Trong sự chuyển biến chung của VH thời đại mình, truyện ngắn sau 1975 của nhà văn Nguyễn Khỏi bộc lộ rõ sự đổi mới ở nhiều phương diện, mà dễ nhận thấy nhết là đổi mới trong quãn niệm n
Trang 1$1ƒ Đổi Mũi QUAN NIEM NGHE THUAT VE CON NGUGI TRONG TRUYEN NGAN NGUYÊN KHẢI SAU 1975
ổi mới là vấn để tat yếu, là nhu cầu cần
1: cho sự tổn lại và phát triển của văn học
(VHỊ Đổi mới VH bao giờ cũng bắt nguồn
lừ những đòi hỏi khách quan của đời sống xã
hội và đòi hỏi của bản thân VH Trong sự chuyển
biến chung của VH thời đại mình, truyện ngắn
sau 1975 của nhà văn Nguyễn Khỏi bộc lộ rõ sự
đổi mới ở nhiều phương diện, mà dễ nhận thấy
nhết là đổi mới trong quãn niệm nghệ thuột
(GNNT về con người (CN)
1 GNNT về CN là cất lõi tự tưởng, là thước
đo sự tiến bộ nghệ thuột của một nhà văn, Nó là
cách cắt nghĩa của VH đối với CN «Bỏ qua
QNNT vé CN sé d&n đến hiểu gián đơn bản chất
phản ánh của văn nghệ Hoặc là đẳng nhất ty
lưởng sóng lóc với thế giới quan, hạ thấp yêu
cầu sóng tạo của tư tưởng nghệ thuột, thẩm mĩ
cỏa tóc giỏ cho rằng nhà văn chỉ có têm hồn là
đủ Hoặc rút gọn tiêu chuẩn củo tính chôn thực
vào một điểm là tả giống hay không giống so
với đối tượng và như vộy kết quả cũng xem nhẹ
vai trò sáng tạo nghệ thuột của nhờ văn” [1] Qua
lác phẩm, người tạ có thể tìm thấy một GNNT
nào đó của lóc giá về CN Theo quan điểm của
thị phép học, GNNT về CN là một trong những
yếu tố cơ bản, then chết nhốt của chỉnh hề nghệ
thuột Nó góp phần chi phối tính độc đáo của
chính thể ấy Do thế giới quan, li tuéng thẩm mĩ
và có lính sóng lạo khóc nhau mà mỗi nhà văn
có một cách lựa chọn và thể hiện nhên vột riêng
Nấu các nhà văn Tự lực văn đoàn quan niệm CN
lí tưởng là CN ới tĩnh, CN ảo vọng thì các nhà
văn hiện thực quan tâm đến CN đời thường, lao
động, khổ đau Còn trong văn học Việt Nam
1945 - 1975, quan niệm gắn bó với cuộc sống
để nêu gương về CN là một nội dung nổi bột
Chính từ quan niệm này, CN trong VH đã được
nhìn chủ yếu dưới góc độ sử thi; được nhìn nhận,
cảm thy, danh gid trong quan hệ cộng đồng,
theo tình cảm vẻ lợi ích cộng đồng Một sự thay
}
3 ThS DANG THI MAY"
adi phat triển có tính chất hệ hình trong QNNT
về CN phải chờ đến VH Việt Nam thời đổi mới,
mà thể loại hội tụ rõ nhết sự phát triển này là
truyện ngắn vì «lruyện ngắn sống bằng nhôn vột”
và nó bộc lộ đầy đủ «những đặc tính của thể loại
ưu việt, mở ra cho VH những đề tài vò vốn dé mới củo đời sống nhôn dên những hình tượng VH mới” [2] Truyện ngắn 1954 - 1975 do quán xuyến bởi quen niệm CN tập thể, CN quần chúng nên nhôn vật thường được thể hiện trong các sự kiện, biến
cố lịch sử hơn là những quen hệ, biến cố đời tư Còn sau 1975, nhân vat trong truyện ngắn thường được thể hiện qua cóc quan hệ đời thường, qua thế giới nội tâm, qua miễn ý thức, vô thức đầy bí
ẩn, phức tạp Cùng xu hướng khóm phé, thể hiện mới mê về con người nhự vộậy, truyện ngắn hôm nay đã hình thành một số kiểu con người mới: CN
Tự nhiên, CN tôm linh, CN.tự nhện thức bên cạnh
CN tư tướng, CN đại diện cho cộng đồng
2 Truyện ngắn của Nguyễn Khỏi luôn tạo ra những nhên vột có bộ mặt tinh thần hoàn toàn riêng biệt, những tình huống có chiểu sôu triết học và tâm lí để hướng tới céi cao dep trong doi sống tình thần của CN Vì cho dù nhà văn có thể miêu lẻ về cái xấu xa nhưng «thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao cả, cái tết đẹp,
cái thuỷ chung” Song cũng phải thừa nhộn rằng, QNNT về CN của nhà văn in dếu trong tết có các thể loại VH mà ông ta lựa chọn Vò Nguyễn Khải cũng không phải ngoại lệ vì vả cơ bón, thé giới nhân vật trong Hiểu thuyết, ghi chép, bút ki, lán văn vỏ truyện ngắn của ông vẫn có những nét gần gũi nhau; nhưng riêng thể loại truyện ngắn,
do dung lượng đòi hỏi sự dồn nén hơn, việc sóng kác cũng có lính chết kịp thời hơn, nên nhén vat được xêây dựng qua cái nhìn sắc nét, toàn diện
và khói quát hơn Mặt khác, «với thể loại truyện ngắn, cóc yếu tố nhên vột, cốt truyện, kết cấu và ngôn ngữ trần thuột chính là những phương diện
* Tnướng Dao đẳng sư phạm Hải Dương
Tan chi Glao duc sé 185 «as - 3/2008)
Trang 2hình thức thể hiện nổi bật nhất GINCN và đặc
điểm mới cúa thể loại do GINCN đem lại” [3]
Thời kì trước 1 9O nhốt là những truyện ngắn
đầu lay cúa Nguyễn Khải (Ra ngodi - 1951, Xdy
dựng - 1952, Đi tới - 1958| nhân vột mới chỉ
là những CN chịu sự điều khiển chứ chưa phỏi là
CN tự làm chủ mình Giữa nhà văn với nhân vật
van tén tại một khoảng cách khá xo, một mối
quan hệ hoàn toàn li tri vi sy chi phối của lối viết
kể lễ, chạy theo sự việc và một quơn niệm xuôi
chiều về CN Đến ] 960, với tập truyện ngắn Ádùg
lạc, Nguyễn Khải đã bộc lộ mét quan niệm lí
tưởng về hình mỗu con người mới lrong cuộc
sống Nhà văn đã miêu tỏ họ như một hiện thôn
của ước vọng đẹp đẽ về một cuộc sống hạnh
phúc được xôy dựng trên tình yêu thương của
cộng đồng Họ là những người giàu đức hi sinh,
giàu lòng vi tha, nhên hộu và sống có lí tưởng
Bên cạnh đó, sự quan tâm của nh văn đến số
phộn những con người bé nhỏ, nạn nhân của
cuộc đời cũ (Đào, em Tốm } như muốn khẳng
định: môi trường sống tốt đẹp, giàu tình người
sẽ là mảnh đất tết cải hoá tâm hồn CN, để cói
thiện nảy mầm, thể chỗ cho cói xấu và cái óc
Thành công củo lập truyện ngắn Alùa lạc chính
là ở chỗ tác giả đã gửi được một thông điệp lớn,
một lời đề nghị tha thiết hãy quan tôm đến số
phện của mỗi con người, và trên trọng những
khát khao chân chính ở họ, nhìn thấy ở họ những
điều tốt đẹp mà nhiều khi do hoàn cảnh sống
phải tự che lấp đi dưới những biểu hiện của cách
sống bốt cẩn, tao ton hay dé dat hodi nghi
Nhân vật trong những truyện ngắn của
Nguyễn Khải trước 1975, chủ yếu được soi chiếu
trên bình diện gioi cấp và cuộc sống tập thể Sự
khắc hoạ, miêu tả nhên vệt thường để làm nổi
bat mét khía cạnh, một vấn đề nào đó đong đặt
ra trong đời sống xã hội, chính trị của đết nước
Tính vấn đề tồn tại như một yếu tế trước nhất có
sức chí phối mọi suy nghĩ, quan sat của nhò văn
và đặc biệt trong khi xây dựng nhên vột Nguyễn
Khải thường rốt tỉnh táo khi dẫn dắt nhên vat
theo một đường hướng nhất định, luôn chỉ cho
họ phải làm gì để phục vụ cho mục đích tư tướng
mè tác giả đề xuất; vì thế nhôn vat của ông chưa
bao giờ «dắt" tác giả, «gọi” tác giả hay rơi vào
tình trạng «nổi loạn” như của Puskin và L.Tônxtôi
Sau 1975, VH sau những bước chuyển thðng
trầm mà dữ dội đang trở nên lắng đọng hơn vờ
cũng đích thực hơn, ngòi bút của Nguyễn Khải
Tap chi Glao dục số 185 (a1 - 3/2008)
cũng có chiều sâu hơn Cùng với sự đổi mới trong
tu duy nghệ thuột, Nguyễn Khải có một quan niệm đầy đủ hơn về CN CN trong sóng tóc của ông, nhốt là những truyện ngắn gần đêy được đặt trong nhiều chiều, được định vị với những gió trị có tính căn bản, bên vững, phổ quớt chứ không chỉ Ìà tiên tiến hay lạc hau, dé cao hay phê phón một chiêu
ý thức mở rộng khỏ năng chiếm lĩnh hiện thực, khám phá phát hiện về CN đã trở thành yếu tố thường trực chỉ phối cách viết của nhà văn Bân cạnh tư cách CN lịch sử, CN trong quan hệ với thời gian, trong các sáng lác của Nguyễn Khải đầu năm 8O đã xuất hiện tu cách CN có nhên
Đề cộp đến cuộc đời, số phận CN trong số phan dai thường, ngòi but Nguyén Khai da dat đến chiéu su nhan ban dang quy Hon thé, ngoi bút này đã khắc phục được khiếm khuyết trong những sóng tóc trước kia Giờ đôy, với cói nhìn hiện thực toàn vẹn hơn, ông thực sự trở thành nhà văn của đời thường, quan lâm nhiều hơn đến những vấn đề có tính chết triết lí nhôn sinh hơn là đưa ra những vốn đề có tính chất chính luộn Viết
về CN «hôm nay”, Nguyễn Khải chú ý đến khát vọng tính thần và những giớ trị đạo dic, nhan cách bản vững trước mọi tác động của hoàn cảnh Nân những nhân vật mà nhà văn tâm đắc thường
có trí tuệ có cết cách, biết lựa chọn cho mình một lối sống, một cách sống mà họ tìn.lò đúng Có lẽ cũng vì thế, hầu nhự không đề cập đến CN tự nhiên, và thế giới nhân vat cia ông ít có những
nhên vật hai mặt, đa diện, da nghĩa phức tạp
giữa bóng tối và ánh sóng, giữa tiềm thức và vô thúc Quan niệm CN gắn với thời thế, nhà văn quan tam dén khả năng thích ứng với thời cuộc, thích ứng nhưng không phải là cơ hội vì mỗi thời
CN cần có sự lựa chọn phù hợp với chuẩn thời đại nhựng mặt khác vẫn không được đánh mốt mình, Bằng thế giới nhân vột của mình, Nguyễn Khải dần đi tới việc đi tìm những giá trị tương ứng với CN, với thời đại, những giá trị nhân bản bản vững - đó là cói thiện và những gió Irị văn hod tinh thần của đời sống Khác với một số xu hướng của VH hiện nay (phé phón hiện thực hoặc
di tim cói vĩnh cứu ), Nguyễn Khỏi di tim sy thích ứng với hoàn cảnh, Ở Nguyễn Khải, việc xây dựng tính cách nhân vật phức lạp không phải một thế mạnh vì ông là một nhà văn tư duy bằng vến đả, và sở trường của ông là xây dựng nhân vat ty lướng - những nhên vật có chết trí thức đậm nét Tính chết trí thức bộc lộ ngay trong nhân
©
Trang 3
vat, biểu hiện ở chỗ CN sống với đời sống linh
thần, ở khát vọng nhận thức và tự nhận thức Họ
phan tich và tự phân tích về tình thế thực tại, về
quy luột của đời sống để sống, ty phan tích về
mình để hiểu mình, hiểu người và đời hơn Coi
CN là trung tâm của sự khúm phá và nghiền
ngẫm hiện thực, nhà văn đặt vến đề qua nhân
vột, lấy nhan vat lam nơi thể hiện các GINNT và
cóc ý đồ tự tưởng của mình Khác với nhôn vat
lính cách là sản phẩm của sy quan sat tưởng
lượng, nhân vột lự tướng là sản phẩm của cảm
hứng nghiên cứu Vì thế Nguyễn Khải ít chú ý
khác họa ngoại hình nhân vột, mò khi tả diện
mẹo nhân vột, nhà văn chỉ thường tập trung vào
những chi tiết ngoại hình tiêu biểu gợi được nét
tinh cach va dy bdo số phận của nhân vột Với
những nhân vột từng trỏi, diện mạo thời trẻ trong
quá khứ cũng được khác họa rõ bên cạnh ngoại
hình đã in dấu ấn thời gian trong hiện tai Va
một nét duyên dóng của Nguyén Khai trong những
truyện ngắn gần đây là ông đặc biệt hay có những
chỉ tiết hóm hỉnh khi miêu tả vẻ đẹp đến độ chín,
sự «nhuận sốc” của người già [Alộf người Hà
Nội, Nắng chiév ) Nhan vat trong truyện ngắn
Nguyễn Khỏi ở giai đoạn này có khi chỉ là minh
chứng cho «vain đề” tác giả muốn đưo ra để phân
tích, nghiên cứu, bày tỏ và đối thoại với cuộc
sống Những vốn để đặt ra: số phận bất hạnh
của CN vò hạnh phúc cớ nhân [chị Vách trong
Đời khổ ), hiện tại và quá khứ { Cới thời lãng
mạn); dòng họ truyền thống (Câu chuyện về
dòng họ Ngô Thị); tan giáo (Sư già chùa Thắm
vỏ ông đại tú về hưu] Vì nhân vat mang trong
nó vốn để nên thường là những con người rô!
khôn ngoen, tỉnh táo, có khỏ năng «ăn nói”, tranh
luận, có bản lĩnh hơn người để thay đổi, thích
ứng và vượt lên hoàn cảnh, Nhờ văn ít chú ý dén
việc khắc hoạ tính cách nhân vệt thông qua hành
động mà tệp trung sứ dụng ngôn ngữ đối thoại
như một phương liện quan trọng giúp cho nhôn
vật tự biểu hiện mình rõ nhết Để có thể nghiên
cứu hiện thực một cách khách quan, nha van da
trao cho nhôn vật của mình quyền bình đẳng về
tư tưởng Ông hay đưa cái tôi cá nhân của mình
hoặc của những người gần gũi với mình thành
nhan vat trong tac phẩm để nói đến những vốn
đề của ngày hôm noy, những vốn đề thế sự và
để khơi thác một cách triệt để tính cách và số
phận nhân vật Nhân vật của Nguyễn Khai vi thé
thường ham nói lí, giỏi biện luận và độc lập về
tu tưởng Với nồng lực trí tuệ đặc biệt, với sự
©
thông minh, sốc sdo, họ không dễ dàng buông xuôi trước hoàn cảnh Một nhà báo giò trước thời cuộc mới tợc thời, một nhà văn trong Anh hòng bĩ vận, một người ông giữa đời thường Ông cháu là những số phân khác nhu, những lựa chọn khác nhau để khẳng định mình bằng nhân cách - mỗi CN, mỗi số phận là một tìm tòi khám phá của Nguyễn Khải để mong đến cho người đọc một nhộn thức mới về CN,
Phân tích tâm lí nhân vột cũng là một phương thức quan trọng để chiếm lĩnh tư tưởng con người bằng nghệ thuật ngôn từ Ở lĩnh vực này, ngòi bút Nguyễn Khải có biệt tài trong việc nắm bắt,
mổ xẻ, phôn tích những hiện tượng tâm lí phức tạp, những ngõ ngách sâu kín của tâm hồn CN Nguyễn Khải dường như không bao giờ dừng
lại ở việc khắc hoạ dáng vẻ bề ngoài, vì điều
quan trọng nhết đối với ông là thể hiện cho được những suy tự thẩm kín, những khát khao cháy bỏng và bước ngoặt tự lưởng trong tâm hồn nhân vật Đặc điểm lâm lí nhôn vột trong truyện ngắn Nguyễn Khỏi sau 1975 được thể hiện chủ yếu qua vai chỉ tiết quan sót được - mờ ở đó bột lên
«cái |ði” của tính cách hoặc «lệt áo” nhên vột để người đọc thấy những khuất lấp bên trong Với một GINNT về CN có cả chiều rộng và
chiều sâu hơn so với giai đoạn trước 197%, tốt
nhiên, những truyện ngắn của Nguyễn Khởi trong gợi đoạn này đã có đổi mới đáng kể trong nghệ thuat xêy dựng nhên vật: CN được đặt trong thời gen vờ lịch sử, trong các khả năng lựa chọn và
thích ứng, trong quan hệ gia đình, trong những môu thuẫn và tiếp nổi giữa các thế hệ, trong sự khác biệt giữa những «người của hôm qua” vò những «người của hôm ngy” Đối thoại vờ độc thoại nội lâm được sử dụng như hơi thủ phóp chính giúp đi sâu vào CN tư tưởng trong nhân vật, điều mà miêu tả và tự sự thuần tuý khó làm được Nếu nhân vệt tư tướng có xu hướng thiên
về hoạt động tinh thần hơn hành động là kiểu nhôn vật tâm đắc của Nguyễn Khải thì nhân vột người kể chuyện cũng có một sức hấp dẫn to lớn
với sự fìm tòi một cách thể hiện mới của nhà văn,
nó còn kích thích lí trí người đọc một cách mạnh
mẽ Trong truyện ngắn Nguyễn Khỏi, người kể chuyện không hẳ giếu diếm «tung tíchƒ của mình thêm chí còn bộc lộ hất bản thân mình Nhôn vật người kể chuyện ở đây thường xuốt hiện trực tiếp
và tham gia vào khắc hoạ nhân vột, có khi còn là
nhên vột chính xuốt hiện trong tu thế một nhà
(Xem tiếp trang 43)
Tạp chí Biáo duc sé 185 (uit - 3/2008)
Trang 4khóa, thơm quơn Vấn để này cũng giếng như
việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong khâu
kiểm tra, đénh gid kết quả DH là cần thiết, nhưng
vẫn không thể loại bó hình thức cêu hỏi tự luận,
vì, trắc nghiệm khách quan cũng chỉ là một bộ
phận của kiểm tra, đánh giá kết quả DH, được
tiến hành phối hợp cên đối với cóc loại hình kiểm
tra, đánh giá khác Cũng như vệy, liễu lượng,
mức độ, nội dung, phương pháp sử dụng ICT
phải xuất phót lừ mục liêu đào tao, néi dung,
đặc trưng vò PPDH cụ thể của từng bộ môn,
- Việc sử dụng ICT néi chung, khai thác và sử
dựng phần mềm PowerPoint vao DH LS 6 truéng
phổ thông nói riêng là thể hiện sự ap dụng những
thònh tựu to lớn của cuộc cóch mọng khoe học - kĩ
thuệt, kết quỏ của trí tuệ, sự sóng lạo của con
người; Vì vệy, việc sử dụng ICT không chỉ để minh
họa, «mua vui”, giải trí cho HS, mà phổi góp phần
vào «phát huy tính tích cực, chủ động, sóng lạo
của HS“ trong học tập bộ môn ở đây, GV không
nên chỉ biết sử dụng thònh thao ICT vao DH LS, ma
còn hướng dẫn cho HS biết sử dụng chúng, nhằm
«hogt động hóơ" quó trình học tập, cùng xõ hội
đưa tin học vào nhà trường Chẳng hơn, trước mỗi
tiết dạy, GV ra bài tập yêu cầu HS lên mạng
Internet dé tim kiếm, khơi thác thông tin, tư liệu liên
quan đến chủ đề sẽ học trên lớp, khi đến tiết học
thì báo cáo cho thầy cô và các bạn nghe để cùng
Irao đổi, thảo luận Việc làm này vừa mang ý
nghĩa khoa học, vừa mơng ý nghĩa thực tiễn cao
Để hoạt động này mơng lại hiệu quỏ và không lốn
thời gian của HS, GV cần cung cấp cho các em
một số địa chỉ tìm kiếm thông dụng
4 Kết luận
Sự phát triển nhanh chóng của lCT trong những
năm gần đây đã ảnh hưởng sêu sắc tới GD-ĐT,
đặc biệt là trong đổi mới PPDH Nhận thức được
tầm quen trọng nèy, trong những năm gần đây,
nhiều Sở GD-ĐT, các trường phổ thông (đạt chuẩn
quốc gia] đã xày dựng, phát triển các giải phép
chiến lược về xây dựng cơ sở vật chất, dao tac
nhân lực phục vụ cho việc ứng dụng những thành
lựu cda ICT vao DH Hiện nay, việc đựa ICT vào
giảng dạy của GV ở các trường phổ thông không
còn mới mẻ Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ
này trong công tác DH nói chung, DH /S nói riêng
van dang 6 bude di déu, cần phải đẩy mạnh
hơn Các Sở GD-ĐT và mỗi trường phổ thông
cồn quan tâm nhiều hơn nữa đến xôy dựng một
hệ thống cơ sở vột chết kĩ thuột, trang thiết bị hiện
Tan chi Glao duc sé 185 (xis - 3/2008)
đại, dap ứng tốt cho đội ngũ GV và HŠ khi ứng dụng ICT vào dạy - học Đồng thời, để đạt kết quả tốt cần thiết phải kất hợp hài hoà với các PPDH truyền thống, phù hợp với nội dụng, điều kiện cụ thể; GV cũng phải tự trang bị, bổi dưỡng
và nêng coo trình độ ICT để dạy tốt bộ môn Œ
Tài liệu tham khảo
1 Phan Ngọc Liên (cñ biên) Phương pháp dạy học
lịch sử ở trường phổ thông (2 tập) NXB Đợi học sư
Pham, H 2002
2 Phan Ngọc Liên Lịch sử và giáo dục lịch sử, NXB
Chính trị quốc gia, H 2003
3 Quách Tuấn Ngọc "Đổi mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin - xu thế của thời đại” Tạp
chí Đại học và giáo dục chuyên ngiệp Số 8/1999
4 Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Mạnh Hưởng (chủ biên)
Giáo án và tư liệu đạy học điện tử môn Lịch sử L1 NXB Dai hoc su pham H 2007
5 Bộ GD-ĐT Chiến lược phát triển giáo dục 2001-
2010 NXB Giáo đục H 2000
6 The training of trainers program Block one course
materials, The Viet Nam - Australia training project the VAT project 2002
Su doi moi quan niém
(Tiếp theo trang 40]
văn, một nhà bao từng trỏi, hiểu người hiểu đời sâu sắc, biết gợi, biết nghe và biết suy ngẫm rút kinh nghiệm Nhờ sự có một của người kế chuyện như thế mà khoảng cách giữc nhôn vội và người
kể chuyện được rút ngắn lợi; những sự kiện, biến
cố rời rạc trong tác phẩm được xôu chuỗi, và sức hếp dẫn của tác phẩm cũng tăng lên
Như vậy, sức sống và sự lôi cuốn của kiểu nhân vệt mới là một thành công của Nguyễn Khỏi trong nghệ thuật viết truyện ngắn sau 1975, thể hiện được những chuyển biến về chết trong GINNT
về CN của nhà văn Tuy không ở vòo vị trí người
mở đường tinh anh như Nguyễn Minh Chôu nhưng với những đóng góp của mình, Nguyễn Khỏi xứng đóng là một trong số những nhò văn tiên phong cho văn học Việt Nam thời ki déi mei
I Trân Huy Quang “Một năm truyện ngắn và kí trên
báo Văn nghệ”, Báo Van nghự, số l/ 1990,
2 Nguyên Ngọc "Đôi nét về tư duy văn học mới đang hình thành” Tạp chí Văn học, số 4/1990,
3 Nguyễn Thị Thanh Hương, Lược dịch từ tiếng Đức: Ezahlen( G.Waldmann và K.Bothe) Bài giảng chuyên
để sau đại học "Truyện ngắn và dạy học truyện ngắn”
©