Còn ý thức chỉ là sản phẩm của bộ óc người và là sự phản ánh tự giác, tích cực của sự vật, hiện tượng và quá trình hiện thực của thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan của thế giới khác
Trang 1Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh (PHVL)
Khoa Cơ Bản
Đề tài: Phân tích nội dung vật chất và ý Thức, mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ? Thông qua thực tiễn cuộc sống, sinh viên hãy chứng minh sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất? (Bằng những sự kiện, những thành tựu, việc làm cụ thể của cá nhân đã từng diễn ra trong xã hội)
SVTH: Lê Diễm Trinh
MSSV: 31221570085 Lớp: K48 Logistics và QLCCƯ
GVHD: TS Phan Thị Hà
Năm học: 2022
Vĩnh Long, ngày 25 tháng 10 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
1 Phần mở đầu……….2
2 Nội dung………3
Chương I: Vật chất và ý thức………3
1 Vật chất và phương thức tồn tại của vật chất………3
1.1 Vật chất………3
1.2 Phương thức tồn tại cảu vật chất……… 4
2 Ý thức và nguồn gốc của ý thức………5
2.1 Ý thức………5
2.2 Nguồn gốc của ý thức………6
Chương II: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức……… 8
1.Vật chất quyết định ý thức……….8
2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất………9
Chương III: Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất & ý thức 10
Chương IV: Chứng minh sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất ………… 11
3 Kết luận ………11
Tài liệu tham khảo………12
Trang 31 Phần mở đầu:
Triết học Mác – Leenin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học về sự
nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bốc lột, tiến tới sự nghiệp giải phóng con người Vấn đề cơ bản của triết học Mác – Lenin là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại Theo đó, trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động như thế bào khác ngoài vận động trong không gian và thời gian Còn ý thức chỉ là sản phẩm của bộ óc người và là sự phản ánh tự giác, tích cực của sự vật, hiện tượng và quá trình hiện thực của thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Như vậy, trong quan hệ giữa vật chất và ý thức vật chất là cái có trước, ý thức có sau và vật chất quyết định ý thức Tuy vậy, ý thức có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất ấy
Đứng trước sự phát triển vượt bật của nền khoa học – kinh tế thế giới với những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang tạo ra một thế lực mới, sức mạnh mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển mới
Nhiều tiêu đề cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đã tạo ra, quann hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng đượic nâng cao Hội nhập với cộng đồng quốc tế, do vậy khả năng giữ vững độc lập dân tộc trong thời kì này cũng được tăng them
Với sự hòa nhập ấy thì các nươc đều có cơ hội phát triển Nhưng với sự phát triển
đó thì lại khiến các nước chậm phát triển đứng trước những thách thức lớn Có nguy cơ tụt hậu ngày càng cao và dễ bị hòa tan Nước ta cũng đang xuất phát từ điểm rất thấp lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quyết liệt
Trước tình hình đó, cũng với xu thế phát triển của thời đại Đảng và nhà nước ta cần tiếp rục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò quan trọng chủ đạo Đồng thời đôpỉ mới kinh tế và đổi mới chính trị
Trang 4có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế - chính trị, giúp cho công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng giàu mạnh
Và với suy nghĩ đó em đã chọn đề tài nghiên cứu: “ Phân tích nội dung Vật chất
và Ý thức , mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ? Thông qua thực tiễn cuộc sống, sinh viên hãy chứng minh sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
2 Nội Dung:
Chương I: Vật chất và ý thức
1 Vật chất và phương thức tồn tại của vật chất
1.1 Vật chất
Vật chất là một phạm trù nền tản của chủ nghĩa duy vật Triết học Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, xung quanh vấn đề này luôn diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Bản than quan niệm của chủ nghĩa duy vật
về phạm trù vật chất cũng trải qua lịch sử phát triển lâu dài, gắn liền với những tiến bộ của khoa học và thực tiễn
Theo lênin: “vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Định nghĩa vật chất của Leenin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất vật chất với tư cách là phạm trù triết học là kết quả của
sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn tấc cả những sự vật, những hiện tượng là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hóa Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng tồn tại cụ thể của vật chất
Trang 5Thứ hai, thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thực tại khách quan, tức là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó
Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh Định nghĩa của lênin về vật chất có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:
Một là, bằng việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là tồn tại khách quan, Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc phục được sự hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cở sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về lịch
sử của chủ nghĩa duy vật trước Mác
Hai là, khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đem lai cho lại người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”, Lênin không chỉ khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan điểm duy vật mà còn khẳng định khả năng của con người có thể nhận thức được thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con người đối với thực tại khách quan
1.2 Phương thức tồn tại của vật chất :
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại của vật chất; không gian; thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
Ph Ăngghen định nghĩa: “vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, -thì bao gồm tấc
Trang 6cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình.Vận động của vật chất là tự thân vận động, sự tồn tại của vật chất gắn liền với vận động Dựa trên thành tựu khoa học ở thời đại mình,
Ph Ăngghen đã phân chia sự vận động thành năm hình thức vận động cơ bản từ thấp đến cao: vận động cơ giới, vận động vật lí, vận động hóa, vận động sinh vật, vận động xã hội trong đó hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp và bao hàm trong đó những hình thức vận động thấp hơn Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật
có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi một hình thức vận động nhất định
Bằng việc phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ph Ăngghen đã đặt cơ sở cho việc phân loại, phân ngành, hợp loại, hợp thành khoa học.Tư tưởng về sự thống nhất nhưng khác nhau về chất của các hình thức vận động cơ bản còn là cơ sở để chống lại khuynh hướng đánh đồng các hình thức vận động hoặc quy hình thức vận động này vào hình thức vận động khác trong quá trình nhân thức
Khi khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất; chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng đã khẳng định vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễn.điều này không có nghĩa chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ nhận sự đứng im, cân bằng Đứng im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động; đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định; vận động chưa làm thay đổi cơ bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật
2 Ý thức và nguồn gốc của ý thức:
2.1 Ý thức
Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò của ý thức luôn
là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Trên cơ sở những thành tựu của triết học duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác-Lênin góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên
Trang 7Về khái niệm, ý thức là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người, bao gồm những tri thức, kinh nghiệm, những trạng thái tình cảm, ước muốn, hi vọng, ý chí niềm tin,… của con người trong cuộc sống Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử-xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh thế giới hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người
2.2 Nguồn gốc của ý thức:
Ý thức có hai ngồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội:
Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người và hoạt động của bộ óc đó cùng mối quan hệ của con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lí thần kinh của bộ óc Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lí của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc Bộ óc bị tổn thương thì sinh lí thần kinh của con người sẽ không bình thường, năng lực của nhận thức, của tư duy và đời sống tinh thần của con người cũng sẽ bị rối loạn Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan thông qua các hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc con người, hình thành nên quá trình phản ánh
Phản ánh là sự tái hiện những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Phản ánh là thuộc tính của tất cả
dạng vật chất song phản ánh được thể hiện dưới những hình thức cơ bản sau: phản ánh vật
lý, hóa học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (phản ánh ý thức)
Phản ánh vật lý, hóa học là những hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh.
Phản ánh vật lý, hóa học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa,… khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhân tác động
Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu
sinh Phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính
Trang 8kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc,… khi nhận sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiên trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động bên ngoài môi trường lên cơ thế sống
Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện
trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện
Phản ánh năng động, sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất là bộ
óc người Phản ánh năng động, sáng tạo được thực hiện qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác động lên các giác quan của con người Đây là phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin Sự phản ánh năng động sáng tạo này được goi là ý thức
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào những điều kiện tự nhiên để giải thích sự ra đời của ý thức thì chỉ là điều kiện cần, vì nếu chỉ với những tác động tự nhiên giới hạn trong một con người, thì ý thức chỉ có thể tồn tại trong một thế hệ Như vậy không thể giải thích được làm thế nào ý thức lại có quá trình vận động và phát triển, đồng thời lại hết sức đa dạng, phức tạp không kém gì so với thế giới vật chất
Theo quan điểm của chủ nghĩa Lênin, ngoài nguồn gốc tự nhiên, sự ra đời của ý thức còn chịu nhiều tác động của nhân tố xã hội
Nguồn gốc xã hội
Lao động và ngôn ngữ, hai yếu tố này vừa là nguồn gốc, vừa là tiền đề quyết định sự
ra đời ý thức
Lao động là quá trình con người sử dụng các công cụ tác động vào giới tự nhiên
nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm cho thế giới khách quan bộc lộ thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động còn ẩn dấu,… nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Qua quá trình lao động cùng với lao động các giác quan của con người ngày
Trang 9càng phát triển, từ những “tia ý thức đầu tiên” con người đã có được kho tàng tri thức nói riêng và ý thức nói chung
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức Sự
ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện để biểu đạt Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động Nhờ ngôn ngữ con người không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết, đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, “… sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai chất kích thích chủ yếu đã làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển thành bộ óc người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức con người”
Chương II Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
1 Vật chất quyết định ý thức
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức nên vật chất là cái có trước, là tính thứ nhất Ý thức chỉ là hình thức phản ánh của vật chất trong bộ óc người nên ý thức là cái có sau, là tính thứ hai
Phải có sự vận động của vật chất trong tự nhiên ( bộ óc người và thế giới khách quan)
và vật chất trong xã hội (lao động và ngôn ngữ) thì mới có sự ra đời ý thức
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức
Dưới bất kì hình thức nào, ý thức đều là phản ánh hiện thực khách quan Nội dung của
ý thức là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan trong đầu óc con người
Sự phát triển của hoạt động thực tiễn là động lực manh mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâu sắc nội dung của ý thức con người qua các thế hệ
Trang 10Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức.
Bản chất của ý thức là phản ánh tích cực, sáng tại hiện thực khách quan, tức là thế giới vật chất được dịch chuyển vào bộ óc con người và được cải biên trong đó Vậy nên vật chất là cơ sở để hình thành bản chất của ý thức
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức
Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với sự biến đổi của vật chất Vật chất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi theo
Vật chất luôn vận đông và biến đổi nên con người cũng ngày càng phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, thì dĩ nhiên ý thức cũng phát triển của về nội dung và hình thức phản ánh
Ví dụ1: Tục ngữ có câu “ có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy đủ thì mới có sức để đi theo đạo, hoàn cảnh sẽ quyết định lối suy nghĩ, đời sống vật chất phải được đáp ứng thì chúng ta mới hướng tới đời sống tinh thần Điều này đã chứng minh cho quan niệm vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức
Ví dụ2: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người Nhưng khi bộ não con người bị tổn thương thì hoạt động ý thức cũng bị rối loạn
Ví dụ3: Ở Việt Nam, nhận thức của học sinh tiểu học, cấp hai, cấp ba về công nghệ thông tin còn rất yếu Nguyên nhân là do thiếu máy móc cũng như thiếu đội ngũ giảng viên Nhưng nếu đáp ứng được vấn đề hạ tầng thì trình độ tin học của học sinh tiểu học, cấp hai, cấp ba sẽ tốt hơn rất nhiều Điều này đã khẳng định điều kiện vật chất như vậy thì
ý thức cũng như vậy
2.Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất.