1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KTCT maclenin nhóm 13

19 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 574,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG KHOA KHCB ((( TÊN ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH COVID 19 ĐẾN MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn ĐỖ C.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG

KHOA KHCB



TÊN ĐỀ TÀI

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH COVID-19 ĐẾN MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI

VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn : ĐỖ CAO TRÍ

tháng 3 năm 2022

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, nhóm em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa KHCB - Trường Đại Học Văn Lang đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em học tập và hoàn thành môn học Kinh tế chính trị Mác - Lênin Đặc biệt, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Đỗ Cao Trí đã dày công truyền đạt kiến thức và hướng dẫn cho chúng em trong suốt quá trình thực hiện bài tiểu luận

Nhóm em đã cố gắng vận dụng những kiến thức học được trong học kỳ vừa qua để hoàn thành bài tiểu luận này Kiến thức của chúng em vẫn còn hạn chế và chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu cũng như trình bày Nhóm em sẽ chân thành tiếp thu và kính mong sự góp

ý của Thầy để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn

Một lần nữa, chúng em xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm và giúp đỡ của Thầy Điều này đã giúp đỡ chúng em rất nhiều trong quá trình thực hiện bài tiểu luận

Xin trân trọng cảm ơn Thầy

Trang 3

MỤC LỤC

Phần 1: Lời mở đầu: Lí do chọn đề tài

Phần 2: Nội dung

1 Trước khi dịch hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam

1.1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

1.2 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.3 Sản xuất công nghiệp

1.4 Hoạt động của doanh nghiệp

2 Khi dịch môi trường hoạt động của các doanh nghiệp

2.1 Tác động của dịch đến việc thành lập mới và tồn tại của doanh nghiệp

2.2 Tác động của dịch đến các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp

2.3 Dịch Covid-19 tác động đến dòng tiền của doanh nghiệp

2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng

3 Hậu quả

4 Khắc phục

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Khủng hoảng COVID-19 đã thay đổi nhiều khái niệm cũng như mô hình về chi phí Một số chi phí từng được các nhà lãnh đạo cho là cố định thì nay lại là chi phí biến đổi (ví dụ: chi phí thuê văn phòng) Trong khi đó, một số năng lực vốn được xem như kiến tạo khác biệt thì giờ đây đã trở thành điều kiện tối thiểu trong vận hành doanh nghiệp (ví dụ: tự động hóa và công nghệ giúp phối hợp làm việc)

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 gây tác động lớn đến nền kinh tế thời gian vừa qua, tiến trình hồi phục của doanh nghiệp (DN) nói riêng và các ngành sản xuất nói chung đòi hỏi cần có quyết tâm mạnh mẽ hơn trong việc cắt giảm thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng, thuận tiện cho quá trình phục hồi và phát triển

Hoạt động kinh tế quý III/2021 suy giảm mạnh chủ yếu do các biện pháp ngăn chặn nghiêm ngặt được áp dụng trên phạm vi rộng, thời gian kéo dài theo Chỉ thị 16 để kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt tại các tỉnh Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long

và Hà Nội; tổng GRDP của 20 tỉnh, thành phố này chiếm gần 57% GDP (Thành phố

Hồ Chí Minh chiếm 17%; Hà Nội chiếm 12,6%; Bình Dương 4,8%; Đồng Nai chiếm 4,5%; Bà Rịa-Vũng Tàu chiếm 3,8%) Trong đó khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm gần 53% khu vực công nghiệp và xây dựng của cả nước; khu vực dịch vụ chiếm hơn 63% Do chiếm tỷ trọng lớn nên mỗi biến động trong tăng trưởng GRDP của các tỉnh, thành phố trọng điểm này đều có ảnh hưởng không nhỏ tới GDP của toàn nền kinh tế Khi đại dịch bùng phát, giãn cách xã hội kéo dài dẫn đến đứt gãy lưu thông, sản xuất kinh doanh bị đình trệ Nhiều doanh nghiệp đã buộc phải lựa chọn phương án sản xuất “3 tại chỗ” hoặc “1 cung đường, 2 điểm đến” nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, nếu không sẽ phải tạm ngừng hoạt động làm ảnh hưởng đến các đơn hàng đã ký kết trước đó Tuy nhiên, để hoạt động như vậy các doanh nghiệp cũng phải chịu chi phí vận hành rất lớn, lực lượng lao động thiếu hụt do nghỉ việc, cung ứng nguyên vật liệu bị gián đoạn nên nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã không thể hoàn thành đơn hàng đúng hạn, phải giãn hoặc hủy bỏ hợp đồng Nhiều doanh nghiệp

bị phá sản, giải thể do kiệt quệ, không đủ lực để chống chịu dịch bệnh kéo dài Một số doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh hoặc kinh doanh cầm chừng, trì hoãn việc sản xuất do không hiệu quả, thua lỗ trong điều kiện rất khó khăn

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I – TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TRƯỚC DỊCH COVID-19 CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Năm 2019 là năm “bứt phá” phấn đấu thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020 với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả” Nhờ đó, tình hình kinh tế – xã hội quý IV và cả năm 2019 tiếp tục chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết quả nổi bật như sau:

1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2019 ước tính tăng 6,97% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,62%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,92% và khu vực dịch vụ tăng 8,09% Trên góc độ sử dụng GDP quý IV/2019, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 8,28%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 5,05%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 6,71% (*)

2 Sản xuất công nghiệp

Ngành công nghiệp năm 2019 duy trì tăng trưởng khá với tốc độ tăng giá trị tăng thêm

so với năm trước đạt 8,86%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ chốt dẫn dắt mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp và toàn nền kinh tế (tăng 11,29%); sản xuất và phân phối điện bảo đảm cung cấp đủ cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; khai khoáng bước đầu có mức tăng nhẹ 1,29% sau ba năm liên tiếp giảm nhờ khai thác than tăng cao, bù đắp cho sự sụt giảm của khai thác dầu thô

3 Hoạt động của doanh nghiệp

Năm 2019, doanh nghiệp thành lập mới tăng cả về số lượng, vốn đăng ký và số lao động so với năm 2018 Trong đó, số doanh nghiệp thành lập mới năm nay đạt mức kỷ

lục 138,1 nghìn doanh nghiệp, vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 12,5 tỷ

đồng, mức cao nhất trong những năm trở lại đây, dự báo sức khỏe tốt hơn của các doanh nghiệp mới ra nhập thị trường Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các

Trang 6

doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp tiếp tục lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý I/2020 với 84,9% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng 12/2019, cả nước có 11.418 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng

ký là 155,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 117,3 nghìn lao động, giảm 6,9%

về số doanh nghiệp, tăng 11,3% về vốn đăng ký và tăng 4,2% về số lao động so với tháng 11/2019 Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 13,6 tỷ đồng, tăng 19,6% so với tháng trước và giảm 43,9% so với cùng kỳ năm trước Trong tháng, cả nước còn có 3.466 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước; 2.050 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 3,3% và tăng 8,2%; 6.504 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 53,8% và tăng 60,6%; 1.868 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 25,7% và tăng 28,6%; 6.026 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 95,6% và tăng 67,4%

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2019 cho thấy: Có 46,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV năm nay tốt hơn quý trước; 17% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 36,3% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định Dự kiến quý I/2020 so với quý IV/2019, có 48,1% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 15,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 36,8%

số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lạc quan nhất khi có tới 88,6% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2020 tốt hơn và giữ ổn định

so với quý IV/2019; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước lần lượt là 81,1% và 83,7%

Trang 7

4 Hoạt động dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại, dịch vụ của cả nước năm 2019 tiếp tục phát triển ổn định và tăng trưởng khá Lượng cung hàng hóa trên thị trường dồi dào, đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch

vụ tiêu dùng năm 2019 tăng cao 11,8% so với năm trước, mức tăng cao nhất giai đoạn 2016-2019

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Hai ước tính đạt 433,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ năm trước Tính chung quý IV/2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.287,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8% so với quý trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 971,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% và tăng 13,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 152 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% và tăng 10,4%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 12,4 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8% và tăng 11,7%; doanh thu dịch vụ khác đạt 151,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2% và tăng 11,3%

b) Vận tải và viễn thông

Hoạt động vận tải năm 2019 đạt mức tăng khá so với năm trước, trong đó vận tải đường bộ và hàng không đều tăng trên 10% do được chú trọng đầu tư về cơ sở hạ tầng, đảm bảo kết nối thuận tiện giữa các địa phương và chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao Hoạt động viễn thông năm 2019 đạt mức tăng khá về doanh thu nhờ thị trường những tháng cuối năm sôi động trở lại sau thời gian dài ở trạng thái bão

hòa.

c ) Khách quốc tế đến Việt Nam

Năm 2019 đánh dấu thành công của du lịch Việt Nam với lượng khách quốc tế đạt trên

18 triệu lượt người, cao nhất từ trước đến nay Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác xúc

Trang 8

tiến, quảng bá, chất lượng du lịch đang có những cải thiện tích cực nhằm tạo sức hút đối với khách quốc tế, Việt Nam tiếp tục giữ vững danh hiệu “Điểm đến hàng đầu châu Á” năm thứ hai liên tiếp do Giải thưởng Du lịch Thế giới (WTA) 2019 bình chọn

Tính chung năm 2019, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 18.008,6 nghìn lượt người, tăng 16,2% so với năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 14.377,5 nghìn lượt người, chiếm 79,8% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 15,2%; bằng đường bộ đạt 3.367 nghìn lượt người, chiếm 18,7% và tăng 20,4%; bằng đường biển đạt 264,1 nghìn lượt người, chiếm 1,5% và tăng 22,7%

II – TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SAU DỊCH COVID-19 CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

1 Tác động của dịch Covid-19 đến việc thành lập mới và tồn tại của doanh nghiệp

Sự bùng phát mạnh của dịch Covid-19 cùng với việc áp dụng các biện pháp giãn cách

xã hội nhằm kiểm soát tốc độ lây lan của dịch bệnh tại nhiều tỉnh, thành phố như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và 16 tỉnh, thành phía Nam đã ảnh hưởng tới lưu thông hàng hóa, kéo theo sự gián đoạn của các chuỗi cung ứng và tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Không tiếp cận được khách hàng, đứt gãy chuỗi cung ứng, doanh thu giảm mạnh, phải cho nhiều lao động nghỉ việc, đến nay vẫn lao đao

Cùng với đó tình hình sản xuất kinh doanh ở hầu hết các nhóm ngành đều gặp khó khăn, cùng với tâm lý e ngại, thận trọng của các nhà đầu tư khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm đáng kể

Theo số liệu thống kê từ Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (2020), trong 9 tháng đầu năm 2020, số doanh nghiệp đăng ký mới sụt giảm nghiêm trọng, giảm 3,2% so với cùng kỳ Trong đó, lĩnh vực giảm mạnh mẽ nhất là nhóm doanh

Trang 9

nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, vui chơi và giải trí (giảm 22,5% trong quý I/2020 so cùng kỳ 2019, tổng 9 tháng năm 2020 giảm 37,2% so cùng kỳ 2019); kinh doanh bất động sản 9 tháng đầu năm 2020 giảm 19,2% so cùng kỳ 2019 (quý I/2020 giảm 11,9% so cùng kỳ 2019); trong khi đó, các doanh nghiệp lĩnh vực hoạt động dịch

vụ khác trong 9 tháng đầu năm 2020 có số lượng đăng ký mới giảm 32,1% so cùng kỳ

2019 (quý I/2020 giảm 12,2% so cùng kỳ 2019), dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm 13%

so với năm trước; du lịch lữ hành giảm nặng tới 59,5% so với năm trước; vận tải hành khách và vận tải hàng hóa lần lượt giảm 29,6% và 5,2%

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2020 Việt Nam có 101,7 ngàn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 13,9% so với năm trước Trung bình mỗi tháng có 8,5 ngàn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường Đây là con số cao nhất trong 10 năm nay (trong khi mục tiêu phấn đấu 1 triệu doanh nghiệp của cả nước vào năm 2020 không hoàn thành) Số lượng doanh nghiệp đã hoàn thành xong thủ tục giải thể trong 9 tháng đầu năm 2020 là 12.089 doanh nghiệp Phần lớn là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống, lĩnh vực giáo dục và đào tạo, lĩnh vực dịch vụ việc làm và

du lịch, kinh doanh bất động sản

Tại Đồng Nai, theo Cục Thống kê tỉnh, năm 2020 đã có 349 doanh nghiệp giải thể với

số vốn 5,5 ngàn tỷ đồng và 360 chi nhánh, địa điểm kinh doanh chấm dứt hoạt động;

679 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh Các doanh nghiệp này chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa và thuộc khu vực kinh tế tư nhân Lý do giải thể và chấm dứt hoạt động và tạm ngừng kinh doanh chủ yếu là do kinh doanh không hiệu quả

2 Tác động của dịch Covid-19 đến các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp Việt Nam

Đa số doanh nghiệp cho biết dịch COVID-19 đã ảnh hưởng tới việc tiếp cận khách hàng, đến dòng tiền và nhân công của họ Số lượng lao động phải cho nghỉ việc ở mỗi doanh nghiệp do dịch bệnh COVID-19 theo khu vực kinh tế được tính toán từ số liệu các doanh nghiệp có cung cấp thông tin Ông Vũ Thế Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du

Trang 10

lịch Việt Nam cho biết, nếu như số lao động trong ngành du lịch năm 2019 cả nước là 2,9 triệu người thì kể từ khi dịch COVID bùng phát đến nay, gần 90% đã nghỉ việc hoặc tạm thời ngừng làm việc

Với thị trường bất động sản, đại dịch COVID-19 đã tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực này suốt gần hai năm qua Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP

Hồ Chí Minh cho biết, nhiều cổ phiếu bất động sản bị giảm sàn, nằm sàn, tất cả các doanh nghiệp bất động sản đều bị tác động rõ rệt, các sự kiện đông người như quảng

bá tiếp thị bán hàng đều bị hủy bỏ Thị trường bất động sản du lịch nghỉ dưỡng và thị trường bất động sản cho thuê bị ảnh hưởng nặng nề, nhất là tình trạng các mặt bằng cho thuê tại khối đế các tòa nhà cao tầng và nhiều mặt bằng nhà phố cho thuê bị nhiều khách thuê trả lại

Các khó khăn doanh nghiệp gặp phải do ảnh hưởng của dịch Covid

Trang 11

Một số ngành có thể thấy ngay mức độ ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 như: Ngành dịch vụ, du lịch, nhà hàng, tuy nhiên một số ngành bị ảnh hưởng gián tiếp do thu nhập người dân giảm, giảm mua sắm như bất động sản, thời trang… Những doanh nghiệp có nguồn vốn lớn có thể cầm cự được nhưng với những doanh nghiệp nhỏ

và siêu nhỏ, hộ kinh doanh nhỏ lẻ, nguồn vốn còn hạn chế thì đây là khó khăn lớn

Khi dịch Covid-19 xuất hiện ở Việt Nam, Tổng cục Thống kê đã tiến hành khảo sát các doanh nghiệp và kết quả cho thấy có tới 85,7% số doanh nghiệp được khảo sát chịu tác động bởi dịch Covid-19 Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và lĩnh vực dịch vụ chịu tác động đến 86,1% và 85,9% tổng số doanh nghiệp Lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản chịu ảnh hưởng ít hơn với 78,7%

Ngành Hàng không chịu tác động 100%, dịch vụ lưu trú 97,1%, dịch vụ ăn uống 95,5%, hoạt động của các đại lý du lịch 95,7%, giáo dục đào tạo 93,9%, dệt may, sản xuất da, các sản phẩm từ da, sản xuất các sản phẩm điện tử, sản xuất oto đều

có tỷ lệ chịu tác động lên tới hơn 90% (Tổng cục Thống kê, 2020) Cụ thể:

Dịch Covid-19 tác động đến đầu vào nguyên vật liệu:

Nhiều lĩnh vực sản xuất của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên, nhiên liệu nhập khẩu, chủ yếu là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, EU Khi dịch Covid-19 xảy ra, việc hạn chế đi lại, thông thương đã ảnh hưởng đến nguồn nguyên, vật liệu đầu vào của doanh nghiệp, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất hoá chất nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; các doanh nghiệp dệt may, da giầy, sản xuất giấy, sản phẩm từ gỗ, sản xuất kinh doanh thép; các doanh nghiệp khai khoáng xây dựng

Các doanh nghiệp này thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, hoàn thành các đơn hàng đã đặt trước, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu và uy tín của doanh nghiệp

Ngày đăng: 29/07/2022, 20:48

w