Giáo trình Giáo dục thể chất với mục tiêu giúp các bạn có thể trình bày được tác dụng, các kỹ thuật cơ bản và một số quy định của môn thể dục thể thao được học để rèn luyện sức khỏe, phát triển thể lực chung. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Để đáp ứng nhu cầu dạy và học của giáo viên và HSSV trường Cao đẳng nghề An Giang được thuận lợi và thống nhất trong tổ bộ môn cũng như trong nhà trường
Giáo trình này được biên soạn theo thông tư số 12/2018/TT-BLĐTBXH ban hành chương trình môn học giáo dục thể chất thuộc khối các môn học chung trong chương trình đào tạo cao đẳng Giáo trình được biên soạn một số nội dung cơ bản theo thông tư dành cho giáo viên và HSSV nghiên cứu trong quá trình dạy và học trong trường Cao đẳng nghề An Giang Dựa theo giáo trình này các đồng chí giáo viên có thể thay đổi hoặc bổ sung một số bài tập, nội dung khác sau cho phù hợp
với chương trình dạy và học trong trường dạy nghề
Mặt dù đã cố gắng nhiều, song vì điều kiện còn hạn chế và tài liệu tham khảo hiếm
và đã lâu nên cuốn giáo trình khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình biên soạn Rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô giáo để cuốn giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn
Chân thành cảm ơn
An Giang, ngày 16 tháng 2 năm 2010
Tham gia biên soạn:
Trang 2MỤC LỤC
1 LỜI GIỚI THIỆU: ……… 1
2 BÀI MỞ ĐẦU: ……… 5
CHƯƠNG I: GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHUNG 1 BÀI 1: THỂ DỤC CƠ BẢN:……… 8
2 BÀI 2: ĐIỀN KINH:……… 21
CHƯƠNG II: CHUYÊN ĐỀ VỀ THỂ THAO TỰ CHỌN 1 CHUYÊN ĐỀ 1: BÓNG ĐÁ:……… 39
2 CHUYÊN ĐỀ 2: BÓNG CHUYỀN:……… 86
3 CHUYÊN ĐỀ 3: CẦU LÔNG:……… 143
4 CHUYÊN ĐỀ 4: ĐÁ CẦU:……… 164
Trang 3GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Trang 4Nội dung môn học
1 Nội dung tổng quát và phân bổ thời gian
Kiểm tra
II Chương I: GIÁO DỤC THỂ
CHẤT CHUNG
III Chương II: CHUYÊN ĐỀ
THỂ DỤC THỂ THAO TỰ
CHỌN (chọn 1 trong các
chuyên đề sau)
Trang 5BÀI MỞ ĐẦU Mục tiêu
Sau khi học xong bài này người học đạt được:
- Tính chất:
Là một hoạt động xã hội: cùng với sự tiến bộ không ngừng của loài người và thực tiễn Thể dục thể thao ngày càng phong phú với hàm nghĩa bên trong và bên ngoài của nó không ngừng thay đổi Ngày nay hàm nghĩa thể dục với nghĩa rộng lớn là một quá trình giáo dục đồng thời cũng là một hoạt động văn hóa, xã hội
HSSV ngoài học chương trình môn học GDTC, thì hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo
Trang 6phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với
sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục thể chất thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao
- Điền kinh gồm: Đi bộ, các môn chạy, nhảy, ném đẩy
Trang 7- Việc đánh giá kết quả học tập của người học được thực hiện theo quy định tại thông tư số 09/2017/TT-BLĐTBXH ngày 13/3/2017 của Bộ lao động Thương binh và Xã hội quy định việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng theo niên chế hoặc theo phương pháp tích lũy mô đun hoặc tín chỉ, quy chế kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp
- Miễn trừ, bảo lưu kết quả học tập: Việc miễn trừ, bảo lưu kết quả học tập môn học được thực hiện theo thông tư 09/2017/TT-BLĐTBXH
Trang 8CHƯƠNG I GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHUNG
BÀI 1: THỂ DỤC CƠ BẢN Mục tiêu
Sau khi học xong bài này, người học đạt được:
- Về thái độ:
Thái độ phải nghiêm túc, tự giác để trở thành thói quen luyện tập hàng ngày
Nội dung
1 Giới thiệu về thể dục cơ bản
Trong chương trình này chỉ giới thiệu cho chúng ta một số bài tập thể dục cơ bản như: Đội hình, đội ngũ; bài thể dục tay không liên hoàn; bài thể dục cơ bản với dụng cụ đơn giản Để giảng dạy và rèn luyện cho các em tác phong nghiêm túc, ý thức tổ chức kỹ luật đồng thời giúp các em có tinh thần tự giác trong tập luyện TDTT ứng được yêu cầu trong học tập
2 Thể dục tay không liên hoàn
2.1 Tác dụng của thể dục tay không liên hoàn:
Khi tập với bài tập thể dục tay không, kích thích được sự phát triển bình thường và toàn diện của cơ thể, uốn nắn tư thế cho các em Luyện tập thường xuyên làm cho cơ thể các em phát triển cân đối, toàn diện, hạn chế được những cố tật do thiếu ý thức gây nên
Trang 9
Hình 1 + Dóng hàng dọc:
Khẩu lệnh: “ Nhìn trước … thẳng ”
Em đứng đầu hàng phía bên phải (Tổ trưởng tổ 1) đứng nghiêm, tay trái duỗi thẳng và hơi áp vào đùi, tay phải giơ lên cao, mắt nhìn thẳng Em đứng đầu hàng tổ
2 (Tổ trưởng tổ 2) chống tay phải vào hông và đứng sát cạnh em đứng đầu hàng tổ
1 sao cho khuỷu tay vừa chạm vào người bạn Em đứng đầu hàng tổ 3, 4… cũng làm như em đứng đầu hàng 2 Những em đứng đằng sau của mỗi tổ đưa tay trái đặt vào vai bạn đứng trước rồi điều chỉnh cự ly sao cho khoảng cách bằng 1 cánh tay,
Trang 10đồng thời nhìn thẳng vào gáy bạn đứng trước để dóng hàng cho thẳng, sao cho không nhìn thấy bạn thứ 2 đứng trước mình (H2)
ra sau thật nhanh rồi trở về tư thế đứng nghiêm Em cuối cùng điểm số xong hô
Trang 11Sau khi hô dứt khẩu lệnh “tập hợp” xong, giáo viên đứng vào vị trí định tập hợp, tay trái giơ ngang Nghe dứt khẩu lệnh, học sinh hàng thứ 1 (tổ ) nhanh chóng đứng về phía tay trái của giáo viên Em đứng đầu hàng thứ nhất (tổ 1) đứng sát tay của giáo viên, các em khác thứ tự đứng tiếp theo, em nọ cách em kia một khoảng cách tay chống hông, mặt quay về phía giáo viên Các em của các (tổ) hàng còn lại theo hàng thứ nhất lần lượt xếp hàng theo (H3)
Hình 3
Chú ý: Điều chỉnh cự ly của mình cho thẳng hàng ngang, dọc
+ Dóng hàng ngang:
Khẩu lệnh: “Nhìn phải (trái, giữa) … thẳng”
Cụ thể hơn có thể hạ khẩu lệnh: “Em A bên phải (trái, giữa)…làm chuẩn
Em được gọi tên hô to “Có” và giơ tay trái lên cao Tất cả hàng và các hàng khác lấy đó làm chuẩn dồn hàng
Khi nghe khẩu lệnh, các em hàng thứ nhất quay mặt nhìn về phía người làm chuẩn dóng hàng cho thẳng, em nọ cách em kia một khoảng cách tay chóng hông (nhìn thẳng ở tầm ngực của các bạn cách mình 1, 2 người để dóng hàng) Các em ở hàng sau theo hàng trước điều chỉnh cự ly của mình cho thẳng hàng ngang, dọc Khi có khẩu lệnh “Thôi”, em giơ tay làm chuẩn mới hạ tay xuống, các em trong hàng thứ nhất hạ tay chống hông xuống và quay mặt trở về tư thế đứng nghiêm (H4)
Trang 12
Hình 4 + Điểm số theo đội hình hàng ngang:
Khẩu lệnh: “Từ 1 đến hết … điểm số”
Nghe dứt khẩu lệnh, thứ tự từ em đứng đầu hàng ( bên phải của các em ) hô
1, em thứ 2 hô 2, cứ như vậy lần lượt đến hết Khi hô, các em làm động tác quay mặt về phía bên trái và nhanh chóng trở về tư thế đứng nghiêm Em cuối cùng điểm số xong hô “Hết”
Chú ý: Điểm số ở hàng ngang thực ra chỉ cần thực hiện ở hàng đầu, sau đó người chỉ huy thính theo số hàng mà luận ra số người có mặt
- Dàn hàng ngang, dồn hàng:
+ Dàn hàng ngang (giãn cách 1 cánh tay, một dang tay)
Khẩu lệnh: “Em B làm chuẩn tất cả giãn cách 1 cánh tay … bắt đầu”
Động tác: Khi nghe thấy khẩu lệnh, em B đứng ở đầu hàng thứ nhất bên phải giơ tay trái lên cao, các em khác nhìn về phía người làm chuẩn dang một cánh tay ra ngang để giãn cách cự ly (H5a)
Hình 5(a)
Trang 13Hình 5 (b)
Khi có khẩu lệnh “Thôi”, tất cả bỏ tay xuống đứng nghiêm
Chú ý: Khi thực hiện giãn cách 1 dang tay cũng làm như trên; chỉ khác là các em phải dang cả hai tay ra và điều chỉnh cự ly cho thẳng hàng (H5b)
Khi vận dụng thực tế, chỉ cần hàng trước dang tay, còn các hàng sau nhìn người đứng trước mà giãn cách
+ Dồn hàng:
Khẩu lệnh: “Em B làm chuẩn tất cả … dồn hàng”
Khi nghe thấy khẩu lệnh, em B giơ tay trái lên cao, các em khác dồn hàng lại về phía em B như cũ Khi có lệnh “Thôi”, em B hạ tay xuống đứng nghiêm
- Từ 1 hàng ngang (dọc) chuyển thành 2 hàng ngang (dọc) và ngược lại:
+ Một hàng ngang thành hai hàng ngang:
Khẩu lệnh: “Thành hai hàng ngang … bước”
Động tác: Nghe khẩu lệnh “ bước ”, số lẻ đứng nguyên, số chẵn chân phải bước lùi về phía sau hơi chếch sang bên phải một bước, đồng thời rút chân trái về, lúc này số người chẵn đứng sau số người lẻ (H6)
1 2 3 4 5 6 7 8 Hình 6
+ Hai hàng ngang thành một hàng ngang:
Khẩu lệnh: “Thành một hàng ngang … bước”
Trang 14Động tác: Khi nghe khẩu lệnh “bước” số chẵn dùng chân trái tiến lên cạnh phía trái người trên, sau đó thu chân phải về thành lập một hàng ngang với người
số lẻ
+ Một hàng dọc thành hai hàng dọc:
Khẩu lệnh: “Thành hai hàng dọc … bước”
Động tác: Khi nghe khẩu lệnh “bước”, số chẵn dùng chân phải bước chếch lên và sang phải ngang bằng người số lẻ (mà mình định thiết lập thành hai hàng dọc), đồng thời thu chân trái về thành tư thế đứng nghiêm Lúc này ta có đội hình hai hàng dọc (H7)
6 5 4 3 2 1 Hình 7
+ Hai hàng dọc thành một hàng dọc:
Khẩu lệnh: “Thành một hàng dọc … bước”
Động tác: Khi nghe khẩu lệnh “ bước ”, người số chẵn dùng chân trái bước
về phía sau chếch sang trái đứng vào sau người số lẻ, đồng thời thu chân phải về thành tư thế đứng nghiêm Lúc này ta có đội hình một hàng dọc
- Đội hình: 0 – 2 – 4:
+ Khẩu lệnh: “Thành đội hình 0 -2 - 4 … bước”
+ Động tác: Số 0 tại chỗ, số 2 bước về trước 2 bước, số 4 bước về trước 4 bước (H8)
0 2 4 0 2 4 0 2 4
Hình 8
Trang 15Khi bước xong phải chỉnh hàng ngang, hàng dọc cho thẳng
+ Khẩu lệnh: “Về vị trí cũ … bước”
+ Động tác: Em số 2 và 4 làm động tác quay đằng sau và bước về chỗ đứng ban đầu theo số bước quy định (2 hoặc 4 bước của mình), sau đó quay đằng sau thành tư thế đứng như lúc đầu Em số 0 đứng tại chỗ
Chú ý: Trước khi cho chuyển đội hình, giáo viên phải cho toàn thể học sinh điểm số 0 – 2 - 4 để các em ghi nhớ số của mình
- Chuyển đội hình: 0 - 3 - 6 - 9:
+ Khẩu lệnh: “Thành đội hình 0 - 3 - 6 - 9 … bước”
+ Động tác: Số 0 đứng tại chỗ, số 3 bước về trước 3 bước, số 6 bước về trước 6 bước, số 9 bước về trước 9 bước (H9)
Chú ý: Trước khi cho chuyển đội hình, giáo viên phải cho toàn thể học sinh điểm số 0 – 3 – 6 - 9 để các em ghi nhớ số của mình
2.2.2 Bài thể dục tay không liên hoàn:
- TTCB: Đứng nghiêm
Trang 16- Nhịp 1: Hai tay lăng từ dưới ra trước lên trên, áp sát mang tai, lòng bàn tay hướng vào nhau, mắt nhìn theo tay đồng thời kiễng gót
- Nhịp 2: Hạ gót, hai tay lăng từ trên ra trước, xuống dưới ra sau, lòng bàn tay hướng vào nhau hai gối thẳng Mắt nhìn về trước
- Nhịp 3: Bước chân trái lên một bước rộng, thành chân trái co chân phải thẳng Hai tay lăng từ sau xuống dưới, ra trước và dang ngang, lòng bàn tay úp, thân thẳng
- Nhịp 4: Đá chân phải, hai tay vổ dưới đùi phải
- Nhịp 5: Hạ chân phải xuống, đá chân trái 2 tay vổ dưới đùi trái
- Nhịp 6: Hạ chân trái xuống trước chân phải một bước nhỏ, chân phải co phía sau, hai tay dang ngang lòng bàn tay úp đồng thời xoay người sang trái 900
- Nhịp 7: Hạ hai tay và chân phải về tư thế đứng nghiêm
- Nhịp 8: Bước chân phải qua phải 1 bước rộng bằng vai, hai tay dang ngang lòng bàn tay úp, thân trên song song mặt đất, mắt nhìn về trước, hai gối thẳng
- Nhịp 9: Nghiêng người sang trái, tay phải chạm mũi chân trái mắt nhìn theo tay trái, hai gối thẳng
- Nhịp 10: Như nhịp 9, nhưng ngược lại
- Nhịp 11: Hai tay dang ngang, lòng bàn tay úp, thân thẳng
- Nhịp 12: Đưa chân trái về sát chân phải thành tư thế đứng nghiêm
- Nhịp 13: Bước chân trái lên một bước nhỏ, cả bàn chân chạm đất, đồng thời đá chân phải ra phía trước lên trên, hai tay lăng từ dưới ra trước lên trên áp sát mang tai, lòng bàn tay hướng vào nhau, xoay người sang trái 1800
- Nhịp 14: Hạ chân phải xuống, thu chân trái lên sát chân phải Hai tay lăng
từ trên ra trước và dang ngang, lòng bàn tay hướng ra sau, hai gối thẳng, mắt nhìn trước
- Nhịp 15: Hạ hai tay xuống đất, khoảng cách rộng bằng vai, ngón cái hướng vào nhau, các ngón tay hướng về trước Ngồi trên gót
Trang 17- Nhịp 16: Dùng lực đưa hai chân về sau thành tư thế nằm sấp chống thẳng tay
- Nhịp 17: Hạ hai tay, nâng chân trái, mắt nhìn theo chân trái
- Nhịp 18: Hạ chân trái xuống, nâng hai tay lên về tư thế nhịp 16
- Nhịp 19: Như nhịp 17 nhưng chân phải nâng lên
- Nhịp 20: Như nhịp 18 nhưng hạ chân phải xuống
- Nhịp 21: Duỗi cổ chân ra đẩy thân người về trước, đồng thời cố định hai tay, thu người lại sao cho gót chạm mông, mắt nhìn xuống đất
- Nhịp 22: Giơ hai tay lên cao, lòng bàn tay hướng về vào nhau, mắt nhìn thẳng
- Nhịp 23: Hạ hai tay xuống đất như nhịp15 Đồng thời bật người lên thành
tư thế ngồi trên gót
- Nhịp 24: Nâng người lên thành tư thế ngồi lưng chừng, hai tay về sau lòng bàn tay hướng vào nhau, hai gối khuỵu mắt nhìn về trước
- Nhịp 25: Bật tại chỗ xoay người sang phải 900 rơi xuống nhanh chóng về
tư thế đứng nghiêm
- Nhịp 26: Bước chân trái lên một bước nhỏ, thực hiện thăng bằng, bằng cách nâng chân phải lên cao phía sau, 2 tay dang ngang, lòng bàn tay úp
- Nhịp 27: Hạ và bứơc chân phải ra trước 1 bước Sau đó chân trái bước lên
1 bước rộng, thành chân trái co, chân phải thẳng, vặn mình sang trái, tay trái thẳng, tay phải gập, 2 bàn tay úp, mắt nhìn theo tay trái
- Nhịp 28: Bước chân phải ra trước 1 bước rộng, thành chân phải co, chân trái thẳng, vặn mình sang phải, tay phải thẳng, tay trái gập, mắt nhìn theo tay phải,
Trang 18- Nhịp 31: Như nhịp 30
- Nhịp 32: Bật nhảy tai chổ dạng chân, rơi xuống nhanh chóng trở về TTCB (H9)
Hình 9
2.3 Bài thể dục cơ bản với dụng cụ
2.3.1 Tác dụng của thể dục cơ bản với dụng cụ đơn giản
Thể dục cơ bản với dụng cụ là môn thể thao liên quan đến thực hiện các bài tập đòi hỏi tính linh hoạt, nhanh nhẹn, sự phối hợp, cân bằng, uyển chuyển … Môn thể dục dụng cụ mang lại rất nhiều lợi ích trong đời sống xã hội, trong các nhà trường hiện nay như: Một cơ thể dẻo dai; phát triển chiều cao, cân nặng; cơ phát triển; giúp xương chắc khỏe; ngăn ngừa bệnh tật, giảm căng thẳng
2.3.2 Các động tác kỹ thuật
Trang 19- TTCB: Đứng nghiêm, hai tay cầm gậy rộng bằng vai buông xuôi phía dưới sát đùi ( lòng bàn tay hướng vào trong )
- Nhịp 1: Hai tay cầm gậy co trước ngực lòng bàn tay hướng ra trước
- Nhịp 2: Chân trái bước lên trước một bước rộng thành chân trái khuỵu gối, chân phải thẳng đặt cả bàn chân xuống đất, hai tay đưa gậy lên cao, mắt nhìn theo tay
- Nhịp 3: Như nhịp 1
- Nhịp 4: Về TTCB
- Nhịp 5: Chân phải bước sang ngang rộng bằng vai, hai tay dang ngang, tay phải cầm gậy hướng dọc theo thân người, tay trái lòng bàn tay úp, mắt nhìn thẳng
- Nhịp 6: Lấy gót chân trái và mũi chân phải làm trụ quay người sang trái
900 chân phải khiển gót, hai tay cầm gậy rộng bằng vai đưa ra trước ngang vai trước mặt
- Nhịp 7: Hạ gót chân phải xuống, gập người về trước, chân trái thẳng, chân phải khuỵu gối hai tay cầm gậy ngang chạm bàn chân trái, mắt nhìn thẳng
- Nhịp 8: Đứng thẳng, hai tay đưa gậy lên cao, chân phải khiển gót, mắt nhìn theo tay
- Nhịp 9: Hạ gót chân phải xuống, lấy gót chân phải và mũi chân trái làm trụ quay người sang phải 900, mắt nhìn thẳng
- Nhịp 10: Nghiêng người (lườn) sang trái, chân trái khiển gót
Trang 20- Nhịp 15: Đứng thẳng, thu chân phải về với chân trái thành tư thế đứng nghiêm, hai tay cầm gậy co trước ngực, ngang vai
- Nhịp 16: Lấy chân phải làm trụ, chân trái co phía trước (mũi bàn chân thẳng hướng về trước), hai tay cầm gậy đưa trước mặt ngang vai
- Nhịp 17: Tay phải cầm gậy dọc trước mặt, tay trái đánh ra sau hợp với thân người khoảng 450, lòng bàn tay hướng vào trong
- Nhịp 18: Người ngồi xổm khiển hai gót chân, hai tay cầm ngang gậy hạ xuống chạm hai mũi chân, mắt nhìn thẳng
- Nhịp 19: Chân phải bước về trước một bước rộng thành chân phải khuỵu gối, chân trái thẳng đặt cả bàn chân xuống đất, hai tay cầm gậy đưa trước mặt ngang vai
- Nhịp 20: Hai tay cầm gậy xoay dọc theo thân người thành tay trái phía trên, tay phải phía dưới
- Nhịp 21: Thu chân phải về với chân trái thành tư thế đứng nghiêm, đồng thời đưa ngang gậy lên cao, mắt nhìn theo tay
- Nhịp 22: Hai tay cầm gậy hạ xuống ngang vai trước mặt, đồng thời chân trái đá lăng lên cao, phía trước chạm gậy (gối thẳng, bàn chân duỗi thẳng), chân phải khiển gót
- Nhịp 23: Chân phải hạ gót chân, đưa chân trái từ trên, xuống dưới, ra sau, mũi chân chạm đất, trọng tâm đỏ dồn vào chân phải, hai tay đưa ngang gậy lên cao, mắt nhìn theo tay
- Nhịp 24: Chân trái đá lăng ra sau ở tư thế thăng bằng đồng thời người ngã
về trước
- Nhịp 25: Hạ chân và tay xuống về thành TTCB
- Nhịp 26: Nhảy hai chân dang rộng bằng vai, hai tay cầm gậy ngang đưa ra trước mặt ngang vai
- Nhịp 27: Bật nhảy về thành TTCB
Trang 21- Nhịp 28: Giống nhịp 27 nhưng hai tay đưa gậy lên cao
- Nhịp 29: Bật nhảy về thành TTCB
- Nhịp 30: Chân phải bước lên trước một bước rộng, chân phải khuỵu gối, chân trái thẳng đặt cả bàn chân xuống đất, hai tay cầm ngang gậy lên cao mắt nhìn theo tay
- Nhịp 31: Thu chân phải về với chân trái thành tư thế đứng nghiêm, hai tay cầm gậy ngang co trước ngực ngang vai
- Nhịp 32: Hạ hai tay xuống về thành TTCB
BÀI 2 ĐIỀN KINH
Trang 22Chạy ngắn nhằm giúp các em chủ yếu rèn luyện sức nhanh, sức mạnh tốc độ đảm bảo được tăng cường sức khỏe đáp ứng được yêu cầu trong môi trường học tập
Độ nghiêng mặt tựa của bàn đạp trước thường từ 50 – 600 của bàn đạp sau 70 –
800 Khoảng cách giữa hai bàn đạp là 10 – 20cm
+ Kiểu xa: Bàn đạp trước đặt cách vạch xuất phát 2 – 2,5 bàn chân nhưng đưa bàn đạp sau lại gần bàn đạp trước và cách nhau khoảng 1 bàn chân
+ Kiểu gần: Giữ nguyên bàn đạp trước cách vạch xuất phát 1 – 1,5 bàn chân nhưng đưa bàn đạp sau lại gần bàn đạp trước và cách nhau khoảng 1 bàn chân
Góc nghiêng các mặt tựa thay đổi theo cách sắp xếp bàn đạp Nếu bàn đạp gần vạch xuất phát thì góc độ nhỏ; bàn đạp xa vạch xuất phát thì góc độ tăng lên Khoảng cách giữa hai bàn đạp và khoảng cách giữa bàn đạp tới vạch xuất phát phụ thuộc vào đặc điểm thể hình và tổ chức thể lực của người chạy (H10a,b)
Trang 23+ Theo lệnh “sẵn sàng” người chạy hơi duỗi chân và nhắt đầu gối rời khỏi mật đất, nâng mông lên hơi cao hơn vai, đồng thời hơi đưa vai nhô về trước, tập trung chú nghe phát lệnh Trọng lượng cơ thể lúc này dồn vào hai tay và chân đặt trước Hai bàn chân cần ép chặc vào hai mặt bàn đạp, đầu thoải mái mắt nhìn cách vạch xuất phát khoảng 2 – 3m Ở tư thế “sẵn sàng” góc độ của khớp gối chân đặt phía trước khoảng 65 – 1000, của khớp gối chân đặt phía sau khoảng 100 – 1200
+ Khi có tiếng súng hoặc tín hiệu pháp lệnh hai tay rời đất và đánh mạnh chân đạp mạnh vào bàn đạp gần như cùng một lúc Sau đó chân đặt phía sau nhanh chóng đánh đùi về phía trước, chân đạp phía trước đạp mạnh duỗi thẳng hết đẩy thân người lao về trước Các động tác này được thực hiện rất nhanh chóng, nhịp nhàng (H11)
Hình 11
Trang 24- Chạy lao sau xuất phát:
+ Nhiệm vụ của chạy lao sau xuất là khắc phục sức ỳ quán tính để bắt được tốc độ cao nhất Khoảng cách của đoạn chạy lao là 20 – 25m
+ Sau khi rời bàn đạp, bước thứ nhất được kết thúc bằng động tác của chân đặt phía sau nhanh chóng đặt xuống đất theo phương hướng dưới - ra sau Người chạy đạp chân càng tích cực, đạp sau càng có hiệu quả, càng nhanh chóng tăng được tốc độ
+ Độ dài của bước đầu ngắn nhất (120 – 130cm) sau đó độ dài bước được tăng dần đều đặn ở các bước tiếp theo (bước sau dài hơn bước trước khoảng 1/2 - 2/3 bàn chân)
+ Lúc rời khỏi bàn đạp độ ngã của thân về trước rất lớn nhưng sau đó thân trên được thẳng lên dần qua các bước chạy tiếp theo và hết chạy lao thì trở về tư thế bình thường như chạy giữa quãng Trong khi chạy lao không nên thẳng thân trên lên quá sớm và đột ngột làm như vậy sẽ dẫn đến sự kéo dài bước một cách đột ngột ảnh hưởng đến thành tích
+ Trong giai đoạn chạy lao hai tay cần đánh với biên độ lớn Ở những bước chạy đầu do độ ngã thân lớn, đùi không nâng được cao nên hai bàn chân không đặt trên một đường thẳng nhưng sau đó khi tốc độ tăng dần lên, thân trên thẳng lên dần, đùi nâng được cao thì hai bàn chân đặt dần dần sát lại và gần như trên một đường thẳng (H12)
Hình 12
- Chạy giữa quãng:
+ Nhiệm vụ chủ yếu của chạy giữa quãng là duy trì và phát huy tốc độ cao
đã thu được trong giai đoạn chạy lao và chuẩn bị chạy về đích
Trang 25+ Trong chạy giữa quãng thân trên hơi ngả về phía trước (7 – 90) Chân lăng sau khi rời đất chủ động đánh mạnh đùi ra trước – lên trên, lúc này cẳng chân, theo quán tính gấp lại Khi chân lăng đánh ra phía trước chú ý thả lỏng những cơ vừa tham gia đạp sau Khi đùi chân lăng đã đưa hết ra phía trước thì duỗi thẳng chân và nhanh chóng (miết) xuống dưới – ra sau, chân tiếp xúc đất bằng nữa trước bàn chân Động tác này rất quan trọng để nhanh chóng vượt qua giai đoạn chống trước, chuyển sang giai đoạn thẳng đứng, giảm lực cản khi đặt chân xuống đất và tăng lực đạp sau tiếp theo Cùng với động tác của chân lăng, chân chống tựa phải phối hợp đạp nhanh mạnh duỗi thẳng được hết các khớp Góc độ chạy đạp sau trong chạy cự
ly ngắn rất nhỏ, chỉ khoảng 42 – 500
+ Động tác đánh tay trong chạy lao cũng như trong chạy giữa quãng đều đánh chủ yếu theo chiều trước sau, khuỷu tay gập lại Khi đánh tay về trước hơi chếch vào trong, khi đánh tay về sau hơi chếch ra Góc độ khuỷu tay không cố định, khi đánh tay về phía trước, góc độ giữ nguyên khoảng 900 nhưng khi về phía sau góc độ này hơi mở ra và đạt lớn nhất lúc qua phương thẳng đứng sau đó thu nhỏ lại ở vị trí kết thúc, khi đánh tay cần chú ý thả lỏng khớp vai, bàn tay có thể hơi nắm lại
+ Động tác tay và chân có mối quan hệ chặc chẽ với nhau, đánh tay chính xác có tác dụng duy trì sự thăng bằng của cơ thể và tăng biên độ động tác trong khi chạy (H13)
Trang 26tay đưa ra sau Các phương pháp này đều có tác dụng tăng tốc độ chuyển động trên thân, rút ngắn được thời gian chạm đích
+ Động tác chạm đích, cần được luyện tập thường xuyên, đúng kỹ thuật để trở thành thói quen thì mới có hiệu quả, không bị giảm tốc độ Nếu chưa nắm được
kỹ thuật thì chỉ nên chạy băng qua với tốc độ lớn
+ Khi qua đích nên giảm tốc độ chạy dần dần, tránh dừng lại đột ngột (H14)
độ
Trang 27+ Khi người chạy vào chỗ, tay trái để dưới vạch xuất phát khoảng 5 - 10cm, làm như vậy tạo cho thân thể hướng trùng với tiếp tuyến
+ Khi chạy theo đường vòng thân hơi ngã về bên trong để khắc phục lực ly tâm, vai phaỉ cao hơn vai trái, tay phải đánh ra trước hơi hướng vào trong, tay trái khi ra sau hơi hướng ra ngoài (so với thân thể)
+ Chân của người chạy nên đặt sát với vạch trong đường chạy (cách vạch 9 - 10cm), chân phải tiếp xúc với đất bằng phía trong của nửa bàn trên chân trái tiếp xúc với đất bằng phía ngoài của nửa bàn chân trên
+ Đoạn cuối cùng của đường vòng thân thể chuyển dần sang tư thế chạy bình thường, khi chạy ra khỏi đường vòng cần chạy 2 - 3 bước hơi thả lỏng (về mặt tâm lý) sau đó tích cực chạy về đích
- Chạy 400m:
Khi chạy 400m kỹ thuật xuất phát và kỹ thuật chạy đường vòng tương tự như trong chaỵ 200m
Do cự ly chạy 400m dài hơi nên khi chạy trên đường vòng độ nghiêng người
về bên trong ít hơi, đánh tay ít tích cực và bước chạy ngắn hơi (chỉ độ khoảng 7 - 8 bàn chân) so với chạy 200m Phân phối sức để chạy hết cự ly 400m tốt nhất nên như sau 200m đầu nên chạy chậm hơi so với thành tích tối đa khi chạy 200m là 1,3
- 1,8s còn 200m sau nên cố gắng chạy hết sức của mình
- Hô hấp trong chạy cự ly ngắn:
Trong quá trình chạy ngắn, hiện tượng thiêú dưỡng khí trong cơ thể xuất hiện ở mức rất cao, do đó sự bù đắp với lượng dưỡng khí tối thiểu bằng thở của vận động viên trong khi chaỵ có một ý nghĩa rất quang trọng
Trong tập luyện cũng như trong thi đấu vận động viên chạy cự ly ngắn phía làm đúng những quy định sau:
+ Sau khi nghe lệnh “vào chổ” phải thở sâu hơi
+ Trong những bước đầu khi chạy lao phải thở ra nhanh và hết
+ Không nên nhịn thở trong chạy giữa quãng
Trang 28+ Thở ra thật mạnh sau đó hít vào thật sâu
Trong chạy 400m vì yêu cầu dưỡng khí rất cao nên thở đúng rất quan trọng Mặt dầu vận động viên không cảm thấy sự đòi hỏi phải thở nhiều trong đoạn 30 - 50m đầu nhưng không nên xem thường mà ngay từ lúc sắp xuất phát phải làm vài động tác thở ra và hít vào thật sâu Ngay từ lúc bắt đầu xuất phát phải duy trì nhịp điệu thở sẵn có Thở sâu và có nhịp điệu được tạo nên lúc bắt đầu chạy phía được duy trì ổn định kéo dài
1.2.2 Đường chạy và luật:
- Đoạn đường thẳng phải dài hơn cự ly chạy là 20m (5m trước vạch xuất phát, 15m sau vạch đích)
- Chiều rộng mỗi ô chạy là 125cm Các ô chạy cách nhau một vạch trắng có chiều rộng là 5cm
- Cự ly chạy 100m được tính từ mép sau vạch xuất phát đến mép sau vạch đích
- Các vạch xuất phát trong môn chạy theo ô riêng biệt là vạch kẻ ngang qua các ô chạy Nếu xuất phát ở đoạn đường thẳng thì vạch xuất phát kẻ vuông góc với hai vạch giới hạn của ô chạy Nếu xuất phát ở đoạn đường vòng thì vạch xuất phát phải chéo theo hướng bán kính của đường vòng đi qua nơi xuất phát
- Vạch đích là vạch kẻ ngang qua các đường chạy và vuông góc với đường viền trong của đường chạy Cách vạch đích trước khi kết thúc cự ly chạy, kẻ 5 vạch song song qua hết đường chạy, vạch nọ cách vạch kia 1m
- Dây đích rộng 1cm màu đỏ hoặc màu trắng Dây đích phải chiếu song song với vạch đích và cao 1,22m Nam, đối với 1,1m nữ
- Do cấu tạo của sân nên mỗi đợt chạy tối đa 8 vận động viên Nếu có nhiều vận động viên thi đấu thì phải rút thăm để phân chia ô chạy, đợt chạy Phải đấu loại để chọn 8 vận động viên vào thi chung kết
- Trước mỗi đợt chạy, người chạy tập hợp sau vạch xuất phát để trọng tài điểm danh cho vào vị trí đóng bàn đạp Đóng bàn đạp xong, mọi người phải tập trung về vị trí cũ của mình Khi có lệnh “vào chỗ” thì vào vị trí xuất phát của mình
Trang 29Khi có lệnh “Sẵn sàng” từ từ đưa người về trước chuẩn bị cho xuất phát và khi có lệnh “chạy” thì lập tức chạy
2.1 Tác dụng của chạy cự ly trung bình:
Chạy cự ly trung bình nhằm giúp các em chủ yếu rèn luyện sức bền đảm bảo được tăng cường sức khỏe đáp ứng được yêu cầu trong môi trường học tập lâu dài
2.2 Các động tác kỹ thuật
- Cách xuất phát và tăng tốc độ xuất phát:
+ Chạy cự ly trung bình dùng tư thế xuất phát cao Trong chạy 800m xuất phát riêng từng ô qua hai đường vòng đầu rồi mới chạy vào đường chung Vận động viên chạy 1500m trở lên xuất phát chung một nơi
+ Ở tư thế chuẩn bị xuất phát (tư thế vào chổ) người chạy đặt chân khỏe phía trước, ngay sau vạch xuất phát, chân kia đặt sau cách chân trước 30 - 50cm và tiếp xúc với đất bằng nửa bằng chân trên
+ Ở cự ly 800 m khi nghe lệnh “sẵng sàng” người chạy hơi khuỵu chân xuống, thân trên đổ về trước, trọng tâm thân thể dồn vào chân trước, tay kia co tự nhiên đặt phía sau Người ta cũng có thể chống tay ngược bên với chân đặt trước xuống đất (xuất phát ba điểm tựa) Cự ly chạy càng ngắn thì tư thế cơ thể càng gần
tư thế xuất phát thấp
Trang 30+ Ở cự ly 1500 m trở lên người ta chỉ dùng hai lệnh là vào chổ và phát lệnh (bằng tiếng súng, tiếng hô hoặc tín hiệu khác) Do vậy sau khi vào chổ người chạy phải giữ tư thế thuận tiện cho xuất phát để chuẩn bị chạy
+ Khi có lệnh “chạy” người chạy đạp mạnh chân lao ra với cố gắng chiếm vị trí mép trong đường chạy Sau xuất phát vẫn giữ tư thế nghiêng thân để tăng tốc
độ, sau đó thân trên dần dần thẳng trở lại bình thường với những bước chạy dài dần, tốc độ tăng dần rồi chuyển sang chạy với nhịp điệu đều hơn ở giữa quãng Khi chạy ở đường vòng thân trên cần nghiêng vào phía trong để khắc phục lực ly tâm, bàn chân cần đặt hơi xoay mũi chân vào trong (H15a,b)
Hình 15a Hình 15b
- Kỹ thuật chạy giữa quãng:
+ Trong chạy giữa quãng, thân người hơi ngã về trước (40 - 60) hay thẳng đứng Lúc này hông của người chạy cần chuyển nhiều về trước, chân tiếp xúc với đát bằng nửa trước bàn chân, sau đó chuyển tới cả bàn, khi chạy bàn chân cần đặt thẳng theo hướng chạy
+ Giai đoạn đạp sau là giai đoạn quang trọng nhất, sau khi cần tích cực và duỗi hoàn toàn các khớp hông, gối, bàn chân Góc độ đạp sau trong chạy cự ly trung bình và dài là 50 - 550 Đạp sau đúng thì hông sẽ chuyển nhiều về phía trước, đùi chân lăng đưa ra trước, lên trên gần song song với mặt đất, cẳng chân co lại (ở
cự ly dài thì đùi đưa thấp hơn) Trong lúc đưa chân lăng về phía trước cần chú ý hết sức thả lỏng cẳng chân Khi ở trên không cần giữ thân thể căng bằng và thả lỏng các cơ thân mình
+ Độ dài bước của người chạy cự ly trung bình dài khoảng 160 - 215cm Độ dài bước chạy không ổn định là phụ thuộc vào sự mệt mỏi, chất lượng đường chạy, tốc độ, sức gió… Tần số bước chạy trung bình khoảng 170 - 220 bước/phút
Trang 31+ Đánh tay trong khi chạy phải nhịp nhàng, thoải mái theo nhịp bước của chân, phải hết sức thả lỏng các cơ ở vai Động tác tay còn giúp cho việc giữ thăng bằng thân thể trong khi chạy Kỹ thuật đánh tay tương tự như trong chạy cự ly ngắn nhưng không nhanh mạnh bằng (H16)
Hình 16
- Chạy về đích:
Việc tăng tốc độ về đích được đặc trưng bởi việc tăng tần số bước, đánh tay mạnh hơn và hơi tăng độ ngã của thân trên Sau khi qua đích, VĐV không được dừng lại đột ngột mà chuyển sang chạy chậm và sau đó là đi bộ để dần dần chuyển
cơ thể về trạng thái tương đối yên tĩnh
- Kỹ thuật chạy trên đường vòng:
Khi chạy trên đường vòng thân trên hơi đỗ về bên trái để chống lại lực ly tâm, tay phải khi ra trước đánh vào trong, tay trái khi ra sau đánh hơi ra ngoài, bàn chân hơi đặt chếch vào trong
- Hô hấp trong chạy:
+ Nhịp hô hấp phụ thuộc vào đặt điểm người chạy, cự ly và tốc độ chạy
+ Khi tốc độ không lớn thì nhịp thở là 3 bước hít vào, ba bước thở ra Nếu tốc độ tăng lên thì nhịp thở mau hơi (2 bước hít vào 2 bước thở ra) Khi rất mệt mỏi thì nhịp thở không thể phối hợp được theo nhịp chạy
+ Khi thở cần thở cả mũi, miệng, thở sâu tích cực Chú ý phải thở sâu ngay
từ những bước đầu để giữ nhịp thở và tránh nợ Oxy quá sớm
Trang 322.3 Một số quy định trong luật điền kinh về chạy cự ly trung bình
- Độ dài của một vòng chạy tiêu chuẩn phải là 400m Nó phải bao gồm 2 đường thẳng song song và 2 đường vòng có bán kính bằng nhau
- Cự ly thi đấu phải được đo từ mép vạch xuất phát phía xa hơn tính từ đích cho tới mép vạch đích ở phía gần với điểm xuất phát hơn
- Trong các cuộc thi đấu quốc tế áp dụng điều luật 12.1(a), (b), (c) vòng chạy phải có 8 ô chạy
- Độ nghiêng sang ngang tối đa được phép của vòng chạy không được vượt quá 1/100 và độ nghiêng toàn bộ dốc xuống theo hướng chạy không được vượt quá 1/1000
Ghi chú: Đối với vòng chạy mới, độ nghiêng sang ngang phải nghiêng về phía ô chạy phía trong
- Trong các cuộc thi dài hơn 400m, khẩu lệnh sẽ là "vào chổ" và khi tất cả các vận động viên ổn định, súng hoặc thiết bị phát lệnh sẽ nổ Vận động viên không được phép chạm đất bằng 1 tay hoặc 2 tay trong lúc xuất phát
- Nếu vì bất kỳ lý do nào mà trọng tài phát lệnh không thoả mãn với việc tất
cả đã sẵn sàng cho xuất phát, thì sẽ ra lệnh cho tất cả các vận động viên lùi khỏi tư thế "vào chỗ" và trợ lý trọng tài xuất phát sẽ bố trí họ trên vạch chung lại
Trang 33- Khi ở tư thế vào chỗ, vận động viên không được chạm vào vạch xuất phát hoặc đất phía trước vạch xuất phát bằng chân hoặc tay của mình
- Khi thực hiện lệnh "vào chỗ" hoặc "sẵn sàng", tất cả các vận động viên phải lập tức và không được chậm trễ ở vào tư thế đầy đủ và cuối cùng của họ
LỖI XUẤT PHÁT
Vận động viên sau khi đã vào chỗ và ở tư thế sẵn sàng chỉ được phép bắt đầu hành động xuất phát của mình sau khi nghe thấy tiếng nổ của súng phát lệnh hoặc của máy phát lệnh Nếu, theo nhận định của trọng tài phát lệnh hoặc trọng tài bắt phạm quy, vận động viên đã không thực hiện đúng như vậy thì bị coi là phạm lỗi xuất phát
Cũng sẽ bị coi là phạm lỗi xuất phát nếu, theo nhận định của trọng tài phát lệnh:
- Vận động viên không tuân thủ mệnh lệnh “vào chỗ” hoặc “sẵn sàng” một cách nghiêm túc trong một thời gian hợp lý
- Vận động viên, sau khi có lệnh “vào chỗ”, có hành động quấy rầy các vận động viên khác trong đợt chạy bằng tiếng ồn hoặc các hành vi khác
Ghi chú: Khi thiết bị phát hiện lỗi xuất phát đang hoạt động (xem Điều 161.2 về hoạt động của thiết bị) thì bằng chứng của thiết bị này thông thường sẽ được công nhận như quyết định của trọng tài phát lệnh
- Vận động viên mắc lỗi xuất phát sẽ bị cảnh cáo Trong một đợt chạy chỉ một lỗi xuất phát lần đầu là không bị truất quyền thi đấu còn bất kỳ vận động viên nào phạm lỗi xuất phát sau đó thì sẽ bị loại khỏi cuộc đua Trong thi đấu nhiều môn phôí hợp nếu một vận động viên gây ra hai lỗi xuất phát sẽ bị truất quyền thi đấu
- Trọng tài phát lệnh hoặc bất kỳ trọng tài bắt phạm quy khi thấy có phạm quy trong xuất phát, phải gọi các vận động viên lại bằng một phát súng
Ghi chú: Trong thực tế, khi một hoặc nhiều vận động viên phạm lỗi xuất phát, những vận động viên khác bị ảnh hưởng theo và nói đúng ra, bất kỳ vận động viên nào làm như vậy cũng bị lỗi xuất phát Song trọng tài phát lệnh chỉ cảnh cáo vận động viên hoặc các vận động viên là nguyên nhân gây ra lỗi xuất phát Điều
Trang 34này có thể dẫn tới kết quả là nhiều hơn so với một vận động viên bị cảnh cáo Nếu việc xuất phát phạm quy xảy ra song không do bất kỳ vận động viên nào gây ra thì
sẽ không có việc cảnh cáo Ở cự ly 1000m, 2000m, 3000m
- Trường hợp có nhiều hơn 12 vận động viên trong cuộc thi, các vận động viên phải được chia thành 2 nhóm và một nhóm khoảng 65% vận động viên trên vạch xuất phát hình vòng cung bình thường, còn nhóm kia trên vạch xuất phát hình vòng cung riêng được vẽ ngang qua nửa phía ngoài của tuyến đường Nhóm sau phải chạy cho tới cuối của đường vòng thứ nhất trên nửa ngoài của tuyến đường
- Vạch xuất phát hình vòng cung riêng phải được kẻ theo cách để tất cả các vận động viên phải chạy qua cùng một cự ly như nhau Vạch cho phép chạy vào đường chung đối với cự ly 800 m được mô tả trong điều luật 163.5 chỉ rõ chỗ mà ở
đó các vận động viên ở nhóm bên ngoài trong cự ly 2000 có thể hợp nhất với các vận động viên sử dụng xuất phát bình thường Vòng đua phải được đánh dấu tại chỗ bắt vào đoạn thẳng đích đối với các xuất phát theo nhóm trong cự ly 1000 m,
3000 m để chỉ rõ chỗ các vận động viên xuất phát ở nhóm bên ngoài có thể hợp nhất với các vận động viên sử dụng xuất phát bình thường
Dấu này phải là 5cm x 5cm trên vạch giữa ô chạy 4 và 5 (ô 3 và 4 trong vòng đua có 6 ô) tại đó một vật mốc hoặc cờ được bố trí cho tới khi 2 nhóm hội tụ
3 Nhảy cao
3.1 Tác dụng của nhảy cao:
Nhảy cao giúp cho HSSV phát triển sức nhanh, sức mạnh, sự khéo léo mà đặt biệt là sức bật, một yếu tố rất cần thiết cho các môn thể thao khác Tập luyện nhảy cao giúp cho các em rèn luyện ý chí bền bĩ, lòng dũng cảm không sợ khó
khăn, nguy hiểm luôn tự tin vào chính bản thân mình
3.2 Các động tác kỹ thuật:
Nhảy cao có thể chia thành các giai đoạn liên tục sau đây
- Lấy đà và chuẩn bị giậm nhảy
- Giậm nhảy
- Chuyển qua xà
Trang 35- Kiểu lưng qua xà
Những vận động viên đẳng cấp cao thường dùng kiểu nhảy “ úp bụng ” hoặc kiểu nhảy “lưng qua xà” Các em thiếu niên hay người mới tập thường nhảy bằng kiểu “ bước qua”, một số ít dùng kiểu “nằm nghiêng” Trừ kiểu nhảy “lưng qua xà”, các kiểu nhảy khác điều tương đối giống nhau về kỹ thuật chạy lấy đà, chuẩn
bị giậm nhảy và giậm nhảy
3.2.1 Chạy lấy đà và chuẩn bị giậm nhảy:
- Người ta dùng 5 – 9 bước để chạy lấy đà nhảy cao, cự ly toàn đà được đo bằng thước dây, bằng bàn chân hoặc bằng bước đi thường (2 bước đi bằng 1 bước chạy)
- Tư thế chuẩn bị chạy đà là đứng 1 chân đặt phía trước, chân kia đặt phía sau (nếu chạy với bước chẵn thì chân giậm đặt phía trước, với bước lẻ thì đặt phía sau), thân trên có thể hơi ngã về trước, tay thả lỏng tự nhiên và bắt đầu chạy Một
số người khác dùng cách đi bộ vài bước đến vạch xuất phát mới bắt đầu chạy
- Ở giai đoạn đầu của chạy lấy đà, cần chạy thoải mái, có đàn tính, tăng dần tốc độ, thân trên hơi ngã về phía trước và hai tay phối hợp tự nhiên
- Ở 2 – 4 bước cuối trước giậm nhảy cần hạ thấp trọng tâm thân thể và chân đặt xuống bằng gót rồi lăng nhanh qua mũi chân, đặc biệt ở bước thứ hai trước giậm nhảy, người hạ thấp xuống nhất và chân chống tựa phải ép đầu gối xuống rồi đạp mạnh về phía trước, kéo dài độ dài bước thứ hai, chuẩn bị chuyển sang bước cuối và giậm nhảy
Trang 363.2.2 Giậm nhảy:
- Kết thúc bước thứ hai chuyển qua bước cuối, chân lăng khi chạm đất nhanh chống đạp xuống, đồng thời chân giậm nhảy nâng đùi đưa về phía trước, cẳng chân co tự nhiên đưa sát mặt đất, khi gót chân tiếp xúc với mặt đất, chân hầu như thẳng Do việc đưa chân giậm về trước nhanh mà thân trên bị lưu lại phía sau Lúc này thân trên cùng với chân giậm nhảy gần như làm thành một đường thẳng, hai tay ở phía sau
- Tiếp theo thân thể di động về phía trước thì chân giậm nhảy khuỵu gối đưa hông nhanh chống về trước lên trên, bàn chân chuyển từ gót lên đến mũi Chân giậm dùng lực tuần tự qua các khớp hông, gối, cổ chân, để đưa thân thể bốc lên cao Động tác giậm nhảy hoàn thành với chân giậm nhảy duỗi thẳng, phối hợp với động tác đá lăng đánh tay
- Động tác đá lăng được thực hiện ngay trước khi chân giậm chạm đất, chân lăng đá mạnh từ sau ra trước lên trên, khi chân đá lăng vượt qua chân giậm nhảy phải đá lăng thẳng và bàn chân gập lại, sau đó khi cơ thể bốc lên cao, chân đá lăng
có thể thả lỏng khớp gối Bàn chân giậm nhảy đặt đúng theo hướng chạy lấy đà, chân lăng cần đá lăng theo hướng của bàn chân giậm, nhưng hơi chếch ra phía ngoài xà (Hình17)
Hình 17
3.2.3 Chuyển qua xà và rơi xuống đất “Kiểu nằm Nghiêng”:
- Đặc điểm kiểu nhảy này là chạy lấy đà cùng bên với chân giậm nhảy, phương hướng chạy lấy đà tạo với xà ngang một góc khoảng 30 – 400, vị trí giậm nhảy cách đường chiếu của xà ngang khoảng 70 – 90cm
- Kết thúc giậm nhảy, cơ thể bay lên với tư thế thẳng đứng và thân trên hơi ngã về phía chân giậm Khi chân lăng đưa lên trên xà, mũi chân xoay vào trong và
Trang 37ép xuống đồng thời chân giậm co gối thu lại, bàn chân giậm đặt ở kheo chân lăng Người nhảy nghiêng mình hình thành tư thế nằm nghiêng trên xà Tiếp theo chân lăng hơi duỗi dọc theo xà và hất gót chân lên phí trên, vai cùng bên với chân lăng tích cực ép mạnh xuống dưới tạo điều kiện thuận lợi cho xoay thân tiếp tục vược qua xà Sau đó chân giậm và thân trên tích cực hạ xuống Người nhảy có thể rơi xuống bằng chân giậm nhảy cùng với hai tay hoặc chỉ bằng chân giậm nhay, sau
đó chân lăng cùng chạm đất (H18)
Hình 18
3.3 Một số quy định trong luật điền kinh về nhảy cao
Luật điền kinh phần nhảy cao được áp dụng trong các cuộc thi nhảy cao ở Việt Nam và trên toàn thế giới Và luật nhảy cao kiểu bước qua cũng được áp dụng tại các cuộc thi bước qua trên thế giới
- Trước khi bắt đầu vào cuộc thi thì các vận động viên tham gia thi đấu nhảy cao sẽ được nhảy thử để làm quen với đường đi và mức xà
- Trước lúc thi, ban trọng tài sẽ bàn luận và thống nhất và thông báo với các vận động viên mức xà khởi điểm và các mức nâng xà sau mỗi lượt thi đấu là bao nhiêu Mức nâng xà chỉ được dừng lại khi chỉ còn một vận động viên, và đây cũng chính là người chiến thắng chung cuộc ở trận đấu này
- Khi chưa tìm ra được vận động viên nào là người thắng cuộc cuối cùng thì trọng tài sẽ tìm ra người chiến thắng bằng cách:
+ Nâng mức xà, mức nâng xà thấp nhất cho mỗi lần nhảy là 2 cm, các lần nâng mức xà sau đó là như nhau
+ Khi chỉ còn một vận động viên thì mức nâng xà đó chính là kỷ lục tại thời điểm đó Mức nâng xà bao nhiêu phụ thuộc vào vận động viên đó
Trang 38- Trong luật điền kinh phần nhảy cao thì khi nhảy qua xà, vận động viên chỉ được phép giậm nhảy bằng một chân
- Nếu có một VĐV đang thực hiện phần thi của mình thì các VĐV còn lại không được phép đứng ở khu vực thi
- Thời gian thi đấu cho mỗi VĐV thực hiện phần thi của mình là 1 phút, tính
Trang 39CHƯƠNG II: MÔN THỂ THAO TỰ CHỌN
CHUYÊN ĐỀ 1: BÓNG ĐÁ Mục tiêu:
Sau khi học xong chuyên đề này người học đạt được
Bóng đá là môn thể thao được nhiều người yêu thích, bởi vì tập luyện Bóng
đá ngoài việc nâng cao súc khỏe, làm cho cơ thể cường tráng, phát triển cân đối; thông qua việc tập luyện và thi đấu bóng đá còn giáo dục đạo đức phẩm chất, tính dũng cảm, ngoan cường, tình đồi đội, tình yêu thương lẫn nhau, tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục mọi khó khăn và nhất là động viên tinh thần dân tộc, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
Ở chương trình này chúng tôi chỉ giới thiệu môn bóng đá mini 5 người
2 Các động tác kỹ thuật
2.1 Kỹ thuật di chuyển:
- Xuất phát: Là kỹ thuật chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động hoặc tăng tốc độ, kỹ thuật này nhằm tranh thủ không gian và thời gian Trong thi đấu, có
Trang 40khi vận động viên từ trạng thái tĩnh tiến hành xuất phát nhanh hoặc từ trạng thái hoạt động tiến hành xuất phát nhanh Muốn vậy, yêu cầu vận động viên đạp đất mạnh, trọng tâm cơ thể hơi thấp xuống, thân người hơi ngã về trước, bước chân ngắn
- Chạy nhanh: Chạy tốc độ của một vận động viên bóng đá khác với cự ly ngắn của môn điền kinh Bởi vì trong trận đấu bóng đá, có lúc yêu cầu vận động viên chaỵ nhanh về trước, cũng có khi chạy sang trái, sang phải để tiếp ứng đồng đội hoặc để truy cản đối phương, nhưng có lúc chậm, có lúc tăng tốc độ…Chạy trong bóng đá tùy theo tình huống cụ thể trên sân mà vận động viên sử dụng các loại chạy khác nhau có thể chia các loại chạy như sau: chạy thẳng, chạy đổi hướng, chạy tốc độ , chạy lùi…
- Dừng đột ngột: Là phương pháp khống chế tốc độ một cách đột ngột Trong thi đấu bóng đá đang trong trạng thái truy bắt bóng với đối phương, bỗng dưng dừng lại tức thì, làm động tác giả… Dù phương pháp dừng thế nào đi chăng nữa, như yêu cầu phải dùng hết lực để chân bám chặt đất, đồng thời đầu gối, trọng tâm hạ thấp xuống, khiến cho trọng tâm hướng về phía ngược với hướng vận động với một độ nghiêng nhất định, làm giảm lục xông tới (quán tính), bàn chân dùng lực đạp đất, cơ thể hạ thấp để giảm lực xông về phía trước
- Bật nhảy: Là một phương pháp di động được sử dụng nhằm chiếm vị trí không gian có lợi nhất của các vận động viên trong thi đấu bóng đá Bật nhảy chia làm giậm nhảy một chân và giậm nhảy hai chân
- Di chuyển vị trí: Là việc di chuyển các bước chân một cách hợp lý nhằm giành được vị trí có lợi nhất của vận động viên trong thi đấu (trong tấn công cũng như trong phòng thủ) Thông thường, vận động viên sử dụng các bước như: bước trượt, bước chéo, bước lùi…Trong thực tế được kết hợp nhiều loại bước để thực hiện ý đồ
- Trong bóng đá nói chung, hay trên sân bóng đá mini 5 người nói riêng Việc chọn vị trí chạy chỗ cũng rất quan trọng Bạn cần chọn đúng vị trí sở trường của mình Nếu là hậu vệ thì cần biết lùi và bo khung thành tốt Nếu là tiền vệ thì biết chạy chỗ, điều khiển nhịp độ trận đấu tốt Nếu là tiền đạo thì phải biết dứt điểm và kỹ năng cá nhân tốt
- Chạy chỗ trong bóng đá 5 người sẽ kết hợp với nhau, lên xuống Nếu bạn nhận được bóng bạn cần quan sát và chuyền cho người đang chạy chỗ thích hợp