1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học: Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trongs truyện ngắn Nguyễn Khải sau năm 1975 pptx

4 812 7
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 251,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự chuyển biến chung của VH thời đại mình, truyện ngắn sau 1975 của nhà văn Nguyễn Khỏi bộc lộ rõ sự đổi mới ở nhiều phương diện, mà dễ nhận thấy nhết là đổi mới trong quãn niệm n

Trang 1

$1ƒ Đổi Mũi QUAN NIEM NGHE THUAT VE CON NGUGI TRONG TRUYEN NGAN NGUYÊN KHẢI SAU 1975

ổi mới là vấn để tat yếu, là nhu cầu cần

1: cho sự tổn lại và phát triển của văn học

(VHỊ Đổi mới VH bao giờ cũng bắt nguồn

lừ những đòi hỏi khách quan của đời sống xã

hội và đòi hỏi của bản thân VH Trong sự chuyển

biến chung của VH thời đại mình, truyện ngắn

sau 1975 của nhà văn Nguyễn Khỏi bộc lộ rõ sự

đổi mới ở nhiều phương diện, mà dễ nhận thấy

nhết là đổi mới trong quãn niệm nghệ thuột

(GNNT về con người (CN)

1 GNNT về CN là cất lõi tự tưởng, là thước

đo sự tiến bộ nghệ thuột của một nhà văn, Nó là

cách cắt nghĩa của VH đối với CN «Bỏ qua

QNNT vé CN sé d&n đến hiểu gián đơn bản chất

phản ánh của văn nghệ Hoặc là đẳng nhất ty

lưởng sóng lóc với thế giới quan, hạ thấp yêu

cầu sóng tạo của tư tưởng nghệ thuột, thẩm mĩ

cỏa tóc giỏ cho rằng nhà văn chỉ có têm hồn là

đủ Hoặc rút gọn tiêu chuẩn củo tính chôn thực

vào một điểm là tả giống hay không giống so

với đối tượng và như vộy kết quả cũng xem nhẹ

vai trò sáng tạo nghệ thuột của nhờ văn” [1] Qua

lác phẩm, người tạ có thể tìm thấy một GNNT

nào đó của lóc giá về CN Theo quan điểm của

thị phép học, GNNT về CN là một trong những

yếu tố cơ bản, then chết nhốt của chỉnh hề nghệ

thuột Nó góp phần chi phối tính độc đáo của

chính thể ấy Do thế giới quan, li tuéng thẩm mĩ

và có lính sóng lạo khóc nhau mà mỗi nhà văn

có một cách lựa chọn và thể hiện nhên vột riêng

Nấu các nhà văn Tự lực văn đoàn quan niệm CN

lí tưởng là CN ới tĩnh, CN ảo vọng thì các nhà

văn hiện thực quan tâm đến CN đời thường, lao

động, khổ đau Còn trong văn học Việt Nam

1945 - 1975, quan niệm gắn bó với cuộc sống

để nêu gương về CN là một nội dung nổi bột

Chính từ quan niệm này, CN trong VH đã được

nhìn chủ yếu dưới góc độ sử thi; được nhìn nhận,

cảm thy, danh gid trong quan hệ cộng đồng,

theo tình cảm vẻ lợi ích cộng đồng Một sự thay

}

3 ThS DANG THI MAY"

adi phat triển có tính chất hệ hình trong QNNT

về CN phải chờ đến VH Việt Nam thời đổi mới,

mà thể loại hội tụ rõ nhết sự phát triển này là

truyện ngắn vì «lruyện ngắn sống bằng nhôn vột”

và nó bộc lộ đầy đủ «những đặc tính của thể loại

ưu việt, mở ra cho VH những đề tài vò vốn dé mới củo đời sống nhôn dên những hình tượng VH mới” [2] Truyện ngắn 1954 - 1975 do quán xuyến bởi quen niệm CN tập thể, CN quần chúng nên nhôn vật thường được thể hiện trong các sự kiện, biến

cố lịch sử hơn là những quen hệ, biến cố đời tư Còn sau 1975, nhân vat trong truyện ngắn thường được thể hiện qua cóc quan hệ đời thường, qua thế giới nội tâm, qua miễn ý thức, vô thức đầy bí

ẩn, phức tạp Cùng xu hướng khóm phé, thể hiện mới mê về con người nhự vộậy, truyện ngắn hôm nay đã hình thành một số kiểu con người mới: CN

Tự nhiên, CN tôm linh, CN.tự nhện thức bên cạnh

CN tư tướng, CN đại diện cho cộng đồng

2 Truyện ngắn của Nguyễn Khỏi luôn tạo ra những nhên vột có bộ mặt tinh thần hoàn toàn riêng biệt, những tình huống có chiểu sôu triết học và tâm lí để hướng tới céi cao dep trong doi sống tình thần của CN Vì cho dù nhà văn có thể miêu lẻ về cái xấu xa nhưng «thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao cả, cái tết đẹp,

cái thuỷ chung” Song cũng phải thừa nhộn rằng, QNNT về CN của nhà văn in dếu trong tết có các thể loại VH mà ông ta lựa chọn Vò Nguyễn Khải cũng không phải ngoại lệ vì vả cơ bón, thé giới nhân vật trong Hiểu thuyết, ghi chép, bút ki, lán văn vỏ truyện ngắn của ông vẫn có những nét gần gũi nhau; nhưng riêng thể loại truyện ngắn,

do dung lượng đòi hỏi sự dồn nén hơn, việc sóng kác cũng có lính chết kịp thời hơn, nên nhén vat được xêây dựng qua cái nhìn sắc nét, toàn diện

và khói quát hơn Mặt khác, «với thể loại truyện ngắn, cóc yếu tố nhên vột, cốt truyện, kết cấu và ngôn ngữ trần thuột chính là những phương diện

* Tnướng Dao đẳng sư phạm Hải Dương

Tan chi Glao duc sé 185 «as - 3/2008)

Trang 2

hình thức thể hiện nổi bật nhất GINCN và đặc

điểm mới cúa thể loại do GINCN đem lại” [3]

Thời kì trước 1 9O nhốt là những truyện ngắn

đầu lay cúa Nguyễn Khải (Ra ngodi - 1951, Xdy

dựng - 1952, Đi tới - 1958| nhân vột mới chỉ

là những CN chịu sự điều khiển chứ chưa phỏi là

CN tự làm chủ mình Giữa nhà văn với nhân vật

van tén tại một khoảng cách khá xo, một mối

quan hệ hoàn toàn li tri vi sy chi phối của lối viết

kể lễ, chạy theo sự việc và một quơn niệm xuôi

chiều về CN Đến ] 960, với tập truyện ngắn Ádùg

lạc, Nguyễn Khải đã bộc lộ mét quan niệm lí

tưởng về hình mỗu con người mới lrong cuộc

sống Nhà văn đã miêu tỏ họ như một hiện thôn

của ước vọng đẹp đẽ về một cuộc sống hạnh

phúc được xôy dựng trên tình yêu thương của

cộng đồng Họ là những người giàu đức hi sinh,

giàu lòng vi tha, nhên hộu và sống có lí tưởng

Bên cạnh đó, sự quan tâm của nh văn đến số

phộn những con người bé nhỏ, nạn nhân của

cuộc đời cũ (Đào, em Tốm } như muốn khẳng

định: môi trường sống tốt đẹp, giàu tình người

sẽ là mảnh đất tết cải hoá tâm hồn CN, để cói

thiện nảy mầm, thể chỗ cho cói xấu và cái óc

Thành công củo lập truyện ngắn Alùa lạc chính

là ở chỗ tác giả đã gửi được một thông điệp lớn,

một lời đề nghị tha thiết hãy quan tôm đến số

phện của mỗi con người, và trên trọng những

khát khao chân chính ở họ, nhìn thấy ở họ những

điều tốt đẹp mà nhiều khi do hoàn cảnh sống

phải tự che lấp đi dưới những biểu hiện của cách

sống bốt cẩn, tao ton hay dé dat hodi nghi

Nhân vật trong những truyện ngắn của

Nguyễn Khải trước 1975, chủ yếu được soi chiếu

trên bình diện gioi cấp và cuộc sống tập thể Sự

khắc hoạ, miêu tả nhên vệt thường để làm nổi

bat mét khía cạnh, một vấn đề nào đó đong đặt

ra trong đời sống xã hội, chính trị của đết nước

Tính vấn đề tồn tại như một yếu tế trước nhất có

sức chí phối mọi suy nghĩ, quan sat của nhò văn

và đặc biệt trong khi xây dựng nhên vột Nguyễn

Khải thường rốt tỉnh táo khi dẫn dắt nhên vat

theo một đường hướng nhất định, luôn chỉ cho

họ phải làm gì để phục vụ cho mục đích tư tướng

mè tác giả đề xuất; vì thế nhôn vat của ông chưa

bao giờ «dắt" tác giả, «gọi” tác giả hay rơi vào

tình trạng «nổi loạn” như của Puskin và L.Tônxtôi

Sau 1975, VH sau những bước chuyển thðng

trầm mà dữ dội đang trở nên lắng đọng hơn vờ

cũng đích thực hơn, ngòi bút của Nguyễn Khải

Tap chi Glao dục số 185 (a1 - 3/2008)

cũng có chiều sâu hơn Cùng với sự đổi mới trong

tu duy nghệ thuột, Nguyễn Khải có một quan niệm đầy đủ hơn về CN CN trong sóng tóc của ông, nhốt là những truyện ngắn gần đêy được đặt trong nhiều chiều, được định vị với những gió trị có tính căn bản, bên vững, phổ quớt chứ không chỉ Ìà tiên tiến hay lạc hau, dé cao hay phê phón một chiêu

ý thức mở rộng khỏ năng chiếm lĩnh hiện thực, khám phá phát hiện về CN đã trở thành yếu tố thường trực chỉ phối cách viết của nhà văn Bân cạnh tư cách CN lịch sử, CN trong quan hệ với thời gian, trong các sáng lác của Nguyễn Khải đầu năm 8O đã xuất hiện tu cách CN có nhên

Đề cộp đến cuộc đời, số phận CN trong số phan dai thường, ngòi but Nguyén Khai da dat đến chiéu su nhan ban dang quy Hon thé, ngoi bút này đã khắc phục được khiếm khuyết trong những sóng tóc trước kia Giờ đôy, với cói nhìn hiện thực toàn vẹn hơn, ông thực sự trở thành nhà văn của đời thường, quan lâm nhiều hơn đến những vấn đề có tính chết triết lí nhôn sinh hơn là đưa ra những vốn đề có tính chất chính luộn Viết

về CN «hôm nay”, Nguyễn Khải chú ý đến khát vọng tính thần và những giớ trị đạo dic, nhan cách bản vững trước mọi tác động của hoàn cảnh Nân những nhân vật mà nhà văn tâm đắc thường

có trí tuệ có cết cách, biết lựa chọn cho mình một lối sống, một cách sống mà họ tìn.lò đúng Có lẽ cũng vì thế, hầu nhự không đề cập đến CN tự nhiên, và thế giới nhân vat cia ông ít có những

nhên vật hai mặt, đa diện, da nghĩa phức tạp

giữa bóng tối và ánh sóng, giữa tiềm thức và vô thúc Quan niệm CN gắn với thời thế, nhà văn quan tam dén khả năng thích ứng với thời cuộc, thích ứng nhưng không phải là cơ hội vì mỗi thời

CN cần có sự lựa chọn phù hợp với chuẩn thời đại nhựng mặt khác vẫn không được đánh mốt mình, Bằng thế giới nhân vột của mình, Nguyễn Khải dần đi tới việc đi tìm những giá trị tương ứng với CN, với thời đại, những giá trị nhân bản bản vững - đó là cói thiện và những gió Irị văn hod tinh thần của đời sống Khác với một số xu hướng của VH hiện nay (phé phón hiện thực hoặc

di tim cói vĩnh cứu ), Nguyễn Khỏi di tim sy thích ứng với hoàn cảnh, Ở Nguyễn Khải, việc xây dựng tính cách nhân vật phức lạp không phải một thế mạnh vì ông là một nhà văn tư duy bằng vến đả, và sở trường của ông là xây dựng nhân vat ty lướng - những nhên vật có chết trí thức đậm nét Tính chết trí thức bộc lộ ngay trong nhân

©

Trang 3

vat, biểu hiện ở chỗ CN sống với đời sống linh

thần, ở khát vọng nhận thức và tự nhận thức Họ

phan tich và tự phân tích về tình thế thực tại, về

quy luột của đời sống để sống, ty phan tích về

mình để hiểu mình, hiểu người và đời hơn Coi

CN là trung tâm của sự khúm phá và nghiền

ngẫm hiện thực, nhà văn đặt vến đề qua nhân

vột, lấy nhan vat lam nơi thể hiện các GINNT và

cóc ý đồ tự tưởng của mình Khác với nhôn vat

lính cách là sản phẩm của sy quan sat tưởng

lượng, nhân vột lự tướng là sản phẩm của cảm

hứng nghiên cứu Vì thế Nguyễn Khải ít chú ý

khác họa ngoại hình nhân vột, mò khi tả diện

mẹo nhân vột, nhà văn chỉ thường tập trung vào

những chi tiết ngoại hình tiêu biểu gợi được nét

tinh cach va dy bdo số phận của nhân vột Với

những nhân vột từng trỏi, diện mạo thời trẻ trong

quá khứ cũng được khác họa rõ bên cạnh ngoại

hình đã in dấu ấn thời gian trong hiện tai Va

một nét duyên dóng của Nguyén Khai trong những

truyện ngắn gần đây là ông đặc biệt hay có những

chỉ tiết hóm hỉnh khi miêu tả vẻ đẹp đến độ chín,

sự «nhuận sốc” của người già [Alộf người Hà

Nội, Nắng chiév ) Nhan vat trong truyện ngắn

Nguyễn Khỏi ở giai đoạn này có khi chỉ là minh

chứng cho «vain đề” tác giả muốn đưo ra để phân

tích, nghiên cứu, bày tỏ và đối thoại với cuộc

sống Những vốn để đặt ra: số phận bất hạnh

của CN vò hạnh phúc cớ nhân [chị Vách trong

Đời khổ ), hiện tại và quá khứ { Cới thời lãng

mạn); dòng họ truyền thống (Câu chuyện về

dòng họ Ngô Thị); tan giáo (Sư già chùa Thắm

vỏ ông đại tú về hưu] Vì nhân vat mang trong

nó vốn để nên thường là những con người rô!

khôn ngoen, tỉnh táo, có khỏ năng «ăn nói”, tranh

luận, có bản lĩnh hơn người để thay đổi, thích

ứng và vượt lên hoàn cảnh, Nhờ văn ít chú ý dén

việc khắc hoạ tính cách nhân vệt thông qua hành

động mà tệp trung sứ dụng ngôn ngữ đối thoại

như một phương liện quan trọng giúp cho nhôn

vật tự biểu hiện mình rõ nhết Để có thể nghiên

cứu hiện thực một cách khách quan, nha van da

trao cho nhôn vật của mình quyền bình đẳng về

tư tưởng Ông hay đưa cái tôi cá nhân của mình

hoặc của những người gần gũi với mình thành

nhan vat trong tac phẩm để nói đến những vốn

đề của ngày hôm noy, những vốn đề thế sự và

để khơi thác một cách triệt để tính cách và số

phận nhân vật Nhân vật của Nguyễn Khai vi thé

thường ham nói lí, giỏi biện luận và độc lập về

tu tưởng Với nồng lực trí tuệ đặc biệt, với sự

©

thông minh, sốc sdo, họ không dễ dàng buông xuôi trước hoàn cảnh Một nhà báo giò trước thời cuộc mới tợc thời, một nhà văn trong Anh hòng bĩ vận, một người ông giữa đời thường Ông cháu là những số phân khác nhu, những lựa chọn khác nhau để khẳng định mình bằng nhân cách - mỗi CN, mỗi số phận là một tìm tòi khám phá của Nguyễn Khải để mong đến cho người đọc một nhộn thức mới về CN,

Phân tích tâm lí nhân vột cũng là một phương thức quan trọng để chiếm lĩnh tư tưởng con người bằng nghệ thuật ngôn từ Ở lĩnh vực này, ngòi bút Nguyễn Khải có biệt tài trong việc nắm bắt,

mổ xẻ, phôn tích những hiện tượng tâm lí phức tạp, những ngõ ngách sâu kín của tâm hồn CN Nguyễn Khải dường như không bao giờ dừng

lại ở việc khắc hoạ dáng vẻ bề ngoài, vì điều

quan trọng nhết đối với ông là thể hiện cho được những suy tự thẩm kín, những khát khao cháy bỏng và bước ngoặt tự lưởng trong tâm hồn nhân vật Đặc điểm lâm lí nhôn vột trong truyện ngắn Nguyễn Khỏi sau 1975 được thể hiện chủ yếu qua vai chỉ tiết quan sót được - mờ ở đó bột lên

«cái |ði” của tính cách hoặc «lệt áo” nhên vột để người đọc thấy những khuất lấp bên trong Với một GINNT về CN có cả chiều rộng và

chiều sâu hơn so với giai đoạn trước 197%, tốt

nhiên, những truyện ngắn của Nguyễn Khởi trong gợi đoạn này đã có đổi mới đáng kể trong nghệ thuat xêy dựng nhên vật: CN được đặt trong thời gen vờ lịch sử, trong các khả năng lựa chọn và

thích ứng, trong quan hệ gia đình, trong những môu thuẫn và tiếp nổi giữa các thế hệ, trong sự khác biệt giữa những «người của hôm qua” vò những «người của hôm ngy” Đối thoại vờ độc thoại nội lâm được sử dụng như hơi thủ phóp chính giúp đi sâu vào CN tư tưởng trong nhân vật, điều mà miêu tả và tự sự thuần tuý khó làm được Nếu nhân vệt tư tướng có xu hướng thiên

về hoạt động tinh thần hơn hành động là kiểu nhôn vật tâm đắc của Nguyễn Khải thì nhân vột người kể chuyện cũng có một sức hấp dẫn to lớn

với sự fìm tòi một cách thể hiện mới của nhà văn,

nó còn kích thích lí trí người đọc một cách mạnh

mẽ Trong truyện ngắn Nguyễn Khỏi, người kể chuyện không hẳ giếu diếm «tung tíchƒ của mình thêm chí còn bộc lộ hất bản thân mình Nhôn vật người kể chuyện ở đây thường xuốt hiện trực tiếp

và tham gia vào khắc hoạ nhân vột, có khi còn là

nhên vột chính xuốt hiện trong tu thế một nhà

(Xem tiếp trang 43)

Tạp chí Biáo duc sé 185 (uit - 3/2008)

Trang 4

khóa, thơm quơn Vấn để này cũng giếng như

việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong khâu

kiểm tra, đénh gid kết quả DH là cần thiết, nhưng

vẫn không thể loại bó hình thức cêu hỏi tự luận,

vì, trắc nghiệm khách quan cũng chỉ là một bộ

phận của kiểm tra, đánh giá kết quả DH, được

tiến hành phối hợp cên đối với cóc loại hình kiểm

tra, đánh giá khác Cũng như vệy, liễu lượng,

mức độ, nội dung, phương pháp sử dụng ICT

phải xuất phót lừ mục liêu đào tao, néi dung,

đặc trưng vò PPDH cụ thể của từng bộ môn,

- Việc sử dụng ICT néi chung, khai thác và sử

dựng phần mềm PowerPoint vao DH LS 6 truéng

phổ thông nói riêng là thể hiện sự ap dụng những

thònh tựu to lớn của cuộc cóch mọng khoe học - kĩ

thuệt, kết quỏ của trí tuệ, sự sóng lạo của con

người; Vì vệy, việc sử dụng ICT không chỉ để minh

họa, «mua vui”, giải trí cho HS, mà phổi góp phần

vào «phát huy tính tích cực, chủ động, sóng lạo

của HS“ trong học tập bộ môn ở đây, GV không

nên chỉ biết sử dụng thònh thao ICT vao DH LS, ma

còn hướng dẫn cho HS biết sử dụng chúng, nhằm

«hogt động hóơ" quó trình học tập, cùng xõ hội

đưa tin học vào nhà trường Chẳng hơn, trước mỗi

tiết dạy, GV ra bài tập yêu cầu HS lên mạng

Internet dé tim kiếm, khơi thác thông tin, tư liệu liên

quan đến chủ đề sẽ học trên lớp, khi đến tiết học

thì báo cáo cho thầy cô và các bạn nghe để cùng

Irao đổi, thảo luận Việc làm này vừa mang ý

nghĩa khoa học, vừa mơng ý nghĩa thực tiễn cao

Để hoạt động này mơng lại hiệu quỏ và không lốn

thời gian của HS, GV cần cung cấp cho các em

một số địa chỉ tìm kiếm thông dụng

4 Kết luận

Sự phát triển nhanh chóng của lCT trong những

năm gần đây đã ảnh hưởng sêu sắc tới GD-ĐT,

đặc biệt là trong đổi mới PPDH Nhận thức được

tầm quen trọng nèy, trong những năm gần đây,

nhiều Sở GD-ĐT, các trường phổ thông (đạt chuẩn

quốc gia] đã xày dựng, phát triển các giải phép

chiến lược về xây dựng cơ sở vật chất, dao tac

nhân lực phục vụ cho việc ứng dụng những thành

lựu cda ICT vao DH Hiện nay, việc đựa ICT vào

giảng dạy của GV ở các trường phổ thông không

còn mới mẻ Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ

này trong công tác DH nói chung, DH /S nói riêng

van dang 6 bude di déu, cần phải đẩy mạnh

hơn Các Sở GD-ĐT và mỗi trường phổ thông

cồn quan tâm nhiều hơn nữa đến xôy dựng một

hệ thống cơ sở vột chết kĩ thuột, trang thiết bị hiện

Tan chi Glao duc sé 185 (xis - 3/2008)

đại, dap ứng tốt cho đội ngũ GV và HŠ khi ứng dụng ICT vào dạy - học Đồng thời, để đạt kết quả tốt cần thiết phải kất hợp hài hoà với các PPDH truyền thống, phù hợp với nội dụng, điều kiện cụ thể; GV cũng phải tự trang bị, bổi dưỡng

và nêng coo trình độ ICT để dạy tốt bộ môn Œ

Tài liệu tham khảo

1 Phan Ngọc Liên (cñ biên) Phương pháp dạy học

lịch sử ở trường phổ thông (2 tập) NXB Đợi học sư

Pham, H 2002

2 Phan Ngọc Liên Lịch sử và giáo dục lịch sử, NXB

Chính trị quốc gia, H 2003

3 Quách Tuấn Ngọc "Đổi mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin - xu thế của thời đại” Tạp

chí Đại học và giáo dục chuyên ngiệp Số 8/1999

4 Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Mạnh Hưởng (chủ biên)

Giáo án và tư liệu đạy học điện tử môn Lịch sử L1 NXB Dai hoc su pham H 2007

5 Bộ GD-ĐT Chiến lược phát triển giáo dục 2001-

2010 NXB Giáo đục H 2000

6 The training of trainers program Block one course

materials, The Viet Nam - Australia training project the VAT project 2002

Su doi moi quan niém

(Tiếp theo trang 40]

văn, một nhà bao từng trỏi, hiểu người hiểu đời sâu sắc, biết gợi, biết nghe và biết suy ngẫm rút kinh nghiệm Nhờ sự có một của người kế chuyện như thế mà khoảng cách giữc nhôn vội và người

kể chuyện được rút ngắn lợi; những sự kiện, biến

cố rời rạc trong tác phẩm được xôu chuỗi, và sức hếp dẫn của tác phẩm cũng tăng lên

Như vậy, sức sống và sự lôi cuốn của kiểu nhân vệt mới là một thành công của Nguyễn Khỏi trong nghệ thuật viết truyện ngắn sau 1975, thể hiện được những chuyển biến về chết trong GINNT

về CN của nhà văn Tuy không ở vòo vị trí người

mở đường tinh anh như Nguyễn Minh Chôu nhưng với những đóng góp của mình, Nguyễn Khỏi xứng đóng là một trong số những nhò văn tiên phong cho văn học Việt Nam thời ki déi mei

I Trân Huy Quang “Một năm truyện ngắn và kí trên

báo Văn nghệ”, Báo Van nghự, số l/ 1990,

2 Nguyên Ngọc "Đôi nét về tư duy văn học mới đang hình thành” Tạp chí Văn học, số 4/1990,

3 Nguyễn Thị Thanh Hương, Lược dịch từ tiếng Đức: Ezahlen( G.Waldmann và K.Bothe) Bài giảng chuyên

để sau đại học "Truyện ngắn và dạy học truyện ngắn”

©

Ngày đăng: 06/03/2014, 22:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w