1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm Nhập môn Internet và E-Learning

15 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 89,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tàiTRÌNH BÀY VỀ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC Hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên trong các trường đại học.. Trong tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng nhưng chính những l

Trang 1

Đề tài

TRÌNH BÀY VỀ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC

(Hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên trong các trường đại học.)

Lớp ONE105 – Nhóm 2

Bài tập nhóm Nhập môn Internet và E-Learning Khóa TS32 – Chuyên nghành Quản trị kinh doanh tổng hợp

Trang 2

Mục Lục

Trang

Lời giới thiệu ……….……… 3

Phần 1: Mở đầu 1.1 Lý do chọn đề ……… ……… 4

1.2 Mục đích nghiên cứu … ……… …… ……… 4

Phần 2: Cơ sở lý thuyết 2.1 Cơ sở lý luận và vấn đề tự học ……… ……… ………… 4

2.2 Vấn đề tự học của sinh viên thế giới………… ……… ……… 5

2.3 Vấn đề tự học của sinh viên Việt Nam……….………… ……… 6

2.4 Các quan niệm tự học……… 7

2.5 Một số hình thức tự học……… ……… ….… ……… 8

2.6 Đặc điểm của hoạt động tự học trong đào tạo tín chỉ…… 8

Phần 3: Thực trạng và các khó khăn 3.1 Nhận xét, đánh giá dựa trên số liệu điều tra về giờ tự học của sinh viên các trường đại học trên địa bàn Hà Nội ………… ……… ……… 9

3.2 So sánh tự học với học thụ động……… ……… ………… 10

3.3 Phương pháp tự học đối với chương trình từ xa như E-Learning ……….……… 11

Trang 3

3.4 Những khó khăn mắc phải khi tự học…….………….……….12 3.5 Những kỹ năng cần có để tự học……… ……… 13

Phần 4: Kết luận ……….……… 14

Lời giới thiệu

Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo của nhà trường Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc

để chiếm lĩnh kiến thức Trong tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng nhưng chính những lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy sinh viên tư duy để thoát khỏi “lúng túng”, nhờ vậy mà thành thạo lên và đã thành thạo thì hay đặt những dấu hỏi, phát hiện vấn đề

và từ đó đi đến có đề tài nghiên cứu.Phương pháp tự học có tác dụng bồi dưỡng năng lực

tự học, kỹ năng tự học làm cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên.Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết Song điều quan trọng là sinh viên phải có hệ thống kỹ năng tự học Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sinh viên, bởi lẽ muốn có kỹ năng nghề nghiệp trước hết phải có kỹ năng làm việc độc lập, trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh hệ thống tri thức Vì tri thức là sản phẩm của hoạt động, muốn nắm vững tri thức và có tay nghề thì việc rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học một cách thường xuyên và nghiêm túc phải được chú trọng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Lớp ONE105-TS32

Trang 4

Phần 1: Mở đầu:

1.1 Lý do chọn đề tài:

Tự học có một vai trò ý nghĩa rất lớn, không chỉ trong giáo dục nhà trường mà cả trong cuộc sống Trong nhà trường bản chất của sự học là tự học, cốt lõi của dạy học là dạy việc học, kết quả của người học tỉ lệ thuận với năng lực tự học của người học Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo điều kiện và cơ hội học tập suốt đời Trên thực tế hiện nay việc tự học của sinh viên các trường Đại học tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, trong đó nhiều sinh viên chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học, chưa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tự học cho bản thân, hình thức tự học chưa hợp lý Xuất phát từ những lý do trên, nhóm chúng tôi chọn đề tài:” Trình bày về phương pháp tự học” nhằm mục đích khảo sát thực trạng tự học của sinh viên Việt Nam và đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả tự học cho sinh viên

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng tự học của sinh viên trên địa bàn Hà Nội hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra những đề suất giải pháp đẩy mạnh hoạt động tự học của sinh viên góp phần nâng cao kết quả học tập và chất lượng trong học tập

Phần 2: Cơ sở lý thuyết:

2.1 Cơ sở lý luận và các vấn đề tự học:

Trang 5

Sơ lược lịch sử nghiên cứu về vấn đề tự học: Người đặt nền móng cho ý thức về hoạt động tự học là nhà giáo dục người Tiệp Khắc J.A Comenxki Các nhà giáo dục học như Rutxô, Pestalogi, Dixtecvec, Usinxki ở thế kỉ 18, 19 đã quan tâm nhiều đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực và tính độc lập sáng tạo của học sinh Bàn về tự học, các nhà giáo dục học Việt Nam như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Cảnh Toàn… đã coi việc tự học như chìa khóa thành vàng của giáo dục trong thời đại bùng nổ thông tin

Xuất phát từ nguyên tắc dạy học nhà trường gắn liền với đời sống và nguyên tắc chuyển quá trình dạy học sang quá trình tự học Nguyên tắc này đòi hỏi phải hình thành cho người học có nhu cầu, năng lực phẩm chất tự học chuyển dần quá trình dạy học sang qua trình tự học Gắn liền với nhu cầu đòi hỏi của thời đại khi mà cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển hiện nay đã dẫn tới sự bùng nổ thông tin và làm cho tri thức ở từng người trở nên lạc hậu nhanh chóng Để thích ứng với cuộc sống mỗi người phải tự học liên tục, học suốt đời Hồ Chí Minh - Một tấm gương sáng về tự học đã từng nói

“Không ai có thể cho mình biết đủ rồi, biết hết rồi”

Có thể nói tự học là con đường khắc phục khó khăn thử thách rèn luyện ý trí vươn lên, tạo tri thức bền vững cho mỗi người trên con đường phát triển học vấn phát triển nhân cách con người

2.2 Vấn đề tự học của sinh viên thế giới:

Tự học đã được con người thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi giáo dục chưa trở thành một nghành khoa học thực sự Ở thời kỳ đó, người ta đã biết quan tâm đến việc làm sao cho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những giáo huấn của thầy và hành động theo những điều ghi nhớ đó Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc

độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò” Sau chiến tranh thế giới thứ II, bên cạnh sự tiến bộ rất nhanh của các nghành khoa học cơ bản, khoa học giáo dục cũng có nhiều tiến

bộ đáng kể Một trong những tiến bộ đó là: Sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền

Trang 6

thống (Giáo viên là nơi phát động thông tin, học sinh là nơi tiếp nhận thông qua diễn giảng trên lớp) và các quan điểm dạy học hiện đại (Học sinh là chủ thể tích cực, giáo viên

là người tổ chức hướng dẫn) Khái niệm người học trong giai đoạn cũng không còn được quan niệm cá thể hóa cực đoan như trước đây, tuy nó vẫn được chú ý Theo J.Dewey:

“Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Tư tưởng “lấy học sinh làm trung tâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ thể như:

“Phương pháp hợp tác” (cooperative methods), “Phương pháp tích cực” (active methods),

“Phương pháp cá thể hóa”, “Phương pháp nêu vấn đề” Trong đó “Phương pháp tích cực” được nghiên cứu triển khai rộng hơn cả Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi sự chú ý kích thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động Vì thế, người học đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc học

2.3 Vấn đề tự học của sinh viên Việt Nam:

Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài

đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định đều là tự học của bản thân Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài Nhưng nhìn chung, lối giáo dục còn rất hạn chế “người học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người học học thuộc lòng Vấn đề tự học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa

là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp dạy học Người từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt”

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học học, phương pháp dạy học bộ môn Một số công trình tiêu biểu là: Nguyễn Cảnh Toàn (Nguyễn Cảnh Toàn (1995), luận bàn và kinh nghiệm về tự học), Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy

Trang 7

Tuyên, Bùi Văn Nghị,… Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đã khẳng định: Năng lực tự học của trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học

Bước vào thời kì đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung, và vấn đề tự học của sinh viên nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu vì vai trò quan trọng của tự học trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới lấy người học là trung tâm Chúng ta

có thể tham khảo bài viết của Nguyễn Nghĩa Dán “Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh” (Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/1998); hay Giáo sư Cao Xuân Hạo đã có những phân tích thấu đáo và ý kiến sâu sắc trong bài “Bàn về chuyện tự học” (Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001)

2.4 Các quan niệm về tự học:

Trong một số các tài liệu, học liệu, giáo trình các tác giả đã đưa ra các định nghĩa, khái niệm khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản về tự học:

* Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học Quan niệm về tự học Người cho

rằng: “tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập” Theo Người, “tự động học tập” tức là học tập một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra, đánh giá việc học tập của mình

* Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận

dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương

trình và sách giáo khoa đã được qui định.

Trang 8

* Nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học Tự

học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các

mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể

2.5 Một số hình thức tự học:

+ Tự học hoàn toàn (không có giáo viên): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác Sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài giảng và sắp xếp thời gian học

+ Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) Để giúp sinh viên có thể tự học ở nhà, giáo viên cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ

+ Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): sinh viên được nghe giáo viên giảng giải minh họa,qua tài liệu,file âm thanh

+ Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu,

bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự sinh viên cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai

+ Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của giáo viên

ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu sinh viên vẫn sử dụng giáo trình như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học

2.6 Đặc điểm của hoạt động tự học trong đào tạo tín chỉ:

Trang 9

+ Kế hoạch học tập cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học: Phương thức này tạo cho sinh viên năng lực chủ động trong việc lập kế hoạch học tập khoa học, xác định thời gian, phương tiện, biện pháp để thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch học tập đó

+ Hoạt động dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: Lên lớp (Giờ tín chỉ lên lớp) / Thực hành (Giờ tín chỉ thực hành) / Tự học (Giờ tín chỉ tự học)

+ Nội dung một bài giảng trong hệ thống tín chỉ thường gồm 3 thành phần chính:

- Phần nội dung bắt buộc phải biết (N1) được giảng trực tiếp trên lớp

- Phần nội dung nên biết (N2) có thể không được giảng trực tiếp trên lớp mà giáo viên có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở ngoài lớp

- Phần nội dung có thể biết (N3) dành riêng cho tự học, chuẩn bị bài, làm tập, thảo luận nhóm, xemina, làm thí nghiệm và các hoạt động khác có liên quan đến môn học

Ngoài ra, một điểm rất quan trọng trong học chế tín chỉ, hoạt động tự học được kiểm tra, đánh giá thường xuyên thông qua các bài kiểm tra, bài tập, các buổi thảo luận trong suốt cả quá trình học

Phần 3: Thực trạng và các khó khăn:

3.1 Nhận xét, đánh giá dựa trên số liệu điều tra về giờ tự học của sinh viên các trường đại học trên địa bàn Hà Nội:

Để đánh giá một phần thực trạng hiện nay về vấn đề tự học của sinh viên, nhóm chúng tôi

đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên sinh viên của một số trường trên địa bàn Hà Nội, thu

được tổng số 104 phiếu đạt yêu cầu về nội dung Với cùng một câu hỏi: “trung bình mỗi

ngày bạn dành bao nhiêu thời gian cho việc tự học”, nhóm chúng tôi thu được kết quả

như sau:

Trang 10

Sinh viên năm thứ/ (Số lượng khảo sát) Năm 1/ (26) Năm 2/ (30) Năm 3/ (26) Năm 4/ (22)

Số giờ tự học trung bình (giờ/ngày) 2.54 2.13 2.77 2.55

Số giờ tự học bình quân của những sinh viên được khảo sát là 2.48 giờ / 01 ngày Cũng theo số liệu nhóm chúng tôi khảo sát được, số sinh viên dành thời gian tự học trung bình mỗi ngày từ 4 giờ trở lên chiếm tỉ lệ khoảng 26%, số sinh viên dành thời gian tự học trung bình mỗi ngày từ 1-3 giờ chiếm tỉ lệ khoảng 68% Cá biệt có khoảng 6% số sinh viên được hỏi dành thời gian cho việc tự học ít hơn 1giờ /ngày Con số này phần nào phản ánh một thực trạng hiện nay của sinh viên Việt Nam là chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học, tự nghiên cứu Lý giải cho thực trạng trên có rất nhiều nguyên nhân, trong đó, theo chúng tôi, có hai nguyên nhân chính sau đây:

+ Nguyên nhân từ phía người học: Có 1 bộ phận sinh viên hiện nay hơi thụ động

Họ chưa ý thức được ý nghĩa và hiệu quả của việc tự học, chưa chủ động trong việc nắm bắt kiến thức cũng như chủ động ngay trong cơ hội của mình Việc đi học ở trên lớp hoặc phải do thầy cô đốc thúc, hoặc do gia đình chứ không phải do chính bản thân

+ Nguyên nhân do hệ thống đào tạo: nền giáo dục truyền thống tuy đã có những bước đổi mới đáng kể nhất định, xong hiện nay phần lớn vẫn theo phương pháp giảng dạy tập trung và phương pháp học kiểu thụ động

Tuy còn có những hạn chế vừa nêu, song có thể nhận thấy một điểm chung nhất là phần lớn sinh viên, học sinh hiện nay đã tự ý thức rõ vai trò của mình trong việc học tập, tiếp thu kiến thức

3.2 So sánh tự học với học thụ động:

Ngày đăng: 05/09/2022, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w