ÁP DỤNG LÍ THUYẾT VỀ KHUNG NGHĨA VÀ NGHĨA HỌC BÁCH KHOA ĐỂ PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ PHÙ HỢP CỦA MỘT SỐ CÂU Ở DẠNG BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG ANH 1.. Để nói rằng chúng ta hiểu một từ, không những ch
Trang 1
ÁP DỤNG LÍ THUYẾT VỀ KHUNG NGHĨA
VÀ NGHĨA HỌC BÁCH KHOA ĐỂ PHÂN TÍCH
MỨC ĐỘ PHÙ HỢP CỦA MỘT SỐ CÂU
Ở DẠNG BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG ANH
1 Việc dạy và học tiếng Anh ở
nước ta trong những năm gân đây
rất phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu
hội nhập của nên kinh tế nước ta Tuy
nhiên, người học và ngay cả người dạy
thường gặp một số hiện tượng rất
khó giải thích với những lí thuyết
ngôn ngữ truyền thống Hiện nay, lí
thuyết về ngôn ngữ học trỉ nhận đang
được chấp nhận, phát triển, và bất đầu
có những nghiên cứu sâu về các tiểu
lĩnh vực trong lí thuyết này Nghiên
cứu và phát triển lí thuyết này là
“rất cần thiết và hữu ích cho việc
nghiên cứu lí luận ngôn ngữ và Việt
ngữ học ở nước ta” [7, 9] vì nó “đã trở
thành một đường hướng có ý nghĩa lí
luận và thực tiễn trong khoảng ba
thập kỉ qua” [8]
Với lí do đó, trong bài viết này
chúng tôi có ý muốn trình bày một
vài khái niệm quan trọng trong
ngôn ngữ học tri nhận, hay cụ thể
hơn là trong ngữ nghĩa học tri nhận
Như cái tên của nó đã nói ra, ngữ
nghĩa học nghiên cứu về ý nghĩa
của ngôn ngữ Trong nhiều thập
niên qua, các nhà khoa học khác
nhau có những lí thuyết khác
nhau về việc đưa ra cách giải
thích khái niệm nghĩa của từ là gì
NGUYÊN TẤT THẮNG
Charles J Fillmore là một trong số
những nhà khoa học đó Điều khác biệt là Filimore đưa ra lí thuyết của
mình dưới góc độ của ngữ nghĩa học
tri nhận, khác với những tác giả
khác ở những trường phái khác
Bài viết này cố gắng trình bày ngắn gọn những điểm chính của lí
thuyết vểề ngữ nghĩa khung
(Frame Semantics - FS) cia Fillmore (1982) và nghĩa học bách khoa
(Encyclopacdic semantics) trong lí
thuyết ngữ nghĩa học trì nhận Những khái niệm này có một mối liên quan mật thiết với nhau, đóng
vai trò quan trọng trong việc hiểu và
áp dụng lí thuyết này vào việc nghiên cứu ngôn ngữ hoặc giảng
đạy ngoại ngữ
Cụ thể hơn, bài viết này sẽ trình bày việc áp dụng các lí thuyết
trên vào việc phân tích một hiện
tượng ngôn ngữ, đó là phân tích
mức độ phù hợp của một số câu tiếng Anh ở đạng bị động Câu ở dạng bị động rất phổ biến ở các ngôn ngữ An-Au, trong đó có tiếng
Anh Tuy nhiên, người học và dạy
tiếng Anh thường gặp rắc rối khi chúng ta áp dụng các lí thuyết truyền thống để phân tích độ phù hợp của
Trang 2Ap dung
một số câu được chuyển đổi từ câu
ở dạng chủ động chuyển qua, một
dạng bài tập rất thường thấy ở các
sách giáo khoa phổ thông hiện nay
2 Ngữ nghĩa khung (Frame Se-
mantics - FS) là một lí thuyết về ngữ
nghia hoc do Fillmore (1977, 1982)
phát triển với mục đích nghiên cứu
nghĩa của từ và các cấu trúc ngữ pháp
FS lúc đầu được đưa ra để giải
quyết các vấn để về nghĩa của từ;
nhưng càng về sau, nó được áp dụng
trong việc phân tích các hiện tượng
khác về ngữ pháp cũng như các hiện
tượng ngôn ngữ phức tạp khác Về
cơ bản, FS cho rằng để hiểu được một
từ hoặc một cấu trúc ngữ pháp nào
đó, chúng ta phải có những kiến
thức tối thiểu liên quan tới từ hay cấu
trúc ngữ pháp đó (xem thêm Pctruck,
1996.)
Để hiểu nghĩa của một từ, chúng
ta cần có một kiến thức nhất định có
liên quan đến ngữ nghĩa của từ đó
Hay nói cách khác, mỗi một khái niệm
đều gắn liền với các khái niệm khác
trong một hệ thống nhất định; sự phức
tạp hệ thống đó phụ thuộc vào
các mối liên kết của khái niệm
đó với những khái niệm khác, cũng
như số lượng các khái niệm trong
cùng hệ thống Một hệ thống liên kết
các khái niệm với nhau để tạo nên
một kiến thức nhất định thì gọi là
cấu trúc khái niệm, hay còn gọi là
khung nghĩa
Để nói rằng chúng ta hiểu một
từ, không những chúng ta cần có kiến
thức về hệ thống khái niệm mà từ
đó hên quan, chúng ta còn phải biết
được những thông tin vềể các tính
chất cú pháp mà từ đó cần để có thể
tạo một phát ngôn đúng và có nghĩa
Như vậy, để có thể mô tả được bản
25
chất ngữ nghĩa của một từ, chúng ta
cẩn biết các tính chất kết hợp về
ngữ nghĩa cũng như cú pháp của từ
đó Ngoài ra, chúng ta cần biết thêm những thành phần nào là bắt buộc,
và thành phẩn nào là không bắt
buộc khi sử dụng từ đó Thí dụ có câu:
(1) Hương vừa mua 5 mét vải ở
chợ Đông Xuân
Ta hãy xét động từ (một số nhà nghiên cứu gọi là vị từ) mua vì nó là động từ chính trong câu Khung
nghĩa mà động từ này tạo ra bao gồm
ít nhất là hai thành tố: lương - người mua, chủ từ của câu, và 5 mét vải -
đối từ, hàng hoá Những yếu tố đó là bắt buộc, không thể thiếu trong khung nghĩa của déng ti mua tao ra
Ngoài ra, chúng ta có những thành tố
khác như: vừa, trạng ngữ chỉ thời gian; ở, giới từ, chợ Đông Xuân, trạng ngữ chỉ vị trí, nơi chốn, là
những thành tố không bắt buộc (về
mặt ngữ pháp.)
Những đặc điểm ngữ pháp hay những yêu cầu về cấu trúc nghữ
pháp của một từ được hình thành
xuất phát từ khung nghĩa mà nó tổn
tại Thí dụ ta có câu tiếng Anh sau khi hai tân sinh viên, Nam và Bắc, nói chuyện với nhau về ngôi trường
mà họ đang theo học
(2) Bdc, I have just been to the library The librarian was friendly
(Bắc này, mình vừa đến thư viện
Cô thủ thư (ở đó) rất thân thiện.)
Nam kể với Bắc rằng Nam vừa
đến thư viện và rằng cô thủ thư làm
việc tại thư viện đó rất thân thiện
Mặc dù Bắc chưa gặp cô thủ thự lần
nào, vì nếu Bắc đã gặp rồi thì Nam không cần thông báo cho Bắc thông
Trang 3tin trên, nhưng Nam vẫn có thể sử
dụng mạo từ xác dinh the (the
librarian) khi để cập tới nhân vật
này Ở trong tình huống này, cái
khung mà từ thw viện tạo ra tổn tại
từ thủ thư, hay nói khác đới, thủ thu
là một yếu tố tổn tại ngẫu nhiên khi
ta nói tới từ £h viện Nếu Bắc không
hiểu được từ thw vign thì tất nhiên
Nam không thể nói ngay vế thứ hai
mà phải giải thich thém cho Bac thi
thư là gì Trong trường hợp này,
Nam và Bắc là hai sinh viên thì rõ
ràng họ hiểu được thủ thư là ai, và có
nhiệm vụ gì Khi đó, mạo từ (he
được Nam sử dụng là hoàn toàn hợp
lí và cần thiết
Như vậy ta thấy rằng để có thể
mô tả hoàn chỉnh một từ, chúng ta cần
có các thông tin hoặc kiến thức liên
quan đến đặc điểm ngữ pháp cũng
như các cấu trúc mà trong đó từ đó
có thể tổn tại
Một khái niệm khác có tính chất
quan trọng ở lí thuyết về ngữ nghĩa
khung là khái niệm về “phối cảnh”
(perspecuve) Mỗi một từ hoặc cấu
trúc không chỉ cho ta biết về ý nghĩa
của nó trong khung nghĩa, mà nó còn
cho ta biết được phối cảnh mà người
nói áp dụng
Ở thí dụ sau, câu 3.a cho ta biết
được anh Nam là đối tượng được
người nói quan tâm, muốn nhấn
mạnh với người nghe rằng anh Nam
đã làm một việc khiến cho người nói
thấy vui và nên được thông báo
Như vậy, người nói muốn hướng
người nghe tới nhân vật anh Nam; và
chính nhân vật này nhận được điểm
lợi thế (vantage point) trong cuộc
đàm thoại Trong khung nghĩa mà
động từ tặng tạo ra, anh Nam, mình,
và món quà thì chủ thể anh Nam
được chú ý Người nói sử dụng cấu trúc này nhằm tạo cho anh Nam một điểm lợi thế nhất định trong cuộc
đàm thoại
(3)a Anh Nam vừa tặng mình một
món quà đấy
b Mình vữa có một món quà của
anh Nam day
Trái lại, ở câu 3.b chủ thể của
- lồi nói như muốn khoe với người nghe rằng việc chị ấy có món quà từ anh
Nam là một niễm hãnh diện, hướng
sự chú ý của người nghe vào chính
mình, chứ không phải anh Nam như
ở câu 3.a
Trong tiếng Việt, ta có nhiều
thí dụ minh hoạ cho việc người nói
lựa chọn điểm lợi thế, nhằm tạo ra một mối quan hệ tốt hơn với người
nghe; thí dụ như ta thường nghe câu
“nhà mình có mấy phòng vậy anh?” thay vì câu “nhà của anh có mấy
phòng vậy?”, Hoặc ta thường nghe
câu “Anh được mấy cháu vậy?” thay vì câu “Anh được mấy đứa con vậy?” Việc người nói sử dụng từ
mình thay vì từ anh, từ cháu thay vì
từ đứa con nhằm tạo ra một khung
nghĩa khác, gần gũi với người
nghe, nhầm tạo ra một tình cảm tốt
hơn đối với người nghe
* Vantage point - một cách hiểu
đơn giản là phương thức mà người nói
tách lị hoặc đưa mình vào vị trí được
coi là điểm nhấn trong tình huống đối thoại, hoặc là cách thức thay đổi, sử
dụng từ vựng, nhằm tạo ra một mốt
quan tâm của thực thể được chú ý để
tạo quan hệ tốt đẹp với người nghe/ đọc.
Trang 4Ap dung
Trong khái niệm phối cảnh, hướng
(orientation) cũng có một vai trò quan
trong Thi du trong cum ti to see the
ground - nhìn thấy mặt đất - thì ta biết
được người nói đang hướng về mặt
đất từ trên cao, có thể là từ máy
bay Còn trong cụm từ /o see the land -
nhìn thấy đất liền - thì người nói
đang đi từ biển vào Người nói có thể
chủ động hướng người nghe hình
thành khung nghĩa theo phương thức
mà người nói sắp đặt thông tin hay
nói cách khắc là cách mà người nói
tạo khung nghĩa Thí dụ, trong trường
hợp người này chỉ đường cho người
kia tìm đến toà nhà nằm giữa đường
Phạm Hùng Người nói có thể nói
“Từ đầu đường Phạm Hùng, nơi gân
Đại học Quốc gia, ” hoặc “Từ đầu
đường Phạm Hang, noi gdn Trung
tâm Hội nghị Quốc gia, ”
Lí thuyết về ngữ nghĩa khung
không chỉ được sử dụng để nghiên
cứu, phân tích nghĩa từ, nó còn được
áp dụng trong việc phân tích văn bản
và cú pháp (Xem thêm Petruck, 1996)
Một văn bản cụ thể có liên quan tới,
và làm cho người đọc liên tưởng tới,
một khung nghĩa cụ thể đi kèm theo
Trong thí dụ 4 sau đây, một nghỉ lễ
cưới hỏi được người đọc liên tưởng
tới; đó chính là khung nghĩa mà câu 2
tạo ra
(4) Cả hôn trường vỗ tay khi chú
rể trao chiếc nhẫn cho cô dâu
Ngữ nghĩa khung còn được sử
dụng để phân tích mối liên quan giữa
nghĩa văn bản và nghĩa từ vựng
Chúng ta phân tích câu sau:
:+»Áð)Cô:giáo và học sinh đang cười
27
Các từ cô giáo, học sinh, và lớp
học tạo nên một hình ảnh của một
buổi học hoặc một giờ học Tuy
nhiên, khung nghĩa mà cười đùa tạo
ra cho chúng ta biết rằng cô giáo và học sinh không phải đang thực hiện
một giờ lên lớp Khung nghĩa mà từ
cười đùa tạo ra cho ta biết được căn phòng lúc này không phải đang được
sử dụng với chức năng chính mà nó
được tạo ra
Tóm lại, ngữ nghĩa khung có thể
được xem là một công cụ đắc lực trong việc giúp chúng ta nghiên cứu về nghĩa
của từ, hoặc nghiên cứu các nguyên
tắc cần thiết trong việc tạo nghĩa mới của từ, cũng như tổng hợp nghĩa của từ
trong một văn bản để có được nghĩa tổng thể của một văn bản cụ thể (xem
thém Petruck, 1996, Fillmore, 1977a)
3 Ngoài lí thuyết về khung nghĩa,
một lí thuyết khác không kém phần
quan trong trong ngữ nghĩa học trí nhận chính là nghĩa học bách khoa
Kiến thức bách khoa là những kiến
thức từ thế giới quanh ta; chúng ta có
được kiến thức này thông qua nhận
thức và trải nghiệm Kiến thức ngôn ngữ của chúng ta có được cũng là một loại kiến thức bách khoa Langacker (1987) cho rằng không có sự phân
chia nào giữa kiến thức về thế giới
và kiến thức ngôn ngữ Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng chúng ta
học ngôn ngữ (kể cả thứ nhất và thứ
hai) bằng cách ý niệm hoá các trải
nghiệm ngôn ngữ và sau đó biến đổi
chúng thành kiến thức bách khoa [4, 3]
Quan điểm đầu tiên trong nghĩa học bách khoa chính là sự phản đối việc chia cẤt nghĩa học và dụng học Mối quan hệ giữa nghĩa học và dụng học là một mối quan hệ mật thiết
Trang 5Hilferty cho rằng bất kì nỗ lực nào
tạo ra một mô-đun khép kín về nghĩa
học hoàn toàn tách rời với dụng học
cũng sẽ tạo một sự chia cất giả tạo
trong nghiên cứu ngôn ngữ [5, 13]
Quan điểm thứ hai vé nghĩa
học bách khoa chính là sự khẳng
định ngữ nghĩa bách khoa xuất phát
từ ngữ cảnh của ngôn ngữ Xét thí
dụ sau được trích từ Evans [1]:
(6)a The child is safe - Dia tré
(được) an toàn
b The beach is safe - Bai bién
này an toàn
c The shovel is safe - Cdi xéng
này an toàn
Câu 6.a cho ta biết được đứa
trẻ sẽ không bị nguy hiểm Ngược lại
câu 6.b không có nghĩa rằng bãi
biển sẽ không bị nguy hiểm; mà
thực ra, câu này muốn nói rằng đứa
trẻ sẽ không bị nguy hiểm, hoặc ít ra
là nguy hiểm được giảm thiểu một
cách tối đa, khi nó chơi ở trên bãi
biển này Tương tự, câu 6.c cũng
không muốn nói là cái xẻng này sẽ
không bị nguy hiểm; mà thực ra câu
này muốn cho biết rằng cái xẻng
này sẽ không gây ra nguy hiểm cho
đứa trẻ
Những thí dụ trên cho thấy
rằng không có một tính chất cố định
nào của từ an đoàn gắn với các từ
đứa trẻ, bãi biển, hay cái xẻng Do
đó, để hiểu được nghĩa của những
câu trên, người nghe phải liên tưởng
tới những kiến thức liên quan tới
đứa trẻ, bãi biển, hay cái xẻng; tiếp
đến là khái niệm như thế nào là an
toàn; và sau cùng là chúng ta liên kết
và lựa chọn những nghĩa phù hợp để
tạo nên nghĩa phù hợp nhất với từng
câu cụ thể
Một khía cạnh về kiến thức bách khoa nữa đó là tính liên kết của chúng Nghĩa học bách khoa cho rằng không
chỉ tổn tại kiến thức bách khoa, và
kiến thức bách khoa tổn tại đưới dạng
ngẫu nhiên; mà ngược lại, kiến thức bách khoa tổn tại trong một mạng lưới Hên kết với nhau có hệ thống Lấy thí dụ từ bãi biển trong câu 6.b, ta thấy rằng khi một ai đó nói rằng
họ biết về nó thì tất nhiên người đó
sẽ có thêm những thông tin liên quan
về bãi biển như bãi biển nằm ở đâu,
có gì trên bãi biển, nó có những công
dụng cơ bản nào, những trải nghiệm
cụ thể của người đó đối với bãi biển v.v Và rất có thể từ những thông
tin đó, dẫn đến những phản ứng của người đó cho ta biết được họ thích
biển hay không
Một điểm chính khác về kiến
thức bách khoa chính là tính chất
động (dynamic) của nó Quay lại thí
dụ từ bãi biển ở trên, hiển nhiên là
mỗi một người đêu có những trải
nghiệm khác nhau về biển Người chưa đi biển lần nào sẽ có những
thông tin và cảm nhận khác với
người đã đi Người đã đi nhưng có kỉ
niệm vui sẽ có nhận thức khác với
những người đi mà có kỉ niệm buồn
Những kiến thức một ai đó có về
biển sẽ được thay đổi khi người đó
có nhiều trải nghiệm hơn với biển
Như vậy, ta nói rằng kiến thức bách
khoa mang tính động Ngoài những nghĩa mang tính quy ước, nghĩa của
một từ, hay nói rõ hơn là những kiến
thức hoặc khái niệm của một thực
thể luôn vận động, và thay đổi, nó
sẽ kéo theo những sự thay đổi khác trong hệ thống mà kiến thức hay khái
niệm đó tôn tại Do đó, kiến thức bách
Trang 6oe Ap dung
khoa luôn vận động và thay đổi; tuy
nhiên chúng vận động và thay đổi theo
hệ thống, gắn kết với nhau
4 Bây giờ chúng ta hãy lược
qua vấn để câu ở dạng bị động trong
tiếng Anh Xét hai câu sau:
(0a John broke the giass (Thằng
John làm vỡ cái lỉ rỗi)
b The glass was broken by John
(Cái lì bị thằng John làm vỡ rồi)
Ngữ pháp truyền thống cho rằng
sự khác biệt giữa câu ở 7.a, câu ở dạng
chủ động, và câu 7.b, câu ở dạng bị
động, là sự chuyển đổi về mặt từ vựng
của động từ, và sự chuyển đổi về vị
trí của chủ ngữ và bổ ngữ của hai
câu Ngữ pháp truyển thống cho
rằng để chuyển đổi câu ở dạng chủ
động sang câu ở dạng bị động thì
động từ cần phải là động từ ngoại
động, hay còn gọi là động từ cần bổ
ngữ Ngữ pháp tạo sinh cho rằng
hiện tượng bổ ngữ của câu ở dạng
chủ động (7.a) chuyển lên thành chủ
ngữ của câu ở dạng bị động (7.b) là sự
dịch chuyển cụm danh từ (NP-
movementL,) và rằng câu 7.a chính là
cấu trúc chìm của câu 7.b Ngữ pháp
chức năng phân tích câu dạng bị
động dựa trên vai nghĩa của chúng;
thí đụ như John là tác nhân (agent,)
the glass la bi thé (patient,) v.v
nhưng chưa đưa ra lí thuyết nền để
giải thích cho những hiện tượng này
Việc câu ở dạng bị động có được chấp
nhận hay không, phụ thuộc vào việc
câu đó có đúng ngữ pháp hay không
(well-formedness;) khi một câu ở
dạng chủ động có động từ là thuộc
loại cần bổ ngữ, hay còn gọi là động
từ ngoại động (transiive) thì câu đó
có thể chuyển đổi qua dạng bị động
29 Nếu xét theo những nguyên tắc
của các trường phái ngữ pháp truyền thống vừa nêu trên để phân tích câu
ở dạng bị động, chúng ta sẽ gặp nhiều tắc rối khi có những câu ở dạng bị
động được chuyển từ câu chủ động
và tuân thủ các nguyên tắc nhưng mức độ chấp nhận của câu đó rất thấp, hoặc câu đó hoàn toàn không tổn
tại, hoặc nghĩa của câu đó bị thay
đổi so với nghĩa ban đầu
Xét thí dụ sau:
._ (8)a Federer broke the third game
of the first set
(Federer danh diém break ở bàn
thứ 3 của ván thứ nhất)
b ? The third game of the first set was broken by Federer
(Bàn thứ 3 của ván thứ nhất - bị
Federer dành điểm)
Ở thí dụ trên, câu 8.a thường được nghe boặc đọc khi người ta tường thuật
về một trận đấu quần vợt Ở môn
thể thao này, người giao bóng có lợi thế và thường dành điểm Người trả
giao bóng không có lợi thế và là
người gây được chú ý của khán giả
khi trả giao bóng tốt và dành điểm
khi đối phương giao bóng Nếu đành chiến thắng trong bàn đấu mà đối
phương giao bóng, ta gọi là dành
điểm break Những người biết chơi
quân vợt đều hiểu vềể xu hướng đó
và biết rằng câu 8.a là câu nói rất
bình thường, tự nhiên, và hoàn toàn
chấp nhận được về mặt ngữ nghĩa
và cú pháp Nói một cách khác,
những người hiểu quần vợt đã tích lũy kiến thức đó thông qua những trải
nghiệm có thể là từ thực tế, có thể là
từ sách báo Từ những trải nghiệm
đó, người ta chấp nhận câu 8.a
Trang 7Do vậy, để hiểu được từ break
(dành điểm hoặc là thắng bàn đấu
khi đối phương giao bóng) chúng ta
cần có kiến thức Hên quan tới quần
vợt, cụ thể là việc một tay vợt đành
điểm trong khi đối phương giao
bóng Khung nghĩa mà từ break tạo
ra bao gồm người giao bóng, người
trả giao bóng, bàn đấu, sự chú ý
của người xem tới khả năng trả
giao bóng của vận động viên, v.v
Trong tình huống ở câu thi du 8,
Federer là người trả giao bóng,
điều đó thu hút sự chú ý của người
nói Chính điều đó góp phần giúp
người nói quyết định đưa Federer
làm điểm khởi đầu và có điểm lơi
thế trong phát biểu của mình
Xét theo tính chất về sự liên
kết giữa dụng học và nghĩa học, ngữ
cảnh và ngữ nghĩa của Nghĩa học
bách khoa, chúng ta hiểu từ break
chỉ có nghĩa là dành điểm trong ngữ
cảnh cụ thể của một ván đấu quần
vợt Vượt ra ngoài khung cảnh đó, từ
break không cho ta nghĩa vừa nêu
Ngoài ra, tính động từ của từ break
cũng được thấy rất rõ trong ngữ
cảnh của môn thể thao quần vợt
Nếu tay vợt thi đấu với một tay vợt
hàng đầu thì việc ghi điểm break khi
anh ta giao bóng là một điều rất khó
khăn; nên khi nghe Federer ghi
điểm break trong trận đấu đó chẳng
hạn, người nghe sẽ có được ấn
tượng và thán phục Federer hơn nếu
ta nghe cũng là việc Fedcrer ghi
điểm break nhưng đối thủ là một tay
vợt khác có trình độ thấp hơn
Ngược lại với những gì chúng
ta thấy ở hai câu 8.a, câu 8.b không
có độ chấp nhận cao, không được
xem là câu tiếng Anh bình thường
trong giao tiếp cho dù câu này hoàn
toàn phù hợp về cấu trúc ngữ pháp
Trong ngôn ngữ của quần vợt, người
thi đấu là đối tượng được người ta
quan tâm; cụ thể trong trường hợp
này là vận động viên trả giao bóng,
vì vận động viên trả giao bóng không có những lợi thế về bàn đấu, Việc anh/ chị ta thắng điểm là một phần gay cấn, thứ vị của trận đấu và
là sự chờ đợi của khán giả Cần nói
rõ rằng trong quân vợt chuyên
nghiệp, cú giao bóng là điểu kiện tốt nhất để có điểm trong thi đấu
Hơn nữa, xét theo khung ngHĩa của từ
break, chúng ta cần có người trả giao bóng - người lấy điểm break,
và người mất điểm khi giao bóng
TY break được dùng cho việc một
tay vợt ghi điểm khi trả giao bóng,
hoặc nếu dùng ở dạng bị động thì được nói về tay vợt bị mất điểm khi giao bóng, chứ không nói về một bàn đấu Và điểu này đã trở thành một phần trong kiến thức mà người
ta tích luỹ thông qua các trải
nghiệm của bản thân Chính vì vậy, câu 8.b không được xem là bình
thường đối với những người am
hiểu quân vợt
Trong trường hợp người nói muốn
hướng sự chú ý tới người bị mất điểm,
thi dy nhu Nadal, thì câu nói có thể
là:
(9)a Nadal was broken at the
third game oƒ the first set, hoặc
b Nadal had his service broken
at the third game of the first set
(Nadal bj mất điểm khi cdm
giao bóng ở bàn thứ 3, ván thứ nhất)
Có rất nhiều trường hợp khác trong tiếng Anh mà câu văn sẽ chỉ
được coi là phù hợp với tự nhiên trong
giao tiếp khi được sử dụng ở đạng chủ
Trang 8
Ap dung
động Còn nếu chúng ta cố tình đưa
sang dạng bị động thì tính phù hợp
của câu văn sẽ không cao và có khi bị
coi là bất thường Chúng ta hãy
tham khảo thêm hai thí dụ sau:
(10)a I had to parallel park my
car
b ? My car had to be parallel
parked
(Tôi phải đậu xe vào chỗ trống
còn lại giữa hai chiếc xe đang đậu)
(11a Mary crossed the street
(to buy her lunch)
b ? The street was crossed by
Mary
(Mary di qua đường để mua bữa
trưa.)
Động từ parallel park muốn chỉ
một trường hợp khi chúng ta đậu xe
vào bên lễ của một con đường; nhưng
chỗ trống còn lại chỉ đủ cho chiếc
xe của chúng ta, và khó khăn hơn là
phía trước và phía sau của chỗ
trống đó đã có hai chiếc xe đang
đậu Việc đậu xe trong tình huống
này rất khó khăn vì rất có thể chúng
ta sẽ đụng vào hai chiếc xe kia
Khung nghĩa mà động từ /ø paraiiel
park tạo ra có người tài xế, xe của họ,
khoảng trống, v.v và những kiến
thức chung về sự khó khăn trong
việc thực hiện việc làm này Cũng
như trường hợp thí dụ 8, người thực
hiện hành động là đối tượng được quan
tâm và điều đó đã trở thành kiến thức
chung cho những người có hiểu biết
về công việc lái xe Do đó, nếu
chúng ta cố tình dua my car lén lam
chủ ngữ ở câu 10.b, thì câu này sẽ
si
không có độ chấp nhận cao dù cú
pháp hoàn chỉnh Tương tự ở thí dụ
11, chỉ có câu 11.a được xem là bình thường trong khi câu 11.b thì ngược
lại
Một số câu văn khi đổi sang đạng bị động thì bị mất nghĩa so với nghĩa ban đầu Thí dụ như câu #e kicked the bucket last night - Ông ấy
đã chết tối qua rôi Nhưng khi chúng
ta chuyển qua dạng bị động The bucket
was kicked by him last night thi nghia
ban đầu của nó mất hoàn toàn Hơn
nữa câu văn không cho chúng ta
biết tác giả muốn nói điểu gì vì cầu
này nói tới cái xô bị một người dùng
chân đá cho nó đổ xuống, một tình huống không liên quan gì đến cái chết
của một người
Ở một số trường hợp khác, câu
văn chỉ có thể xem là phù hợp khi tôn
tại dưới dạng bị động mà thôi Còn
nếu chúng ta nói rằng cấu trúc nguyên thủy, hay cấu trúc chìm của chúng nằm ở dạng chủ động, thì sẽ trái với kiến thức bách khoa vể
ngôn ngữ mà chúng ta có Thí dụ ta
thường nghe câu 12.a, không phải là
câu 12.b
(12)a This car was made in China
b ? A company in China made
this car
(Chiếc xe hơi này được sân xuất
ở Trung Quốc.)
% Tóm lại, lí thuyết về khung
nghĩa và nghĩa học bách khoa là những
Hí thuyết quan trọng trong ngữ nghĩa
học tri nhận Lí thuyết này phủ nhận
quan điểm truyền thống cho rằng nghĩa
học và dụng học không có sự kết hợp
Trang 9và có thé nghiên cứu riêng biệt
Nghĩa của từ tôn tại trong ngữ cảnh; ở
những ngữ cảnh khác nhau thì từ cho ta
những nghĩa khác nhau Khi chúng
ta biết nghĩa một từ, nghĩa là ta biết
những thông tin liên quan tới từ đó;
do vậy, kiến thứ bách khoa mang tính
hệ thống Nhiều khi, trong một tình
huống cụ thể nào đó, ta chỉ cẩn
nghe một từ và đoán ra được thông
tin của cả tình huống vì ta dựa vào
tính hệ thống của kiến thức ta có; do
vậy ta nói rằng chính các đơn vị từ
vựng là các điểm tiếp cận của trí
thức bách khoa
Khung nghĩa và nghĩa học bách
khoa là những lí thuyết mới nhưng
chúng mang lại cho người học
những nền tang lí thuyết thuyết
phục cho việc nghiên cứu ngôn ngữ
Ngữ nghĩa học bách khoa dựa trên
nên tảng nhận thức Và xu hướng
này là “xu hướng tất yếu của nghiên
cứu ngôn ngữ” vì nghiên cứu ngôn
ngữ học “phải mang tính nhận thức
bởi lẽ ngôn ngữ hay ý nghĩa về bản
chất là nhận thức” [8]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Evans et al, The Cognitive
linguistics enterprise: An overview
The cognitive linguistics reader, 2006,
tr 1-60
2 Fillmore C.J., Scenes - and -
frames semantics, Jn Linguistics Structures
Processing, ed by Antonio Zampolli
Amsterdam and New York: North Holland
Publishing Company, 1977a, tr 55-81
3 Fillmore C.J., Frame semantics,
In Linguistics in the Morning Calm,
ed, by The Linguistic Society of Korea, Soeul: Hanshin 1982, tr 111-137
4 Jensen K.E, Language and
Cognition, Odense: University of Southern Denmark, 2004
5 Hifery J., Cognitive Linguistics:
An introduction Sketch, Barcelona: Universiata de Barcelona, 2000
6 Langacker R., Foundations of
Cognitive Grammar, Volume I, Stanford
University Press, 1987
7 Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, Nxb KHXH, H.,
2005
§ Nguyễn Hoà, Hệ hình nhận
thức trong nghiên cứu ngôn ngữ, 7⁄c
Ngôn ngữ, Số I, 2007, tr 6-16