Bất cứ khi nào có thể, đến thăm tất cả các hộ gia đình trong cộng đồng hoặc ít nhất một mẫu các hộ đại diện cho tính đa dạng về văn hóa và xã hội của địa phương. Điều tra dân số của làng, nếu sẵn có, có thể cung cấp nhiều dữ liệu cơ bản về số người của mỗi hộ và chủ đất. Bằng phỏng vấn bán cấu trúc và các bộ câu hỏi viết sẵn, có thể làm sang tỏ các chi tiết về số lượng các lâm sản do mỗi gia đình tiêu thụ và buôn bán, thời gian dung để thu hái so với công việc đồng áng và các hoạt động khác, tổng thu nhập hộ gia đình và nhiều duwkx liệu khác. Tấc cả các dữ liệu có thể được so

26

sánh với kết quả thu được bằng kỹ thuật đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân để kiểm tra độ tin cậy của các phương pháp khác nhau.

Một nhóm nghiên cứu từ Ấn Độ đứng đầu là K.C. Malhotra đã điều tra hộ gia đinh như một phần của nghiên cứu về vai trò các lâm sản phi gỗ trong nền kinh tế làng ở

quận Midnapore, miền tây Belgan. Tiếp tục thử nghiệm đánh giá có sự tham gia của người dân về rừng sal tái sinh – được mô tả ở chương 5 đã chọn làm việc với 12 ủy ban bảo vệ rừng, các nhóm cấp làn giám sát sử dụng tài nguyên rừng. Sauk hi thu thập duwk liệu về rừng và các làng tham gia, họ đã tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc 216 chủ hộ gia đình được chọn dại diện cho tình trạng kinh tế xã hội và tính đa dạng dân tộc học của cộng đồng.

Các chủ đề sau đây có thể coi là chỉ dẫn cho các cuộc điều tra tương tự về hộ gia đình ở các vùng khác: (1) cỡ gia đình; (2) cấu trúc tuổi và giới của gia đình; (3) trình độ học vấn của mỗi thành viên trong gia đình; (4) động vật nuôi; (5) đất đai và

năng suất; (6) nghề nghiệp chính và phụ; (7) thu nhập hang năm của hộ; (8) các loài cây và bộ phận dung theo hộ gia đình; (9) mục đích và cách dung các lâm sản phi gỗ; (10) mức độ sẵn có thoe mùa và sử dụng mỗi thứ; (11) giá trị thị trường/giá dự

kiến các lâm sản phi gỗ; (12) nhiên liệu tiêu dung hang năm để nấu ăn, thổi cơm, cất rượu, giặt quần áo, v.v. (13) nguồn nhiên liệu; (14) lượng lá cỏ làm thức ăn gia súc thu hái từ rừng; (15) lượng nguyên liệu lấy từ rừng có thể chế tác làm các đồ

gia dụng; (16) số lượng các thực phẩm thu thập từ rừng. Nhóm này đã sử dụng một số phương pháp đổi mới thích hợp để lượng hóa việc sử dụng các lâm sản phi gỗ như được mô tả ở ví dụ dưới đây.

Ví dụ nghiên cứu ở quận Midnapore ở Belgan của K.C. Malhotra.

Khi nghiên cứu hộ gia đình các nhà nghiên cứu đặc biệt lưu ý tới mục đích sử dụng cuối cùng của tất cả các lâm sản:

a) Khả năng sử dụng của mỗi loài.

b) bộ phận dùng

c) mùa sẵn có theo lịch địa phương.

d) mùa sử dụng

e) phương pháp chế biến (nếu có).

f) mục đích sử dụng cụ thể.

g) cộng đồng có phong tục bảo vệ đối với mỗi loài hay không.

h) có thể có các nguồn khác thay thế cho thứ đó trong trường hợp không tìm thấy trong phạm vi bảo vệ chúng.

i) Nhu cầu của thị trường mỗi thứ của địa phương.

Sinh khối các lâm sản phi gỗ được thu hái đều đặn và/hoặc với một số lượng đủ

lớn để dáp ứng nhu cầu sinh tồn của dân làng đã được xác định. Những cố gắng đầu tiên nhằm lượng hóa các mặt hang thu hái trong cả mùa được thực hiện bằng

27

phương pháp hồi cứu. Số lượng ước tính có được từ rất nhiều kiểu số liệu do những người cung cấp tin đưa ra (rổ, mớ, nắm, v.v.).

Tuy nhiên, trong một số trường hợp phương pháp hồi cứu có thể không mang lại thong tin đầy đủ. Dân làn thường khí nhớ lại rõ rang số lượng thu hái, vì nó thay đổi rất nhiều phụ thuộc vào mức sẵn có và nhu cầu cho cuộc sống của mỗi thứ. Các loài nấm khác nhau được thu thập trong và sau mùa gió mậu dịch với số lượng khác nhau: “có khi là một rổ”, “có khi là một nắm” là câu trả lời điển hình, nếu hỏi về số

lượng. Khi đó, việc đưa ra cho người cung cấp tin một vài ý mấu chốt sẽ rất hữu ích. Ví dụ, qua việc buôn bán một mặt hang ở chợ, người cung cấp tin có thể đưa ra một ước tính đúng hơn về việc thu hái nó. Tuy nhiên, không phải tất cả dân làng thường bán mặt hang đó. Đơi với những người thu thập một thứ để dung cho hộ gia đình mình, nhũng điểm mấu chốt đủ để có thể đưa ra một ước đoán rõ rệt là lượng cần cho một bữa ăn gia đình, số ngày thường sử dụng nó để tiếp khách quí trong một mùa. Trọng lượng chuẩn của một sinh khối thu thập được cũng có thể ước tính được. Trong suốt quá trình, nên tránh những câu hỏi có tính gợi ý.

Số lượng động vật bị các bộ lạc săn bắt cũng không bao giời chắc chắn do chúng hiếm có trong rừng. Tương tự, khối lượng cây thuốc cũng khó xác định chính xác, bởi vì chúng thường được thu thập với một số lượng rất nhỏ và chỉ khi có yêu cầu chữa trị một bệnh cụ thể. Lá, hoa thu thập từ rừng dùng trong các nghie lễ và trang trí cũng khó xác định được số lượng. Số lượng quả dâu, mận dại trẻ con ăn khi vào rừng chơi cũng rất khó xác định số lượng và do đó không nằm trong ước tính của chúng ta.

Dĩ nhiên, phép đo trực tiếp sinh khối mỗi lâm sản phi gỗ của mỗi một hộ gia đình được nghiên cứu thu hái trong một mùa sẽ cho những thong tin chính xác hơn về lượng lâm sản phi gỗ được thu về các làng. Tuy nhiên, phương pháp lý tưởng này đòi hỏi một cuộc điều tra nghiêm ngặt kéo dài nhiều năm và do một số lượng lớn những cán bộ thực địa được đào tạo tiến hành ở tất cả các làng thuộc Ủy ban bảo vệ rừng đã được lựa chọn. Do đó, phương pháp này thường không thực tế. Tuy nhiên, đó cũng là điều chúng ta ước muốn.

Việc lượng hóa làm theo nguyên tắc cơ bản dựa vào ước tính trực tiếp qua cachs đánh giá trực giác và kiểm tra chéo với càng nhiều người cung cấp tin càng tốt. Để

tiêu chuẩn hóa việc ước tính sinh khối, đã tiến hành cân một số gùi mẫu hang các lâm sản phi gỗ chính bằng cân lò xon. Biện pháp này đã cải thiện việc ‘ước lượng’

trọng lượng trung bình của các bó, các bao tải hoặc các rổ từng thứ lâm sản.

7.4.4. Tính toán tiền lời theo công lao động

Các hồ sơ chính thức, các kỹ thuật đánh giá có sự tham gia của người dân và điều tra kinh tế hộ gia đình sẽ cho phép mô tả đặc điểm các nguồn thu nhập khác nhau của cộng đồng, gồm số ngày công và số tiền kiếm được từ mỗi hoạt động. Có

28

thể ước tính mức đóng góp tương đối cho nền kinh tế làng từ các lâm sản được buôn bán và các tài nguyên mà người dân tiêu thụ.

Ví dụ: Nền kinh tế làng dựa vào từng ở Gujarat, Ấn Độ

Shashi kant và Neel Guarav Mehta là hai nhà lâm học của Ấn Độ đã bắt tay tính toán mức đóng góp của các nhà lâm sản cho nền kinh tế của làn Motisingloti – một làng thuộc quận Bharuch của Gujarat. Lang Motisingloti được bao quanh bởi những khu rừng gỗ tếch ẩm ướt có nhiều cây ăn quả, cây gỗ và nhiều tài nguyen thực vật khác như tre nứa, và cây thuốc. Làng có 400 cư dân sinh sống, hầu hết thuộc bộ lạc Vasva, canh tác trên tổng diện tích 83 ha đất nông nghiệp và thu hái tài nguyên thực, động vật trên 835 ha rừng. Nogafi ra, nhiều người dân trong làng hàng ngày làm công ăn lương cho Phòng Lâm nghieejpj và Thủy lợi nhà nước hoặc cho các chủ trại địa phương. Kết hợp dữ liệu từ các hồ sơ chính thức và các cuộc điều tra hộ gia đình, các nhà nghiên cứu đã phân tích các phần thu nhập cua làng, sự thay đổi việc làm theo mùa và tiền kiếm được từ lao động có liên quan tới mỗi hoạt động sản xuất này.

Họ phát hiện ra rằng việc khai thác rừng được tiến hành bởi 55 trong số 60 hộ gia đình, chiếm một vị trí quan trong trong nền kinh tế của làng. Bảy lâm sản phi gỗ gồm hạt, hoa và lá của một số loài cây – do người dân làng Motisingloti bán cho ct.

phát triển rừng nhà nước Gujarat. Giá chính thức và số lượng mua bán của mỗi lâm sản này có trong hồ sơ của Công ty cho phép Kant và Mehta tính toán tổng thu nhập kiếm được từ hoạt động thương mại này. Nhiều cây rừng khác dùng trong đời sống, gồm vật liệu làm nhà, chất đốt, thức ăn gia súc và rau dại. Để ước tính giá trị

bằng tiền của các lâm sản này, các nhà nghiên cứu đã nhân giá thị trường hiện hành với tổng số lượng của mỗi tài nguyên được tiêu thu trong làng theo số liệu của cuộc điều tra hộ gia đình. Trong nhiều trường hợp, giá cả thị trường hiện hành có thể lấy trực tiếp từ Công ty hoặc bằng cách phỏng vấn những người bán rong ở các khu chợ địa phương. Giá cả ước tính được gán cả cho những thứ không có bán trên thị

trường như các loại củ dại, thân hành dại ăn được.

Dựa trên những ước tính kiểu này, 17% thu nhập của làng kiếm được từ việc bán các lâm sản phi gỗ. Trong khi, giá trị bằng tiền của các lâm sản được dân làng tiêu thụ trực tiếp tương ứng 47% thu nhập hàng năm. Vì có thêm 13% thu nhập từ

sức lao động hàng ngày do có liên quan tới rừng. Tỷ lệ 23% còn lại kiếm được từ

các công việc trong rừng, gồm hoạt động sản xuất nông nghiệp cho sinh kế, thương mại và tiền công lao động hàng ngày trên các nông trại và phòng Thủy lợi.

Qua các cuộc điều tra hộ gia đình, Kant và Mehta cũng thấy được số ngày hàng tháng mỗi gia đình giành cho hoạt động nhằm có thu nhập bằng tiền mặt. Có thể

thấy tổng thời gian của làng trong bảng ??: 11.390 ngày dùng để thu thập các lâm sản và 4.425 ngày làm việc với phòng Lâm nghiệp. Có nghĩa là, trong tổng số

29

17.090 ngày mỗi năm, 92,5% được người dân dùng cho các công việc liên quan tới rừng. Những công việc này được tập trung từ tháng 12 đến tháng 7, là thời gian kiếm được hầu hết các khoản thu nhập bằng tiền mặt hàng năm. Từ tháng 8-11, dân làng làm việc trên các cánh đồng hoặc thu hoạch mùa vụ của mình.

Mỗi loại ngày công được trả công thế nào? Các nhà nghiên cứu đã tính toán tiền công lao động (ROL) trả cho việc thu thập lâm sản bằng cách chia tổng số tiền công cho số ngày lao động giành cho hoạt động này. Mặc dù tiền công thu hái các lâm sản phi gỗ nói chung là 13,8 rupi/ngày, nhưng giá này lại khác nhau tùy theo tài nguyên được thu hái. Giá công với hạt Bhindi chỉ 7,2 rupi/ngày, trong khi với lá

cây timru tới 17,6 rupi/ngày. Trong khi đó, phòng Lâm nghiệp và Thủy lợi trả 22 rupi/ngày, phòng Thủy lợi trả 14 rupi/ngày và các chủ trại lớn chỉ trả 5 rupi/ngày.

Những con số này giúp giải thích việc phân bố lao động hàng tháng trình bày ngay trong bảng phân bố ngày công lao động bên dưới. Chỉ khi không có khả năng làm việc với Phòng Nông nghiệp và Thủy lợi hoặc thu hái lâm sản thì dân làng mới chấp nhận tiền công thấp hơn khi làm việc trên cánh đồng của chủ trang trại.

Bảng phân bố ngày lao động hàng tháng đối với các hoạt động tạo thu nhập khác nhau ở làng Motisingloti, Ấn Độ.

Thu hái các lâm sản phi gỗ Tổng

Tháng Phòng Lâmngh

Phòng Th. lợi

Chủ

trại

Hoa Mahua

Hạt Mahua

Lá

Mahua

Hạt Sag Hạt Bhindi

Các hđ rừng

Tổng số

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tổng

- - 110 110 110 500 625 - - - - - 4425

- - - - - 350 400 - - - - - 725

- - - - - - 100 100 50 50 110 115 525

- 126 506 885 632 253 126 - - - - - 2528

- - 286 1145 1145 286 - - - - - - 2862

- - - 564 1972 282 - - - - - - 2818

262 104 - - - - - - - - - 156 522

266 1064 1064 266 - - - - - - - - 2660

528 1294 2956 3960 4849 1321 751 - - - - - 15815

528 1294 2956 3960 4849 1671 1251 100 50 50 110 271 17090 Một pháp tính toán khác bạn có thể làm từ dữ liệu này là tiền lới từ sức lao động cho việc thu hái các lâm sản, nghĩa là một người có thể kiếm được bao nhiêu tiền mỗi ngày qua thu hái một cây hoặc một động vật nào đó. Như đã nói ở trên, đây là

một hướng dẫn để hiểu được cách thu lợi nhuận kinh tế của người dân hơn so với đánh giá từ tiền thu được từ đất đai.

30

Hãy lấy một ví dụ từ một nghiên cứu tiến hành ở Gujarat, Ấn Độ, được mô tả ở

trên, để xem công việc tiến hành như thế nào. Từ các cuộc điều tra hộ gia đình, Shashi kant và Neel Gaurav Mehta khám phá ra rằng, người dân làng bình thường ở

Motisingloti sử dụng tổng cộng 80 ngày mỗi năm, làm việc 5 giờ mỗi ngày, thu tổng số 960 kg hạt Bhindi. Với một ngày lao động 8 tiếng, họ tính ra tổng số 37,5 ngày lao động dùng cho việc thu thập hạt Bhindi (300 giờ/8 giờ/ngày = 37,5 ngày lao động), cộng thêm 3 ngày mỗi năm để chế biến, nên tổng số là 40,5 ngày lao động. Hạt phải được phơi khô trước khi bán cho công ty, làm giảm tới 10% trọng lượng tươi của nó. Hạt khô được mua với giá 3 rupi/kg mang lại thu nhập 288 rupi (96 kg hat khô x 3 rupi/kg = 288 rupi). Đem chia cho 40,5 ngày thu hái và chế biến, chúng ta thấy rằng hoạt động này mang lại hơn 7 rupi/ngày công lao động.

7.5. Thị trường địa phương 7.5.1. Khảo sát

Chợ địa phương là nơi diễn ra các mua bán, trao đổi hàng hóa ở địa phương.

Một nghiên cứu về tài nguyên sinh học không thể hoàn thiện nếu không có sự khảo sát hay điều tra chi tiết các cây cỏ và động vật được bán ở các chợ địa phương. Các thông tin về cây thuốc, cây cảnh, thực phẩm hoang dại, côn trùng ăn được và các sản phẩm khác có giá trị có thể thu thập được bằng cách nói chuyện với những nhà

sản xuất hay người bán hàng và người tiêu dùng địa phương. Thu nhập mà một cộng đồng có thể kiếm được từ việc buôn bán các sản phẩm này quyết định bởi khả năng lưu thông với các khu chợ và giá trị hiện hành của hàng hóa và qui luật cung cầu.

Theo Carol Smith – nhà nhân học Mỹ thì muốn nghiên cứu chi tiết các hệ thống thị trường nông thôn nên tập trung và 4 yếu tố:

- Tính đa dạng của các mặt hàng: cây con, nấm, côn trùng, v.v.

- Loại người bán hàng khác nhau: người bán hàng chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, là người địa phương hay từ nơi khác đến.

- Sự trao đổi hàng hóa: chủ yếu quan tâm về mặt số lượng nhiều hay ít.

- Nguồn gốc (hay môi trường sinh thái) của hàng hóa: để tìm hiểu nguồn cung cấp hàng hóa.

7.5.2.

Một phần của tài liệu Giáo trình thực vật học dân tộc (Trang 25 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(30 trang)