Quan hệ này được xây dựng trên cơ sở chế độ chiếm hữu của địa chủ phong kiến đối với đất đai, đối với các tư liệu sản xuất khác và đối với việc chiếm đoạt một phần sức lao động của nông
Trang 1Kế thừa tư tưởng của C Mác và Ph ăngghen; tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, V.I Lênin đã định nghĩa:
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Ở định nghĩa này, V.I.Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng:
Trước hết: là phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau Vật chất với
tư cách là phạm trù triết học dùng chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của vật chất như các nhà duy vật trong lịch sử cổ đại, cận đại đã làm
Thứ hai: là trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để nhận biết vật chất chính là thuộc tính khách quan Khách quan, theo V.I.Lênin là "cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người" Trong đời sống xã hội, vật chất "theo ý nghĩa là tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người" Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất không có nghĩa gì khác hơn: "thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ý thức con người phản ánh"
Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được
- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan của con người
- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất
Với những nội dung cơ bản như trên định nghĩa vật chất của V I Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn.:
- Khi khẳng định vật chất là "thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác", "tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác", V.I.Lênin đã thừa nhận rằng, trong nhận thức luận, vật chất là tính thứ nhất, là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức Và khi khẳng định vật chất là cái "được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh", V.I.Lênin muốn nhấn mạnh rằng bằng những phương thức nhận thức khác nhau (chép lại, chụp lại, phản ánh ) con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ thuyết không thể biết, đã khắc phục được những hạn chế trong các quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác
về vật chất Đồng thời, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin còn có ý nghĩa định hướng đối với khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới
Trang 2- Khi nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội Từ đó giúp các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất; trên cơ sở ấy, người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy
xã hội phát triển
2
- Khái niệm chân lý
Trong phạm vi lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin, khái niệm chân lý dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế khách quan; sự phù hợp đó đã được kiểm tra và chứng minh bởi thực tiễn
Ví dụ, hiểu biết sau đây là một chân lý: “không phải mặt trời xoay quanh trái đất mà là ngược lại, trái đất xoay quanh mặt trời”
- Các tính chất của chân lý
Mọi chân lý đều có tính khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể
+ Tính khách quan của chân lý là nói: tính phù hợp nữa tri thức và thực tại khách quan; không phụ thuộc ý chí chủ quan
Ví dụ, sự phù hợp giữa quan niệm “quả đất có hình cầu chứ không phải hình vuông” là phù hợp với thực tế khách quan; nó không phụ thuộc vào quan niệm truyền thống đã từng có hàng nghìn năm trước thời Phục hưng
+ Tính cụ thể của chân lý là nói: tính có điều kiện của mỗi tri thức, phản ánh sự vật trong các điều kiện xác định không gian, thời gian, góc độ phản ánh, )
Ví dụ, mọi phát biểu định lý trong các khoa học đều kèm theo các điều kiện xác định nhằm đảm bảo tính chính xác của nó: “trong giới hạn của mặt phẳng, tổng các góc trong của một tam giác là 2 vuông; nước sôi ở 100°C với điều kiện nước nguyên chất và áp suất 1 atmotphe,
+ Tính tương đối và tính tuyệt đối của chân lý là nói: mỗi chân lý chỉ tuyệt đối đúng trong một giới hạn nhất dịnh, còn ngoài giới hạn đó thì nó có thể không đúng; mặt khác, mỗi chân lý, trong điều kiện xác định, nó mới chỉ phản ánh được một phần thực tại khách quan
Ví dụ, trong giới hạn mặt phẳng (có độ cong bằng 0) thì tổng các góc trong của tam giác tuyệt đối bằng 2 vuông (tính tuyệt đối), nhưng nếu điều kiện đó thay đổi đi (có độ cong khác 0) thì định lý đó không còn đúng nữa (tính tương đối), nó cần phải được bổ sung bằng định lý mới (sự phát triển quá trình nhận thức dần tới chân lý đầy đủ hơn - tức chân lý tuyệt đối)
- Chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối
Chân lý tương đối là chân lý chưa phản ánh được đầy đủ đối với thực tại khách quan; còn chân lý tuyệt đối là chân lý phản ánh được đầy đủ đối với thực tại khách quan Theo nghĩa đó, chân lý tuyệt đối chính là tổng số của chân lý tương đối xét trong quá trình phát triển của nhận thức nhân loại
Trang 3Ví dụ, hai khẳng định sau đây đều là chân lý, nhưng chỉ là chân lý tương đối: (1) Bản chất của ánh sáng có đặc tính sóng; (2) Bản chất của ánh sáng có đặc tính hạt Trên cơ sở hai chân lý đó có thể tiến tới một khẳng định đầy đủ hơn: ánh sáng mang bản chất lưỡng tính là sóng và hạt
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/chan-ly-la-gi-chan-ly-co-nhung-tinh-chat-chung-nao-the-nao-la-
chan-ly-tuong-doi-va-chan-ly-tuyet-doi-chan-ly-co-vai-tro-gi-doi-voi-thuc-tien-c126a20413.html#ixzz5orvI2wU5
Ki u nhà nể ước phong ki n là ki u nhà nế ể ước th hai trong l ch s xã h i loài ngứ ị ử ộ ười, ra đ i trên sờ ự tan rã c a ch đ chi m h u nô l ho c xu t hi n tr c ti p t s tan rã c a xã h i c ng s n nguyênủ ế ộ ế ữ ệ ặ ấ ệ ự ế ừ ự ủ ộ ộ ả
th y.ủ
B n ch t c a nhà nả ấ ủ ước phong ki n th hi n vi c xây d ng b máy chuyên chính c a vua chúaế ể ệ ở ệ ự ộ ủ phong ki n và đ a ch ế ị ủ
Hình th c ph bi n c a nhà nứ ổ ế ủ ước phong ki n là chính th quân ch chuyên ch v i quy n l c vôế ể ủ ế ớ ề ự
h n c a hoàng đ ạ ủ ế
Nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước thứ hai ra đời trên cơ sở thay thế nhà nước chủ nô bị diệt vong.
Xã hội phong kiến là xã hội có kết cấu giai cấp rất phức tạp Kết cấu này phụ thuộc vào sự khác nhau về kinh tế mà đặc biệt là đất đai Có thể nói, đất đai trong xã hội phong kiến quyết định sự giàu sang, thứ bậc và địa vị của mỗi người trong xã hội.
1 Cơ sở kinh tế - xã hội
- Cơ sở: Nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước thứ hai ra đời trên cơ sở thay thế nhà nước chủ nô bị diệt vong Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, do giai cấp chủ nô bóc lột không có giới hạn đối với người nô lệ nên đã làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô với giai cấp nô lệ ngày càng trở nên gay gắt Nô lệ không muốn lao động, không muốn bị áp bức bóc lột như trước nữa Họ đứng lên đấu tranh chống lại giai cấp chủ nô đòi thay đổi chế độ chiếm hữu nô lệ Về phía giai cấp chủ nô, họ cũng nhận thấy rằng không thể tiếp tục cai trị, áp bức, bóc lột nô lệ như cũ được nữa Đáp ứng nhu cầu về quyền sở hữu của nô lệ, giai cấp chủ nô buộc phải giải phóng nô lệ, giao đất, giao vùng canh tác cho họ và tiến hành thu thuế trên những vùng đất đó Điều này đã dẫn đến sự chuyển hóa dần từ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ sang phương thức sản xuất phong kiến Chế độ chiếm hữu nô lệ dần từng bước bị diệt vong thay vào đó
là chế độ phong kiến và Nhà nước phong kiến ra đời thay thế cho Nhà nước chủ nô bì diệt vong
Cũng cần phải nói thêm là ở một số nơi trên thế giới, Nhà nước phong kiến xuất hiện trực tiếp từ sự tan
rã của chế độ công xã nguyên thủy Sự xuất hiện của Nhà nước phong kiến đánh dấu một bước phát triển mới của xã hội loài người, nó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kình tế - xã hội
mà đặc biệt là xóa bỏ ách nô lệ cho những người lao động, nâng cao năng suất lao động trong xã hội
Cơ sở kinh tế của Nhà nước phong kiến là quan hệ sản xuất phong kiến Quan hệ này được xây dựng trên cơ sở chế độ chiếm hữu của địa chủ phong kiến đối với đất đai, đối với các tư liệu sản xuất khác và đối với việc chiếm đoạt một phần sức lao động của nông dân Nền kinh tế phong kiến là nền kính tế tự cung tự cấp, hoạt động bao trùm là sản xuất nông nghiệp Do vậy, đất đai, quyền sở hữu đất đai, quyền thu thuế trên những vùng đất nhất định là những yếu tố quan trọng bậc nhất trong kinh tế cũng như trong đời sống xã hội phong kiến
Trong xã hội phong kiến, về nguyên tắc địa chủ không có quyền sở hữu đối với người sản xuất là nông dân mà chỉ có quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất Nhưng vì không có đất không có tư liệu sản xuất nên nông dân rơi vào tình trạng lệ thuộc vào địa chủ phong kiến về mặt kinh tế, họ buộc phải làm thuê
Trang 4cho đìa chủ phong kiến và phải làm nhiều nghĩa vụ nặng nề đối với địa chủ phong kiến Hình thức bóc lột phổ biến của địa chủ đối với nông dân là địa tô
Địa vị của nông dân phần nào đã tốt hơn so với địa vị của nô lệ nông dân đã có kinh tế riêng, có một số quyền công dân, có thể thành lập gia đình riêng Tuy nhiên, giai đoạn đầu khi mới xuất hiện chế độ phong kiến " trên thực tế địa vị của nông dân chỉ khác chút ít địa vị của nô lệ trong xã hội chiếm hữu
nô lệ" Với sự phát triển của kinh tế- xã hội cùng chính sách an dân của các Nhà nước phong kiến đã từng bước cải thiện đời sống và địa vị của người nông dân trong xã hội phong kiến
Xã hội phong kiến là xã hội có kết cấu giai cấp rất phức tạp Kết cấu này phụ thuộc vào sự khác nhau về kinh tế mà đặc biệt là đất đai Có thể nói, đất đai trong xã hội phong kiến quyết định sự giàu sang, thứ bậc và địa vị của mỗi người trong xã hội Ngoài ra, sự phân chia đẳng cấp còn phụ thuộc vào địa vị pháp
lý, tính chất và số lượng các quyền mà đại diện của đẳng cấp ấy có thể có Mỗi đẳng cấp có địa vị xã hội khác nhau, có lợi ích kinh tế, chính trị - xã hội khác nhau: Những đẳng cấp thống trị trong xã hội gồm những người nắm giữ quyền hành trong xã hội (vua, chúa), tầng lớp quý tộc (các loại địa chủ lớn, nhỏ với rất nhiều những đanh
vị khác nhau) tầng lớp tăng lữ (cha cố, sư sãi ) Những đẳng cấp bị thống trị gồm nông dân tự do, nông dân lệ thuộc, nông nô, thợ thủ công, dân nghèo thành thị
Trong xã hội phong kiến, bên cạnh quyền lực của vua chúa phong kiến thì mỗi địa chủ phong kiến đều thiết lập và duy trì quyền lực riêng của mình trên những phạm vi lãnh thổ nhất định Dù ở thời kỳ phân quyền cát cứ hay thời kỳ trung ương tập quyền thì quyền lực trong xã hội phong kiến cũng luôn mang tính đẳng cấp khắc nghiệt Điều này dẫn tới tình trạng người nông dân phải chịu rất nhiều tầng nấc áp bức bóc lột
- Bản chất của nhà nước phong kiến
Cơ sở kinh tế và kết cấu giai cấp của xã hội phong kiến đã quyết định bản chất của Nhà nước phong kiến Nhà nước phong kiến xét về mặt giai cấp là công cụ chuyên chính chủ yếu của giai cấp địa chủ phong kiến để chống lại nông dân và những người lao động khác nhằm củng cố, bảo vệ sự thống trị về mọi mặt của địa chủ phong kiến
Quyền lực Nhà nước trong chế độ phong kiến là quyền lực được duy trì theo cách thức cha truyền cáp nối Ngoài quyền lực Nhà nước còn phải kể đến quyền lực của các tổ chức tôn giáo (thần quyền) cũng
có vai trò rất lớn trong đời sống chính trị của đất nước Trong xã hội phong kiến, các tổ chức tôn giáo còn đồng thời là tổ chức kinh tế (các tổ chức tôn giáo có rất nhiệt đất đai và các tài sản quý khác), tổ chức chính trị (các tổ chức tôn giáo có quyền đặt ra luật lệ riêng, có quyền thu thuế, có các đội quân vũ trang,
có toà án riêng ) và là trung tâm văn hoá (các tổ chức tôn giáo có thể mở trường học, thành lập các viện nghiên cứu về khoa học, nghệ thuật :) Với những ưu thế về kinh tế, chính trị, văn hóa như vậy, các tổ chức tôn giáo thường can thiệp, chi phối các công việc của Nhà nước phong kiến, đôi khi lấn át Nhà nước trong một số lĩnh vực nhất định đích sử nhân loại thời kỳ trung cổ đã chứng kiến nhiều cuộc xung đột giữa thần quyền và thế quyền) Tầng lớp tăng lữ, cha cố, sư sãi là những người có học thức cao trong xã hội, do vậy, họ thường được trọng dụng và giữ những cương vị quan trọng trong triều đình Ở các nước phương Đông, người đứng đầu Nhà nước (vua) cũng chính là người lãnh đạo tôn giáo (giáo chủ)
Chính những đặc điểm trên của xã hội phong kiến mà quyền lực của Nhà nước phong kiến thường thỏa hiệp và liên kết chặt chẽ với quyền lực của các tổ chức tôn giáo thành một chế độ cai trị cực kỳ chuyên chế để đàn áp, áp bức, bóc lột nông dân về thể xác cũng như về tinh thần, đẩy người dân vào tình trạng tối tăm, ngu dốt, lạc hậu, luẩn quẩn trong những “đêm dài trung cổ”
Ngoài tính giai cấp, Nhà nước phong kiến còn có tính xã hội Các nhà nước phong kiến tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của đất nước mình luôn tiến hành các hoạt động kinh tế- xã hội vì sự phát triển đất nước, vì lợi ích của nhân dân trong nước, vì sự phồn thịnh của quốc gia Sự tham gia của các nhà nước phong kiến trong việc giải quyết những công việc của xã hội
Trang 5là xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của xã hội phong kiến, từ mong muốn và nguyện vọng của nhân dân và
cả từ ý chí chủ quan, lòng tết của những người cầm quyền Trong xã hội phong kiến, khi mà mọi quyền lực đều thuộc về các vua chúa phong kiến thì nền chính trị tết hay xấu trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào nhân cách, phẩm hạnh của vua, chúa và tầng lớp quan lại trong nước Việc đưa đất nước đến thịnh vượng hay suy vong, nhân dân ấm no hay đói khổ lầm than trong nhiều trường hợp phụ thuộc rất nhiều vào vai trò, sự sáng suốt, nhân từ hay ngu muội, bạo ngược của vua chúa trong đất nước Tuy nhiên, sự quan tâm tới các hoạt động xã hội của Nhà nước phong kiến chưa nhiều, chưa đúng với vị trí vai trò của
nó trong xã hội
2 Bản chất: Bản chất của Nhà nước phong kiến thể hiện ở các chức năng của nó Các chức năng của Nhà nước phong kiến bao gồm:
- Các chức năng đối nội
(i) Chức năng bảo vệ chế độ sở hữu của địa chủ phong kiến, duy trì các hình thức bóc lột phong kiến đối với nông dân và các tầng lớp lao động khác
Dưới chế độ phong kiến, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu bởi vì sản xuất nông nghiệp chí phối gần như toàn bộ nền sản xuất của xã hội Đất đai chủ yếu nằm trong tay vua chúa phong kiến cũng như các địa chủ lớn nhỏ Người nông dân hầu như không có ruộng đất và nếu có thì cũng rất ít và khó có thể giữ được Do chế độ sưu cao, thuế nặng, họ phải cầm cố hoặc bán đất cho địa chủ Ở các nước phương Đông, vua được coi là chủ sở hữu tối cao đối với đất đai và là chủ sở hữu không hạn chế đối với các tài sản khác Chính vì vậy, Nhà nước phong kiến rất quan tâm tới việc bảo vệ và phát triển sở hữu phong kiến, đặc biệt là đất đai Nhà nước phong kiến bằng pháp luật, bằng các biện pháp kinh tế và bằng cả bạo lực, không loại trừ một biện pháp, hình thức nào mà không sử dụng để bảo vệ và phát triển sở hữu phong kiến Mọi hành vi xâm hại tới sở hữu phong kiến đều bị Nhà nước phong kiến, cùng địa chủ phong kiến trừng phạt rất khắc nghiệt Bằng việc bảo vệ các hình thức sở hữu phong kiến, Nhà nước phong kiến đã củng cố, duy trì các hình thức bóc lột tàn nhẫn của địa chủ phong kiến đối với nông dân và những người lao động khác Bằng các chính sách về sưu thuế Nhà nước phong kiến còn trực tiếp tham gia vào việc bóc lột một cách không thương xót đối với nông dân Sự bóc lột của địa chủ phong kiến, quý tộc đối với nông dân càng ngày càng tinh vi, thâm hiểm hơn Ngoài ra, nông dân còn phải nộp nhiều khoản khác nhau cho nhà thờ, cho tầng lớp tăng lữ có thể nói hầu hết các đẳng cấp quan lại trong xã hội phong kiến đều sống bằng cách bòn rút của cải và sức lực của người nông dân
(ii) Chức năng trấn áp nông dân và những người lao động khác
Do sự áp bức bóc lột nặng nề của địa chủ phong kiến, nông dân cùng những người lao động khác luôn luôn phản kháng chống lại Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra ở khắp nơi trong quá trình tồn tại của các Nhà nước phong kiến Tuy nhiên, do tình trạng phân tán, địa phương chủ nghĩa đã lam cho những người nông dân hết sức khó khăn trong việc liên kết với nhau để chống lại giai cấp địa chủ, chống lại Nhà nước phong kiến Thói quen chịu đựng của nông dân từ thế hệ này qua thế hệ khác cũng làm cho các cuộc khởi nghĩa của nông dân chủ yếu mang tính chất địa phương (từng vùng, từng địa phương) chứ ít có cuộc khởi nghĩa nông dân nào có quy mô cả nước Thêm vào đó, “một mình giai cấp nông dân không có khả năng làm cách mạng, chừng nào họ còn đứng trước lực lượng có tổ chức của các vương công, quý tộc và thành thị thông nhất và đoàn kết với nhau" Chính vì thế, Nhà nước phong kiến cũng như từng lãnh chúa phong kiến đã sử dụng mọi biện pháp, thủ đoạn có thể để đàn áp quần chúng nhân dân Biện pháp phổ biến là bạo lực như dùng quân đội để đàn áp, chém giết không thương xót đối với nông dân, ngoài ra còn giam cầm, tra tấn, đánh đập nông dân đến chết Trong những trường hợp nổ ra các cuộc khởi nghĩa nông dân thì Nhà nước phong kiến, các chúa phong kiến luôn chi viện cho nhau, cùng nhau đàn áp dã man nông dân
Đi đôi với việc sử dụng bạo lực, Nhà nước phong kiến còn sử dụng tôn giáo, kết hợp chặt chẽ với các tổ chức tôn giáo để khống chế, đàn áp nông dân về tinh thần Hình thức phổ biến là ngu dân, lừa gạt nông dân, tuyên truyền giáo dục hệ tư tưởng phong kiến, thần thánh hoá chế độ phong kiến cũng như quyền lực, địa vị của giai cấp địa chủ phong kiến
Trang 6Các vua chúa phong kiến thường tự cho mình là "thiên tử", là "cái bóng" của trời, là sứ giả của thượng
đế thừa hành thiên mệnh, thay trời trị dân Trong xã hội phong kiến hầu như các hình thái ý thức xã hội đều chịu sự khống chế của tôn giáo và thần học Ơ nhiều nước phong kiến có những tôn giáo được coi
là quốc giáo buộc mọi người dân phải tin, phải theo Những người có tư tưởng, quan điểm tiến bộ, khoa học nhưng trái với quan điểm tôn giáo và lợi ích của giai cấp thống trị thường bị bức hại Trong số những người nông dân bị trấn áp thì phụ nữ là lớp người bị trấn áp nhiều nhất, chịu nhiều đè nén áp bức nhất
và thiệt thòi nhất
(iii) Chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước phong kiến
Cũng như tất cả các nhà nước khác Nhà nước phong kiến phải thực hiện các hoạt động quản lý kinh
tế-xã hội duy trì sự ổn định và tạo điều kiện cho tế-xã hội phát triển Trong nhưng chừng mực nhất định, Nhà nước phong kiến đã tham gia vào các hoạt động như xây dựng và bảo vệ đê điều, làm thủy lợi, khai hoang, di dân tới những vùng đất mới, đấu tranh chống bệnh tật, nghèo đói, diệt trừ trộm cướp tạo điều kiện để nhân dân yên ổn làm ăn Các Nhà nước phong kiến thường tìm nhiều cách phát triển đất nước, chăm lo bảo vệ lài sản của dân, khuyến khích nhân dân tích cực tăng gia sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Một số nhà nước phong kiến đã có những chính sách đất đai, tài chính … có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước vì lợi ích của toàn xã hội Tuy nhiên, có thể thấy rằng sự quan tâm của Nhà nước phong kiến đến các hoạt động kinh tế - xã hội trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào ý chí chủ quan của những người cầm quyền
- Các chức năng đối ngoại
(i) Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược xâm chiếm lãnh thổ mới, mở rộng quyền lực và làm giàu bằng tài nguyên, của cải của các dân tộc khác
Trong xã hội phong kiến, chiến tranh là biện pháp để giải quyết mâu thuẫn, là phương tiện để làm giàu và
mở rộng quyền lực Nhà nước phong kiến có thể tham gia vào bất kì một cuộc chiến tranh nào dù là chính nghĩa cũng như không chính nghĩa, miễn là có lợi cho lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến nắm quyền, thậm chí chỉ có lợi cho cá nhân nhà vua Trong thời kỳ cát cứ, mỗi chúa phong kiến đều có thể gây chiến và tiến hành chiến tranh với các chúa phong kiến khác
Các cuộc chiến tranh thời kỳ phong kiến thường kéo dài liên miên và có tính chất hủy diệt (giết sạch, đốt sạch) gây thiệt hại rất lớn về người và của cho nhân dân trong nước cũng như nhân dân các dân tộc khác
(ii) Chức năng phòng thủ đất nước và bang giao với các nước khác
Đi đôi với việc tiến hành chiến tranh xâm lược, các Nhà nước phong kiến trong phạm vi khu vực cũng như quốc tế luôn luôn tìm mọi biện pháp tiến hành các hoạt động bảo vệ lãnh thổ của mình trước nguy
cơ xâm lấn của nước ngoài Nhiều Nhà nước phong kiến còn thực hiện chính sách bang giao hợp tác, phát triển kinh tế, thương mại với các nước khác vì sự hưng thịnh của quốc gia
3 Các hình thức nhà nước phong kiến
Về hình thức chính thể của Nhà nước phong kiến phổ biến là chính thể quân chủ Đứng đầu đất nước, thâu tóm quyền hành tối cao trong tay là vua đầy uy lực và thiêng liêng Quyền lực nhà nước trong tay vua thường được truyền từ đời này sang đời khác Đôi khi, ở một số thành phố của quốc gia phong kiến
có thể bắt gặp chính thể cộng hòa phong kiến
Hình thức cấu trúc nhà nước của Nhà nước phong kiến chủ yếu là cấu trúc đơn nhất, có thể là đơn nhất tập trung (Nhà nước phong kiến thường xâm chiếm rồi sát nhập các nước khác vào lãnh thổ của mình
Trang 7chứ không chấp nhận cấu trúc liên bang) hoặc đơn nhất chia lẻ Hãn hữu mới gặp cấu trúc liên bang phong kiến (như Cộng hòa liên bang Gugenôtốp ở phía Nam nước Pháp thế kỷ XVI)
Về chế độ chính trị của các Nhà nước phong kiến, biện pháp chủ yếu để thực hiện quyền lực nhà nước
là lừa dối và bạo lực Nhà nước phong kiến công khai và hợp pháp hóa việc sử dụng bạo lực để quản lý nhà nước
Trong quá trình phát triển của chế độ phong kiến, hình thức của Nhà nước phong kiến có nhiều biến dạng khác nhau Ơ các nước Châu Âu thường diễn ra hai thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến là thời kỳ phân quyền cát cứ và thời kỳ trung ương tập quyền
(i)Nhà nước phong kiến thời kỳ phân quyền cát cứ
Nhà nước quân chủ thời kỳ phân quyền cát cứ là những Nhà nước xuất hiện ở giai đoạn đầu của chế độ phong kiến
Giai đoạn này, chính quyền trung ương còn yếu, trong đất nước tồn tại nhiều lãnh chúa phong kiến lớn nhỏ khác nhau Mỗi lãnh chúa thường chiếm cứ một vùng lãnh thổ, thiết lập và thực hiện quyền lực riêng của mình trên vùng lãnh thổ đó gần như một Nhà nước của riêng mình Về nguyên tắc, các chúa đất phải phục tùng quyền lực của vua (hoàng đế), phải làm nghĩa vụ với vua, phải nộp thuế, cống nạp, phối hợp lực lượng với vua để đàn áp nông dân và tiến hành chiến tranh chống các nước khác Nhưng các chúa phong kiến lớn thường bành trướng, tăng cường quyền lực của mình bằng cách tự đặt ra luật lệ riêng, thu thuế riêng, thành lập các lực lượng vũ trang riêng để khống chế sự lớn mạnh của chính quyền trung ương, không chịu thần phục chính quyền trung ương Do vậy, chính quyền của vua (trung ương) thời kỳ này chỉ mang tính hình thức, còn quyền lực thực sự nằm trong tay các lãnh chúa
Ngoài việc chèn ép chính quyền trung ương, các chúa đất còn chèn ép lẫn nhau Các chúa đất lớn thường bắt các chúa đất nhỏ thần phục, chịu sự chi phối của mình Sự thần phục của các chúa đất thường mang tính cá nhân Các địa chủ nhỏ, yếu thế bị chèn ép, sợ bị xâm lược, sợ nông dân nổi dậy thường phải cầu cạnh sự che chở của các địa chủ lớn hơn và tôn sùng người đó làm chúa của mình Địa chủ nhỏ được chúa che chở nhưng phải thừa nhận cho chúa có quyền siêu việt trên đất đai của mình
(ii) Nhà nước phong kiến thời kỳ trung ương tập quyền
Do sự phát triển của xã hội phong kiến, đặc biệt là sự phát triển kinh tế sản xuất hàng hóa, sự lớn mạnh của các đô thị làm cho nhu cầu về sản xuất và trao đổi hàng hóa tăng nhanh Điều này đòi hỏi phải có sự thống nhất trong đất nước, xóa bỏ tình trạng cát cứ, phân tán, tình trạng thuế quan nặng nề và phức tạp
từ lãnh địa này sang lãnh địa khác, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển
Để tránh sự chèn ép của các chúa đất lớn, các tầng lớp thị dân, các chúa đất vừa và nhỏ cũng ủng hộ việc tập trung quyền lực mạnh vào tay vua để được vua che chở, bảo vệ Bản thân vua để có thể đấu tranh chống lại các chúa đất phong kiến lớn buộc phải dựa vào nhà thờ, các chúa đất vừa và nhỏ cùng tầng lớp thị dân để củng cố chính quyền của mình Thêm vào đó là nhu cầu đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống các cuộc nổi dậy của nông dân cũng đòi hỏi phải có một chính quyền trung ương hùng mạnh
đủ khả năng để giải quyết những công việc nói trên Tất cả những nguyên nhân đó đã dẫn đến chính quyền của vua ngày càng được củng cố, số lượng quân đội của vua ngày càng đông và được trang bị hiện đại hơn Quyền lực từng bước tập trung vào tay vua hình thành nên Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền
Giai đoạn đầu của thời kỳ trung ương tập quyền xuất hiện hình thức nhà nước phong kiến quân chủ đại diện đẳng cấp Nắm giữ quyền lực tối cao trong đất nước là vua và một cơ quan đại diện cho đẳng cấp ủng hộ vua (như Hội nghị quốc dân ở Nga, Hội nghị tam cấp ở Pháp hay Nghị viện ở Anh ) Cơ quan đại diện đẳng cấp bao gồm đại biểu của giới quý tộc, tăng lữ, sư sãi và thị dân
Cơ quan đại diện đẳng cấp chủ yếu góp ý với vua về các vấn đề chiến tranh, hoà bình, ấn định các loại thuế Khi đã củng cố và tăng cương được quyền lực khá mạnh, vua thường coi nhẹ, xem thường vai trò của các cơ quan đại diện đẳng cấp
Trang 8Vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến, vua dựa vào sức mạnh của quân đội thường trực từng bước thâu tóm quyền lực nhà nước trong tay mình, thiết lập nên Nhà nước phong kiến quân chủ tuyệt đối (chuyên chế) Vua trực tiếp ban hành pháp luật, bổ nhiệm quan lại, thu chi ngân sách nhà nước, quyết định mọi vấn đề quan trọng của đất nước Triều đình trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị của cả nước
Nếu như ở giai đoạn đầu, sự hình thành Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền có tác dụng tích cực, nó thúc đẩy sự phát triển của đất nước về kinh tế, chính trị, quân sự thì giai đoạn sau đó mà đặc biệt là giai đoạn xuất hiện Nhà nước phong kiến quân chủ chuyên chế đã cản trở sự phát triển của phương thức sản xuất tiến bộ hơn - phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Vua trở thành kẻ thi hành chính sách của các tập đoàn quý tộc phong kiến phản động cản trở sự phát triển của tầng lớp thị dân -tiền thân của giai cấp tư sản
(iii) Cộng hòa phong kiến
Với sự phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp, các thành phố trong xã hội phong kiến ngày càng lớn mạnh cả về quy mô và tiềm lực Phần lớn các thành phố phong kiến đều lệ thuộc vào các lãnh chúa phong kiến hoặc lệ thuộc trực tiếp vào vua Cũng có trường hợp các thành phố đó vừa lệ thuộc vào vua
và lại vừa phụ thuộc vào giáo chủ Với sự phát triển của mình các thành phố trong nhà nước phong kiến
đã từng bước đấu tranh với vua chúa phong kiến đòi quyền tự quyết trong một số vấn đề nhất định như được bầu ra những cơ quan đại diện của mình để quản lý thành phố, được thành tập lực lượng vũ trang
để canh phòng, tổ chức tòa án riêng, thậm chí có thể có đồng tiền riêng và có thể được phép thu một số loại thuế Quá trình phát triển đó của các thành phố trong xã hội phong kiến đã từng bước hình thành ở đây mô hình chính thề cộng hoà phong kiến tự trị trong các nhà nước phong kiến
Các thành thì này tuy có một vài chế đính của chính thể cộng hòa (bầu cử cơ quan tự trị, công dân bình đẳng ) nhưng về thực chất vẫn thuộc chế độ phong kiến vì vẫn là một bộ phận của lãnh địa, lãnh thổ phong kiến Tuy nhiên, ở nhiều thành phố, công thương nghiệp đã phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện cho
sự hình thành và phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng xã hội phong kiến
4 Bộ máy nhà nước phong kiến
Nhà nước phong kiến với chính thể quân chủ là phổ biến nên bộ máy nhà nước phong kiến luôn mang nặng tính quân sự tập trung quan liêu gắn liền với chế độ đẳng cấp của xã hội phong kiến
Trong bộ máy nhà nước phong kiến, ở trung ương có triều đình Đứng đầu triều đình là vua (quốc vương) thâu tóm gần như toàn bộ quyền lực nhà nước Vua được coi là người thay trời trị dân Quyền lực của vua đôi khi còn cao hơn cả quyền lực của giai cấp phong kiến thống trị mà vua là người đại diện Vua là người ban hành pháp luật, người tổ chức thi hành pháp luật đồng thời là người xét xử tối cao Các quan lại đều do vua bổ nhiệm, cắt cử Triều đình được tổ chức để giúp vua cai quản đất nước Tất cả các
cơ quan nhà nước đều phải báo cáo và phải chịu trách nhiệm trước vua Bộ máy chính quyền ở địa phương cũng do vua bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước vua
Trong thời kỳ phân quyền cát cứ, mỗi lãnh địa các lãnh chúa đều tổ chức cho mình một bộ máy riêng gồm lực lượng vũ trang riêng, những cơ quan giúp việc lãnh chúa quản lý các công việc trong lãnh địa
Nhà nước phong kiến nhiều khi được xem là của nhà vua nên trong bộ máy nhà nước phong kiến nhiều khi không có sự phân định rành mạch giữa công việc nhà nước (phục vụ đất nước) với công việc riêng của vua (phục vụ cá nhân nhà vua)
Trang 9Stress là trạng thái của cơ thể khi
phản
ứng để đối phó với những hoàn
cảnh/điều kiện mới
; là hậu quả của sự
kiện, tác động không mong muốn hoặc
sự đe doạ từ môi trường bên ngoài.
Stress là
kiểu đáp ứng của cá nhân
, được tạo
ra khi có những
sự kiện kích thích
(yếu tố bên
trong hoặc bên ngoài) làm đảo lộn thế cân bằng
sinh thể Những đáp ứng cá nhân chính là
tổ
hợp những phản ứng đa dạng
về sinh lí, cảm
xúc, nhận thức và ứng xử
Nói cách khác, làm những gì bạn thích miễn là nó giúp thư giãn bạn và thoải mái, và khiến tâm trí bạn bận rộn hơn để không suy nghĩ tiêu cực Ví dụ như: đi bộ, vẽ, tập
thể thao,… sẽ có hiệu quả hơn với một số người
Như vậy để tránh tình trạng kiệt sức bạn cần phải biết lắng nghe cơ thể của bạn
và mong muốn của chính bạn Mỗi người là khác nhau và mỗi tình huống cũng
vậy, không ai hiểu bạn tốt hơn bạn.
2) S áp d ng nguyên t c phân chia quy n l c nhà nự ụ ắ ề ự ước trong t ch c vàổ ứ
ho t đ ng c a b máy nhà nạ ộ ủ ộ ướ ư ảc t s n
a) Lý do ph i áp d ng t tả ụ ư ưởng phân quy nề
Th nh t, cùng v i s phát tri n c a xã h i thì các lĩnh v c qu n lý c a nhàứ ấ ớ ự ể ủ ộ ự ả ủ
nước ngày càng m r ng d n đ n tình tr ng công vi c nhi u, n ng n , đa d ngở ộ ẫ ế ạ ệ ề ặ ề ạ
và ph c t p. M t cá nhân hay m t c quan không th th c hi n đứ ạ ộ ộ ơ ể ự ệ ược cho nên
ph i phân chia hay phân công cho nhi u c quan cùng th c hi n. Thêm vào đó,ả ề ơ ự ệ
s đòi h i c a xã h i đ i v i nhà nự ỏ ủ ộ ố ớ ước ngày càng cao cho nên cách th c t ch cứ ổ ứ
ph i khoa h c h n. Phân chia quy n l c chính là m t cách t ch c nhà nả ọ ơ ề ự ộ ổ ứ ước
khoa h c vì nó làm cho ho t đ ng c a các c quan nhà nọ ạ ộ ủ ơ ước không trùng l p,ặ
ch ng chéo ho c lo i tr nhau.ồ ặ ạ ừ
Trang 10Th hai, các công vi c c a nhà nứ ệ ủ ước là c n thi t cho xã h i nh ng l i doầ ế ộ ư ạ
con ngườ ải đ m nhi m mà con ngệ ười thường có xu hướng l m quy n, v l i ho cạ ề ụ ợ ặ làm sai khi có đi u ki n vì th c n có c ch ki m ch , ki m soát h ề ệ ế ầ ơ ế ề ế ể ọ
Nh v y phân quy n là m t kĩ thu t t t y u c a vi c t ch c m t nhà nư ậ ề ộ ậ ấ ế ủ ệ ổ ứ ộ ước
dân ch t s n.ủ ư ả
b) S th hi n và áp d ng t tự ể ệ ụ ư ưởng phân quy n trong th c t ph thu c vàoề ự ế ụ ộ nhi u y u tề ế ố
S th hi n và áp d ng nguyên t c phân chia quy n l c trong th c t cóự ể ệ ụ ắ ề ự ự ế
s bi n d ng r t l n tu theo t ng nhà nự ế ạ ấ ớ ỳ ừ ước và ph thu c vào nhi u y u t ụ ộ ề ế ố
Th nh t là hình th c chính th c a nhà nứ ấ ứ ể ủ ước, s áp d ng t tự ụ ư ưởng phân
quy n nhà nề ở ước C ng hoà T ng th ng khác v i C ng hoà đ i ngh hay C ngộ ổ ố ớ ộ ạ ị ộ hoà h n h p. Cho nên có th coi các bi u hi n c a s phân quy n là m t trongỗ ợ ể ể ệ ủ ự ề ộ
nh ng tiêu chí phân bi t các hình th c chính th nhà nữ ệ ứ ể ước.
Th hai là hình th c c u trúc nhà nứ ứ ấ ước, nhà nước Liên bang khác v i nhàớ
nước đ n nh t. Ta không ch chú ý s phân quy n gi a các c quan trung ơ ấ ỉ ự ề ữ ơ ương
c a chính quy n Liên bang mà c gi a chính quy n Liên bang v i chính quy nủ ề ả ữ ề ớ ề bang.
Th ba là ch đ chính tr , t tứ ế ộ ị ư ưởng phân quy n ch đề ỉ ược th hi n và ápể ệ
d ng trong ch đ dân ch ch không áp d ng trong ch đ đ c tài, chuyên ch ụ ế ộ ủ ứ ụ ế ộ ộ ế
Cu i cùng nguyên t c phân quy n có th ph thu c vào truy n th ng dânố ắ ề ể ụ ộ ề ố
t c, l ch s t n t i cũng nh tình hình chính tr th c t c a m i nộ ị ử ồ ạ ư ị ự ế ủ ỗ ước.
c) M c đ áp d ng nguyên t c phân chia quy n l cứ ộ ụ ắ ề ự
H c thuy t phân chia quy n l c đang ngày có nh họ ế ề ự ả ưởng sâu r ng vàộ
hi n nay đệ ược áp d ng r ng rãi nhi u qu c gia trên th gi i theo hai hụ ộ ở ề ố ế ớ ướng là
“r n” và “m m” hay nói cách khác là phân chia quy n l c m t cách “r ch ròi”ắ ề ề ự ộ ạ hay “m m d o”. Tu vào th c t c a m i qu c gia mà m c đ áp d ng nguyênề ẻ ỳ ự ế ủ ỗ ố ứ ộ ụ
t c này có s khác bi t. Có th là c ng r n trong chính th c ng hoà t ng th ngắ ự ệ ể ứ ắ ể ộ ổ ố (chính ph ph i ch u trách nhi m trủ ả ị ệ ước nhân dân, nh : Hoa K , Philipines, )ư ỳ hay m m d o trong chính th đ i ngh (chính ph ph i ch u trách nhi m trề ẻ ể ạ ị ủ ả ị ệ ước
qu c h i, nh : Anh, Nh t, ) ho c trung gian gi a hai m c đ y trong chính thố ộ ư ậ ặ ữ ứ ộ ấ ể
c ng hoà h n h p (chính ph v a ph i ch u trách nhi m trộ ỗ ợ ủ ừ ả ị ệ ước nhân dân v a ph iừ ả
ch u trách nhi m trị ệ ước qu c h i, nh các nố ộ ư ở ước Pháp, Nga, )
Nhà nước tiêu bi u cho vi c áp d ng nguyên t c phân chia quy n l c r chể ệ ụ ắ ề ự ạ
ròi đó là Hoa K Ta s phân tích s áp d ng nguyên t c phân chia quy n l cỳ ẽ ự ụ ắ ề ự
c ng r n trong chính th c ng hoà t ng th ng thông qua Hoa K Hi n pháp Hoaứ ắ ể ộ ổ ố ỳ ế
K quy đ nh t t c các quy n l p pháp đ u thu c v qu c h i bao g m thỳ ị ấ ả ề ậ ề ộ ề ố ộ ồ ượng
vi n và h vi n. Vi c thi t l p 2 vi n v i c ch ki m ch nhau gi a chúng sệ ạ ệ ệ ế ậ ệ ớ ơ ế ề ế ữ ẽ làm gi m b t u th c a c quan l p pháp đ nó cân b ng v i b máy hành pháp.ả ớ ư ế ủ ơ ậ ể ằ ớ ộ
M t đ o lu t ch độ ạ ậ ỉ ược coi là thông qua n u có đ s phi u thu n c a c 2 vi n,ế ủ ố ế ậ ủ ả ệ
và sau khi được thông qua, các d lu t y đ u đự ậ ấ ề ược trình được lên t ng th ng.ổ ố
N u t ng th ng ký phê chu n thì d lu t s tr thành lu t còn n u không phêế ổ ố ẩ ự ậ ẽ ở ậ ế chu n thì s g i tr l i vi n đã kh i xẩ ẽ ử ả ạ ệ ở ướng đ xem l i, n u để ạ ế ược thông qua, dự
lu t s đậ ẽ ược chu n sang vi n kia xem xét. T ng th ng cũng đ m nhi m m tẩ ệ ổ ố ả ệ ộ
ch c năng tuy t đ i là có quy n hành pháp, t ng th ng v a đ ng đ u nhà nứ ệ ố ề ổ ố ừ ứ ầ ước
v a đ ng đ u b máy hành pháp, v a th c hi n ch c năng c a nguyên th qu cừ ứ ầ ộ ừ ự ệ ứ ủ ủ ố gia, v a th c hi n ch c năng c a th từ ự ệ ứ ủ ủ ướng chính ph , l i g n nh đ c l p v iủ ạ ầ ư ộ ậ ớ
Qu c h i. T ng th ng do nhân dân b u ra và không ph thu c vào b u c Qu cố ộ ổ ố ầ ụ ộ ầ ử ố
h i. T ng th ng có quy n thành l p chính ph và chính ph ch ch u trách nhi mộ ổ ố ề ậ ủ ủ ỉ ị ệ
trước T ng th ng ch không ch u trách nhi m trổ ố ứ ị ệ ước Ngh vi n. T ng th ngị ệ ổ ố
không có quy n gi i tán Qu c h i và Qu c h i cũng không có quy n b phi uề ả ố ộ ố ộ ề ỏ ế
b t tín nhi m T ng th ng. T ng th ng Hoa K th c hi n m i nhi m v quy nấ ệ ổ ố ổ ố ỳ ự ệ ọ ệ ụ ề hành m t cách đ c l p, T ng th ng cũng đ c l p v i các thành viên khác c aộ ộ ậ ổ ố ộ ậ ớ ủ chính ph nh quy n hoàn toàn quy t đ nh các chính sách c a chính ph khôngủ ờ ề ế ị ủ ủ
c n qua n i các. Tóm l i, T ng th ng hoàn toàn n m quy n đi u hành và qu n lýầ ộ ạ ổ ố ắ ề ề ả