Các loại thủy tinh có nguồn gốc tự nhiên, gọi là các loại đá vỏ chai, đã được sử dụng từ thời kỳ đồ đá. Chúng được tạo ra trong tự nhiên từ các nham thạch (magma) núi lửa. Người nguyên thủy dùng đá vỏ chai để làm các con dao cực sắc. 1500 BC Containers, Touthmosis III, cát khuôn với cát lõi và loại bỏ của scraping. 900 TCN Trong Xiri Rhodes, Hy Lạp, bắt đầu sản xuất thủy tinh, thuỷ tinh công thức nấu ăn bắt đầu được xây dựng 650 TCN Trước tiên Glassmaking Cẩm nang, Assyrian Assurbanipal của Thư viện 500 TCN Venetian kính nghệ sĩ bắt đầu để tạo ra and vase và mảnh kính thủy tinh cuộn 50 TCN Phoenician glassblowing khởi sắc để tạo ra kính nghệ thuật 25 TCN 400 AD Roman đế quốc gây ra nhanh chóng phát triển và mở rộng sản xuất thuỷ tinh tan, làm việc và tạo thành công nghệ trong các khu vực Trung 100 AD Thủy tinh chi phí nhanh chóng từ chối và cho lần đầu tiên trở nên sẵn có cho ít hơn aristocracy 1000 AD Venice kính trung tâm chi phối trong sản xuất thủy tinh, Murano là hòn đảo được thành lập như là một trung tâm lớn kính. Venice di chuyển của nó kính ovens đến đảo Murano để loại bỏ những nguy cơ hỏa hoạn. Thành phố thiết lập draconian hình phạt đối với bất kỳ kính hiện caught jeopardizing các Venetian độc quyền rõ ràng trong sản xuất thủy tinh bằng việc bí mật ở nước ngoài.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU
Giảng viên hướng dẫn:
Nhóm thực hiện:
1 Nguyễn Ngọc Thiện Hữu V1201551
2 Trần Kim Thịnh V1203837
3 Phạm Lê Minh Kha V1201567
4 Nguyễn Duy Khánh V1201633
5 Vũ Đình Anh Kiệt V120
6 Nguyễn Gia Lai V120
7 Phan Trung Kiên V1201769
8 Lê Nhân Hữu V1201549
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 5 năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
Phụ lục trang
I Lịch sử phát triển của thủy tinh 3
II Phân loại 5
III Tính chất 6
IV Quy trình sản xuất 9
V Ứng dụng 11
VI Các nhà máy 11
Trang 3I LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA THỦY TINH
- Các loại thủy tinh có nguồn gốc tự nhiên, gọi là các loại đá vỏ chai, đã được
sử dụng từ thời kỳ đồ đá Chúng được tạo ra trong tự nhiên từ các nham thạch (magma) núi lửa Người nguyên thủy dùng đá vỏ chai để làm các con dao cực sắc
- 1500 BC - Containers, Touthmosis III, cát khuôn với cát lõi và loại bỏ của scraping
- 900 TCN - Trong Xi-ri & Rhodes, Hy Lạp, bắt đầu sản xuất thủy tinh, thuỷ tinh công thức nấu ăn bắt đầu được xây dựng
- 650 TCN - Trước tiên Glassmaking Cẩm nang, Assyrian Assurbanipal của Thư viện
- 500 TCN - Venetian kính nghệ sĩ bắt đầu để tạo ra and vase và mảnh kính thủy tinh cuộn
- 50 TCN - Phoenician glassblowing khởi sắc để tạo ra kính nghệ thuật
- 25 TCN - 400 AD - Roman đế quốc gây ra nhanh chóng phát triển và mở rộng sản xuất thuỷ tinh tan, làm việc và tạo thành công nghệ trong các khu vực Trung
- 100 AD - Thủy tinh chi phí nhanh chóng từ chối và cho lần đầu tiên trở nên sẵn có cho ít hơn aristocracy
- 1000 AD - Venice kính trung tâm chi phối trong sản xuất thủy tinh, Murano là hòn đảo được thành lập như là một trung tâm lớn kính Venice di chuyển của
nó kính ovens đến đảo Murano để loại bỏ những nguy cơ hỏa hoạn Thành phố thiết lập draconian hình phạt đối với bất kỳ kính hiện caught jeopardizing các Venetian độc quyền rõ ràng trong sản xuất thủy tinh bằng việc bí mật ở nước ngoài
- 1590 - Thuỷ tinh Telescope microscope và ống kính được phát triển ở Hà Lan
và được sử dụng cho lần đầu tiên
- 1600 - Pháp thành lập chính là sức mạnh trong các ngành công nghiệp thủy tinh, Henry IV confers độc quyền đối với một số Italians để sản xuất thủy tinh trong lựa chọn các thành phố ở Pháp
- 1665 - Jean Baptiste Colbert kính tập trung thực hiện tại Pháp và thành lập dominance kính phẳng và được sử dụng trong cung Of Versailles lâu dài như
là một biểu tượng của nghệ thuật và công nghệ của họ
- 1693 - Pháp là một thống trị sản xuất các sản phẩm căn hộ cho các gương kính
và cửa sổ, Saint-Gobain nhà máy sẽ trở thành những "Sản xuất Royle des Glaces của Pháp"
- 1765 - "pha lê thuỷ tinh" bắt đầu sản xuất
- 1800 - cuộc cách mạng công nghiệp dawns một kỷ nguyên mới trong sản xuất thủy tinh "Synthetic" hóa chất làm cho thủy tinh có sẵn sàng cho lần đầu tiên Tổng hợp với nâng cao chất lượng ly trở thành tài sản hiện có
Trang 4- 1863 - sovay quá trình làm giảm đáng kể chi phí của một chất chính trong thủy tinh, natri oxide
- 1867 - Siemens anh em, Freiderich, Karl, Hans, Wilhelm Werner và bằng sáng chế và phát triển đầu tiên regenerative kính trong lò Dresden, Đức
- 1875 - Kỹ thuật kính được phát triển ở Đức, Abbe, Schott, và Carl Zeiss Trường Đại học Jena, Jena, Đức trở thành một ngành khoa học và kỹ thuật thủy tinh trung tâm Dụng cụ thủy tinh hóa học của nó là trong infancy
- 1876 - Bausch & Lomb Quang Công ty được thành lập ở Rochester, NY Thực của ống kính và các thành phần quang
- 1900 - Mechanized bắt đầu quá trình hình thành
- 1915 - Trường Đại học Sheffield thành lập Cục Công nghệ sản xuất thủy tinh, bây giờ gọi là Trung tâm Nghiên cứu Thủy tinh
- 1920 - Griggith lý thuyết về thế mạnh của brittle vật liệu đầu tiên áp dụng cho kính bulbs cố weakened của scratches, sự hiểu biết về cải thiện đáng kể và làm thế nào để cải thiện sức mạnh của thủy tinh
- 1923 - Gob Feeder giới thiệu rộng khắp thế giới
- 1925 - Cá nhân Phần (IS) chai máy invented của Henry Ingle được sử dụng với các gov feeder để tăng đáng kể và giảm chi phí sản xuất thủy tinh chứa
- 1926 - Arthur Gỗ và David xám của Corning Glass Works phát triển "399" máy tính sau này gọi là "Ribbon" máy để làm cho ánh sáng bulbs Bulbs có thể thực hiện tại tốc độ của 1000 cho mỗi phút
- 1932 - William Zachariasen xuất bản là "ngẫu nhiên Mạng Giả thuyết" của thủy tinh và các quy tắc cấu trúc của thủy tinh hình thành trong J Amer Chem Xã hội
- 1950 -1960 - Ford Motor Co thiết lập các trung tâm nghiên cứu kính, kính sẽ trở thành một ngành khoa học nghiên cứu về kỷ luật
- 1959 - Pilkington Brothers sáng chế độc quyền các phao thủy tinh, xử lý và được giới thiệu tại Anh và sẽ revolutionized cuối cùng là căn hộ sản xuất thủy tinh
- 1970 - 1 Silica quang sợi sản xuất tại công Corning kính bằng cách sử dụng hóa chất hơi deposition attenuation kỹ thuật để làm giảm và cải thiện tín hiệu truyền
- 1970-1980 - mở rộng của nhiều trường đại học thủy tinh trên các chương trình nghiên cứu tại Hoa Kỳ Catholic University, Penn State, Rutgers vv
- 1984 - Marcel & Michel Poulain và Jacques Lucas khám phá đầu tiên trong fluoride kính Rennes, Pháp
- Ngày hôm nay - Dụng cụ thủy tinh đang được nghiên cứu di chuyển ngoài oxide kính chemistries tan truyền thống và chế biến Hoàn toàn mới chẳng hạn như các quy trình sol-gel chế biến, hóa chất hơi deposition đang được phát triển Kính chemistries mới đang được phát triển tất cả các thời gian, đặc biệt
Trang 5là không oxide chemistries như là ảnh nhũ tương kính, chalcogenide ly và chalcohalide ly
1 Thủy tinh vô cơ
- Thủy tinh đơn nguyên tử : là loại thủy tinh có chứa một loại nguyên tố hóa học thuộc nhóm 5, 6 trong bảng hệ thống tuần hoàn S, Se, P Để có được thủy tinh người ta làm lạnh nhanh các chất nóng chảy
- Thủy tinh oxit: là thủy tinh từ một loại oxit hoặc các oxit Để xác định lớp thủy tinh nào đó chú ý đến lớp tạo thành thủy tinh: B2O3, SiO2, GeO2, P2O5, TeO2, Al2O3… Do vậy ta có các lớp thủy tinh: Silicat, borat, germanat, telurit, aluminat…
- Thủy tinh halogen: hai halogen có khả năng tạo thủy tinh là BeF2, ZnCl2 Trên cơ sở BeF2 tạo được nhiều loại thủy tinh Fluorit
- Thủy tinh khancon: là các loại thủy tinh đi từ các hợp chất của S, Se,Te Các loại sunfit có khả năng tạo thủy tinh là: GeS2, As2S3
Các selenit có khả năng tạo thủy tinh: AS2Se3, GeSe, P2Se3
- Thủy tinh hỗn hợp: đi từ hỗn hợp các chất có khả năng tạo thủy tinh:
Oxit – Halogen: PbO-ZnF2-TeO2; ZnCl2-TeO2 Oxit – Khancon: Sb2O3-As2S3; As2S3-As2O3-MemOn (Sb, Pb, Cu)
Halogen – Khancon: As-S-l; As-S-Br; As-S-I; As–Te-I…
- Thủy tinh kim loại thường là một hệ hơn hai cấu tử Trong đó một cấu tử kim loại điển hình: Fe, Pb… còn cấu tử kia là nguyên tố chiếm vị trí trung gian giữa kim loại và chất điện môi (Si, P) Cấu trúc của thủy tinh kim loại là sự gói gém chắc đặc không có trật tự của các khối cầu có kích thước khác nhau Thủy tinh kim loại có độ bền cao, là loại vật liệu dẻo chứ không cứng dòn, chịu biến dạng trượt, bền đối với tác nhân ăn mòn, có nhiều đặc tính quý…
2 Thủy tinh hữu cơ
Thủy tinh hữu cơ [CH2=C(CH3)COOCH3]
là một loại vật liệu nhựa tổng hợp thủy tinh Nó bao gồm các hợp chất phân tử hữu cơ mà không tuân theo bất kỳ nguyên tắc bố trí định kỳ và do đó nó có cấu trúc vô định hình
3 Gốm thủy tinh
Là chất tinh thể điều chế từ vật liệu ban đầu là thủy tinh Có đặc tính của thủy tinh
và gốm Giữ độ bền cơ học ở nhiệt độ cao Điều chế bằng cách chế hóa nhiệt một
số loại thủy tinh, sẽ làm xuất hiện những mầm tinh thể trong toàn khối thủy tinh
Hệ gốm thủy tinh điển hình LiO2–SiO2
Trang 6III TÍNH CHẤT
1 Tính chất chung
- Có tính đẳng hướng, tức là tính chất của nó xét theo mọi hướng đều như nhau
- Có thể nóng chảy và đóng rắn thuận nghịch Nghĩa là có thể nấu chảy nhiều lần sau đó làm lạnh theo cùng một chế độ lại thu được chất ban đầu ( nếu không xảy ra kết tinh hoặc phân lớp tế vi ).
- Vật thể ở trạng thái thủy tinh có năng lượng dữ trữ cao hơn trạng thái tinh thể.
- Khi bị đốt nóng, nó không có điểm nóng chảy như vật thể kết tinh mà mềm dần, chuyển từtrạng thái giòn sang dẻo có độ nhớt cao và cuối cùng chuyển sang trạng thái lỏng giọt Sự biến thiênliên tục của độ nhớt có thể cho ta thấy quá trình đóng rắn không có sự tạo thành pha mới Ngoài độnhớt ra còn nhiều tính chất khác cũng thay đổi liên tục như thế.
Các tính chất của thủy tinh có thể phân chia thành 2 nhóm: nhóm các tính chất đơn giản và nhóm các tính chất phức tạp
- Nhóm các tính chất đơn giản: gồm những tính chất có quy luật biến đổi theo thành phần hóa không phức tạp và có thể tính toán định lượng được Như khối lượng riêng, chiết suất, hệ số giãn nở nhiệt, hằng số điện môi, mô đun đàn hồi, nhiệt dung riêng, hệ số dẫn nhiệt, độ tán xạ trung bình
- Nhóm các tính chất phức tạp: gồm các tính chất biến đổi nhạy hơn theo sự biến đổi của thành phần hóa, tốc độ khuếch tán ion, độ tổn thất điện môi, độ bền hóa, độ thấu quang, độ cứng, sức căng bề mặt, khả năng kết tinh
Độ bền cơ học của thủy tinh được coi là thuộc một nhóm đặc biệt Ảnh hưởng của thành phần hóa đến độ bền cơ của thủy tinh(trừ thủy tinh sợi) thường không rõ rệt vì yếu tố đóng vai trò quan trọng hơn cả là điều kiện bên ngoài
2 Tính chất cơ học của thủy tinh
a Mật độ và thành phần hóa
- Thủy tinh có thành phần hóa khác nhau thì có mật độ khác nhau,
- Mật độ của phần lớn thủy tinh silicatcanxinatri xấp xỉ 2,5g/cm3
b Các tính chất cơ học khác
- Độ bền nén dao động từ 3000-12000 kG/cm2
- Độ chịu va đập của thủy tinh biểu hiện một tính chất rất đặc trưng của nó là tính giòn và được đo bằng công cần thiết để phá hủy một đơn vị mẫu thử
Trang 7- Độ cứng của thủy tinh dao động từ 5-7 theo thang Mohs và thủy tinh thạch anh là thủy tinh có độ cứng lớn nhất,mềm nhất là thủy tinh giàu PbO
3 Tính chất nhiệt của thủy tinh
- thủy tinh là loại vật liệu dẫn nhiệt kém, đây là 1 trong những nguyên nhân gây
ra ứng suất phá hủy thủy tinh khi đốt nóng hay làm lạnh đột ngột
- Chiều dày của sản phẩm có ảnh hưởng đến độ chịu nhiệt của nó, càng dày thì
độ chịu nhiệt càng giảm và sản phẩm càng lớn độ bền nhiệt càng kém
- Yếu tố quyết định độ bền nhiệt là hệ số giãn nở nhiệt Thạch anh bền nhiệt nhất, sau đó là thủy tinh borosilicate ít kiềm và kém bền nhất là thủy tinh giàu kiềm
4 Tính chất điện của thủy tinh
- Ở nhiệt độ thấp thủy tinh không dẫn điện và được sử dụng làm vật liệu cách điện Ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ mềm thủy tinh trở thành dẫn điện Vì thế có thể nấu thủy tinh bằng dòng điện
a Độ dẫn điện
- Thủy tinh dẫn điện bằng các ion Vì thế điện trở riêng (ρ) của thủy tinh ngay ở trạng thái nóng chảy cũng lớn hơn vật liệu dẫn điện bằng điện tử Ở nhiệt độ phòng điện trở riêng của thủy tinh vào khoảng 1015Ωcm Khi chảy lỏng nó giảm xuống còn 10-102Ωcm, lớn gấp khoảng một triệu lần điện trở kim loại
- Nếu cho dòng điện một chiều đi qua thủy tinh nóng chảy sẽ xảy ra hiện tượng điện phân
- Để tránh sự dẫn điện bề mặt, trên bề mặt thủy tinh có thể tráng một lớp màng
kị nước như paraffin hoặc hợp chất silic hữu cơ
b Hằng số điện môi
- Thủy tinh có hằng số điện môi lớn nên có thể dùng làm chất điện môi trong các tụ điện Hằng số điện môi là đại lượng liên quan đến sự phân cực ion, nguyên tử của chất điện môi dưới ảnh hưởng của điện trường bên ngoài
- Ở trạng thái bình thường thủy tinh trung hòa về điện nhưng khi đặt trong điện trường sẽ có hiện tượng phân cực điện môi
- Khi nhiệt độ tăng, các ion linh động, dễ phân cực hơn nên Ɛ tăng Tần số điện trường tác dụng tăng thì Ɛ giảm vì ở tần số cao các ion không chuyển hướng kịp thời với điện trường
c Độ bền điện môi
Là khả năng chịu đựng của thủy tinh không bị phá hủy dưới tác dụng của điện áp cao Nó được đo bằng tỉ số giữa điện áp xuyên thủng mẫu thử với chiều dày của mẫu nơi bị đánh thủng Độ bền điện môi hay cường độ điện môi được biểu diễn bằng kv/cm hoặc kv/mm Nó phụ thuộc vào thành phần thủy tinh và điều kiện đo( nhiệt độ, chiều dày mẫu thử, tần số điện trường, thời gian chịu điện áp)
5 Tính chất quang học của thủy tinh
Trang 8Là vật liệu trong suốt nên thủy tinh dùng trong chiếu sáng và làm các linh kiện quang học
a Chiết suất và độ tán sắc
- Chiết suất của một chất được định nghĩa là tỉ số giữa tốc độ ánh sáng trong chân không (C) và tốc độ trong chất (v)
- Hiện tượng tán sắc khi chiếu áng sáng qua lăng kính được đặc trưng bằng 3 thông số:
+ Hệ số tns sắc trung bình (nF – nC) + Hệ số tán sắc riêng (nF – nD);(nD – nC) + Số Abeovo γ =(nD -1)/(nF –nC)
- Chiết suất và độ tán sắc phụ thuộc vào thành phần hóa
b Sự phản xạ ánh sang Khi ánh sáng đi từ môi trường này sang môi trường khác, một phần ánh sáng
bị phản xạ ởtrên bề mặt phân cách giữa 2 môi trường ngay cả khi 2 môi trường đều trong suốt Sự phản xạ ánh sáng của thủy tinh được đặc trưng bằng
hệ số phản xạ R Đó là tỉ số giữa cường độ ánh sáng phản xạ I trên bề mặt thủy tinh với cường độ ánh sáng tới
c Sự hấp thụ ánh sang của thủy tinh
- Thủy tinh hấp thụ ánh sáng có chọn lọc nên nó có những màu sắc khác nhau
Sự hấp thụ này do một số chất tạo màu trong thủy tinh gây nên Như vậy thành phần của tia tới truyền qua vật liệu trong suốt sẽ thay đổi phụ thuộc vào những tổn hao do hấp thụ và phản xạ
- Thực tế người ta thấy rằng:
+ Với tia tử ngoại: Thủy tinh thạch anh cho qua mạnh nhất Thủy tinh thường cho qua nhiều hay ít phụ thuộc vào lượng Fe2O3 Ôxyt Fe2O3 có tác dụng hấp thụ tia tử ngoại tốt nếu kết hợp với TiO2, CeO2, V2O5 Thủy tinh không màu chứa PbO, Sb2O3 hút tia tử ngoại
+ Với tia hồng ngoại : Thủy tinh thạch anh và thủy tinh chứa nhiều FeO hấp thụ mạnh
+ Với tia rơnghen: Thủy tinh chứa các ôxyt kim lọai nặng như PbO hút tốt
- Trong kỹ thuật hạt nhân để hấp thụ neutron dùng thủy tinh chứa CdO và B2O3
d Hiện tượng lưỡng chiết và hiện tượng huỳnh quang
- Bình thường thủy tinh là vật thể đẳng hướng quang học nhưng khi có lực cơ học tác dụnghoặc khi trong nó có ứng suất nội ( do làm lạnh nhanh hay đốt nóng nhanh), thủy tinh sẽ trở thành vật thể bất đẳng hướng và có tính lưỡng chiết Khi ứng suất được loại trừ thì tính lưỡng chiết cũng biến mất
- Có nhiều loại thủy tinh khi chịu tác dụng của tia tử ngoại, tia rơnghen hoặc các tia dặc biệt khác có thể phát ra ánh sáng Hiện tượng phát sáng này gọi là hiện tượng huỳnh quang của thủy tinh
Trang 9- Sự phát huỳnh quang của thủy tinh phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng chiếu vào nó và thành phần hóa của thủy tinh Trong thủy tinh có một số nguyên tố
có hoạt tính huỳnh quang như: U, Se, Mn, Cu, Pb…Hiện tượng huỳnh quang
có í nghĩa trong việc chế tạo các thiết bị như tivi, ra đa , các dụng cụ đo lường…
1 Nguyên liệu
- Cát (SiO2) là thành phần chủ yếu của các loại thủy tinh công nghiệp,chiếm từ 60-70%
- Hàn the (NaB2O7.10H2O) cung cấp B2O3 cho thủy tinh
- Ngoài ra còn có các thành phần khác như Al2O3 ,Na2CO3,BaO,PbO,
2 Quy trình
Quá trình nấu thủy tinh gồm 5 giai đoạn:
a Giai đoạn tạo muối silicat:
- Khoảng 6000C tạo ra các muối kép: CaCO3 + Na2CO3= Na2Ca(CO3)2
- 600 - 800oC muối kép tạo silicat và thoát CO2 :
Na2Ca(CO3)2 + 2SiO2 = Na2SiO3+CaSiO3 + 2CO2
- 720 -900oC: Na2CO3 + SiO2 = Na2SiO3 + CO2
Na2Ca(CO3)2+ Na2CO3 + 3SiO2 = 2Na2SiO3 + CaSiO3 + 3CO2
- 912oC CaCO3 bị phân hủy: CaCO3 = CaO + CO2
- 1010oC : CaO + SiO2 = CaSiO3
b Giai đoạn tạo thủy tinh Nhiệt độ từ 900oC – 1200oC
- Các muối silicat chảy lỏng thành một khối trong suốt
- Có nhiều bọt khí và thành phần chưa đồng nhất
c Giai đoạn khử bọt Nhiệt độ khoảng 1400oC – 1500oC
- Các bọt được thoát ra hết, ở cuối giai đoạn ta không thể nhìn thấy các bọt trong thủy tinh
d Giai đoạn đồng nhất
- Xảy ra đồng thời với giai đoạn khử bọt
e Giai đoạn làm lạnh
- Hạ nhiệt độ của thủy tinh xuống 1100 – 1300oC để có độ nhớt đảm bảo cho quá trình tạo hình sản phẩm
Có thể chế tạo thủy tinh bằng 2 phương pháp:
- Phương pháp thủ công: thường thấy là thổi thủy tinh
Đầu tiên, thủy tinh được nấu chảy ra, pha vào hỗn hợp thủy tinh đó là đá vôi (CaCO3), sô đa (Na2CO3) hay bồ tạt (K2CO3) Sau đó, toàn bộ hỗn
Trang 10hợp sẽ được nấu nóng chảy trong lò Người ta lấy hỗn hợp ra bằng một ống kim loại rỗng
Sau đó, thổi vào ống kim loại lúc hỗn hợp còn nóng ở đầu bên kia ống để tạo ra hình dáng như mong muốn Cuối cùng thì làm lạnh từ từ, sẽ được sản phẩm
- Phương pháp công nghiệp
Trong công nghiệp thì quá trình cũng tương tự nhưng chỉ khác là được làm hoàn toàn bằng máy móc kể cả các công đoạn như làm sạch, lọc tách, pha trộn,
Người ta tạo màu cho thủy tinh bằng cách sử dụng các oxyt kim loại, cường độ màu tuỳ thuộc vào hàm lượng (%) ôxít gây màu đưa vào và bản chất men Những ôxít màu hoặc muối của chúng khi đưa riêng vào men gốm sẽ cho màu thông thường là:
CoO, Co2O3, Co3O4, Co(OH)2: cho màu xanh
NiCO3: cho màu vàng bẩn
CuO, Cu2O: cho màu xanh khi nung trong trong môi trường ôxy hoá, màu
đỏ trong môi trường khử
Cr2O3: Cho màu lục
Sb2O3, Sb2O5 cho màu vàng
FeO, Fe2O3, Fe3O4: cho màu đỏ vang, vàng và nâu khi nung trong trong môi trường ôxy hoá; xanh xám đến xanh đen trong môi trường khử
MnCO3: cho màu đen, tìm hoặc đen
SnO2, ZrO2: cho màu trắng (men đục)
TiO2: cho màu vàng
3 Lò nấu thủy tinh: có 2 loại
- Loại lò làm việc gián đoạn
- Loại lò làm việc liên tục
- Thuỷ tinh được sử dụng rộng rãi trong vật dụng hàng ngày
- Việc phát minh ra bóng đèn đã bắt đầu sự phát triển mạnh mẽ của ngành kỹ thuật điện chân không
- Ngoài bóng đèn còn các loại đèn trang trí, màn hình tivi, máy vi tính…
- Công nghệ thủy tinh phát triển đảm bảo cung cấp các chi tiết quang học phức tạp
- Loại thủy tinh đặc biệt có độ bền axit, độ bền kiềm cao phục vụ cho các ngành công nghiệp hóa
- Trong nhiều trường hợp thủy tinh thay thế cho kim loại màu, nó được sử dụng trong nghành xây dựng