1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nghiên cứu địa chí tỉnh Sông Bé: Phần 2

337 5 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Địa Chí Tỉnh Sông Bé: Phần 2
Định dạng
Số trang 337
Dung lượng 16,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp phần 1, phần 2 của tài liệu Nghiên cứu địa chí tỉnh Sông Bé tiếp tục trình bày các nội dung chính sau: Truyền thống văn hóa tỉnh Sông Bé; Vườn Lái Thiêu, ngành mộc, sơn mài; Lịch sử đấu tranh cách mạng Sông Bé 1920-1945; Sông Bé 30 năm chiến tranh giải phóng - chín năm kháng chiến chống Pháp những đơn vị vũ trang đầu tiên. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

Nhà Văn : SƠN NAM

BỔI CẢNH ĐỊA LÝ VÀ CƯ DÂN

THỰC DÂN PHÁP THÁM SÁT VÙNG RỪNG GIÁ VƯỜN LÁI THIÊU, NGÀNH MOC, SOM MAI, TRANH

VE KIẾNG, NGÀNH GỐM

CHUYỆN KẾ DÂN GIAN

TỪ TRẠI ÔNG YỆM DEN DON DIEN CAO SU NHŨNG THANH TICH VE VANG VE THE THAO SANH HOẠT NGƯỜI DÂN TỘC CHIẾN KHU Ð NET THUY MONG CUA SONG BE ,

329

Trang 2

1 BOL CANH DIA LY VA CU DAN :

Tỉnh Sông Bé ngày nay tiếp giấp với Sài Gòn, Gia Định; theo quy hoạch về ranh giới thời phong kiến thì lấy con sông Sài Gòn làm chuẩn Bên kia sông Sài Gòn, đối diện chợ Bến Nghé, vùng Thủ Thiêm thuộc tỉnh Biên Hòa Án ngữ thành Gia

Định hai tiền đổn nhỏ; đốn Hữu Bình (Tân Thuận) ở tinh

Gia Định nhưng đồn Tả Định (Rạch Cá Trê) lại ở địa phận tỉnh Biên Hòa Trong khi ni Ba Den, ving Tay Ninh xa xôi thuộc tỉnh Gia Định, Lái Thiêu, Thủ Đức gân Sài Gòn, nhưng vì ở bên kia sông, nên sát nhập vào Biến Hòa Trong thực tế, tuy ở khác

nh, nhưng Lái Thiệu và chợ Thủ Dầu Một vẫn được xem như vùng ngoại (hành của Sài Gòn Khi trả giá để chudc 3 tỉnh

miễn Đông, lúc ban đâu triểu đình Huế đã dự kiến dành cho Pháp một vành đại quanh Sài Gòn, gồm một căn cứ trong tính Định Tường (ở ngoài thành Mỹ Tho) thêm chợ Thủ Đầu Một (trong tỉnh Biến Hòa thời ấy) và Côn Đảo Nhưng việc không

Tuy gần Sài Gòn nhưng địa bàn của tỉnh Sông Bé kéo đài lên phía bác, tận vùng Tây nguyên của Nam Trung bộ Nguồn: lợi ving đấi xám, đất đỏ đã từng được một chí sĩ phát hiện,

nhằm đưa dân đến khẩn hoang lập ấp, làm thủy lợi : Nguyễn Thông Trước khi ba tỉnh miễn Tây Nam bộ mất vào tay thực dân

Pháp, Nguyễn Thông "thấy từ thượng du các tinh Gia Định, Biên Hòa, Bình Thuận Khánh Hòa trở ra Bấc địa thế mênh mông, bằng phẳng, thổ dân sống cẩn củ sản xuất đẩy đủ, có thể lập khu vực thượng du (sơn cước}, nén đã vẽ bản đồ tường tận nay dâng S xin lập đổn khai khẩn bất chước đời Tân đặt quận huyện cho kiểu dân đến ở, để thu nạp những dân lưu ngụ (từ

Nam kỳ ra)" (Nguyễn Thông Bài bộ chí ở Ngọc Sơn)

Cuối thế ký 17, tổ tiên ta đã sớm định cư ở vùng hạ

lưu sông Đồng Nai và sông Sài Gỏn, thuận lợi để làm ruộng

nước và trồng hoa màu, thêm nghề rừng,

331

Trang 3

Phía tả ngạn Sông Bé, hãy còn bảo lưu địa danh xa xưa

thuộc Nghia Theo Lé Quy Đôn (Phủ Biên tạp lục), khi bắt đâu

mở nước, chúa Nguyễn cho dân tự do khẩn hoàng nơi xa xôi,

rừng rậm thì tổ chức từng đơn vị co giãn, không giới hạn diện tích, gọi man, trại nậu, thuộc, do cái trại cai thuộc đứng đấu,

chịu trách nhiệm nộp cho quan trên một số thuế khoán, bằng sản phẩm (ngà voi, quế, lộc nhung, trầm hương ) Tỉnh Tiển giang còn dấu ấn chợ Thuộc Nhiêu vì viên cai thuộc tên Nhiệu Thuộc Nghà là đơn vị hành chánh miển núi, do cai thuộc: tên Nghĩa - đứng đâu

Theo Gia Định Thành Thông Chí vào những năm dau

thế ký thứ 19, đời Gia Long, tỉnh Sông Bé ngày nay thuộc về trấn Biên Hỏa, phủ Phước Long, huyện Bình An, tổng Bình Chánh

người đân tộc, gọi "sách Võ Tam, Võ Viên Năm 1823 lập

dén Thị Tính Năm 1840, thêm đổn Lai Khé (còn gọi đồn

Chon Thành) để giữ an nỉnh Từ đời Giá Long, thấy ghi tuần

An Lợi, phía Bắc chợ Thủ Dầu Một nhằm thu thuế thuyền bề qua lại Ta có cơ sở để xác nhận đây là vị trí Bến Thế (thuế,

nói trại ra Thế) O địa phận tỉnh Sông Bé, Đại Nam Nhất Thống Chí đời Tự Đức ghi 3 chự :

Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường (tục danh chợ "Dấu

Một), kế bên ly sở huyện Bình An “xe cd, ghe thuyển tấp

Chy Binh Nhân Thượng “G thôn Bình Nhan Thượng huyện Bình An, tục gọi chợ Cây Me’ Nay hãy côn tên chợ

Trang 4

Cây Mẹ, từ chợ Bình Nhâm vào Tại sao thay đổi Bình Nhan

thành Bình Nhâm ? Trong Đại Nam Nhất Thống Chí chử Hán ghì rõ Nhan, thco nghĩa nhan sắc, dụng nhan, Đổi ra Nhâm, có

lẽ vì lúc sau này, ky húy trùng tên với quan chức địa phương

nào chăng ?

Chợ Tân Uyên, "ở xã Tân An, huyện Phước Chính, tục gọi chợ Đồng sứ, người các nơi đến mua bán đông đảo lại có cơ quan của (uấn Bình Lợi đóng ở day” (Dai Nam Nhất Thống

Chị Đây là kiểu trạm kiểm soát, thâu thuế sản vật từ trên rừng

đem xuống

Riêng trong huyện Bình An cũ (vùng Thủ Dấu Một, không kể Tân Uyên) đời Tự Đức ghi 2 bang người Hoa

Sử thời trước không chép lại những ngành thủ công với chỉ

uid Gia Định Thành Thông Chí soạn từ đẩu thế ky thứ 19,

đời Gia Long, cho biết bấy giờ đã phát triển nghề ruộng nước, vì đất cao nên gio mạ sớm, thu hoạch sớm, trước Tết Thêm các

loại khoai, trái thơm, đậu phông, mía Có chỉ tiết : bán thơm, đâu mùa, chục 11 trái; sau mùng năm tháng 5, trái rộ, chục 13 trái

Đối chiếu thực tế ngày nay với danh mục làng xã hổi khoảng nim I8I0 (đời Gia Long), ta đã thấy xuất hiện những ving

quấn cư của người Việt (bấy giờ, không kiểm kê người dân tộc)

1- Vùng Chánh Lưu, Bến Súc

2- Vùng Bến Thế

3- Làng An Định thời xưa mở rộng thêm An Định Tây

thôn, hiệp với Tân An, nay gọi Tân Định Vùng Tân An thời Gia Long sung túc, từ làng cốt lồi này, mở thêm Tân An xã Nhị giáp, Tân An xã Đông Giáp, Tân An xã Thuận giáp Tân An

xã Hỏa giáp Tân An xã Lợi giáp, Tân An xã Thạnh giáp,

thêm Trung giáp Tây giáp mỗi giấp như một ấp khá to Vùng Bến

Sán đã có mặt

4 Vùng Chánh Phú Hòa, với xã Chánh An, Chánh Hòa

333

Trang 5

5 Vùng Phú Lợi mở ra với Phú Lợi thôn Tây giáp

@- Vùng Tân Khánh Bình Nhan Bình Nhan là cốt lõi, mở ra Bình Nhan Tây, Bình Nhan Đông Bình Nhan Thạnh, Bình Nhan

Nhứt, Bình Nhan Thượng,

7- Vùng Lái Thiêu có Tân Thới Đông giáp, Tây giáp

Sự có mặt của 2 bang Hoa Kiểu đáng chú ý Những người này có lẻ làm chit it hoa màu, nghề chánh yếu là lỏ đường, cưa vấn, đóng ghe tải Bấy giờ, nghề gốm chưa thành hình

Lái Thiêu và Búng còn là nơi cứ trú khá an toàn của người theo đạo Thiên Chúa, gốc tử miển Trung, hoặc từ Sài Gòn, lúc triểu đình thi hành chánh sách ky thi Ban sơ giáo dân tụ ở Cây

Mc Theo Mellcrct, cây măng cụt đấu tiên từ vùng Mã Lai đưa

đến Nam họ trồng ở Lái Thiêu và ở nhà thờ của họ đạo Lái

thiêu (đầu tiên lập tai chy Lay Me cé bàn thờ chúa do Bá

Da Lộc cho xây dựng đơn sơ từ năm 1771) Ta hiểu hồi giữa

thế kỷ thứ 18, noi đây đã có người khai khẩn Ở ấp Cây Trường, xã Phước Vĩnh (huyện Đồng Phú) còn dấu ấn khoảng 4 dòng họ từ miến Trung chạy đến, lánh nạn kỳ thị tôn giáo thời Thiệu Trị Vùng ấy bấy giờ hoang vắng đất bạc màu, chỉ có thể làm ray Mức sung túc của chợ Thủ Dấu Một đáng chú ý từ hồi đời Tự Đức Theo tư liệu của sĩ quan Pháp là

Đờ-GraMông (Lucien De Orammon) thì đã có một viên quan

đồn điển nấm quyển, dân tập trung ở khu vực gọi "đường phố

dài, tại thủ (đồn) có đến 22 xí nghiệp cờ lớn chuyên đóng ghe

Tác giả này không nêu chỉ tiết Ta suy luận là những trại cưa xế gỗ đóng ghệ tii (grands chantiers de construction) Cé le agudi Hoa tap trung về đây chăng ? Khoảng năm 1861 fic Pháp đến, huyện

Binh An cai quản luôn huyện Nghỉ An (Thủ Đức), cơ quan huyện đóng ở chợ Búng (Bình An) và Nghĩa An có các chợ :

- Búng

- Lái Thiêu

334

Trang 6

- Thủ Đức

- Cây Me

- Gò Dưa

- Thị Tính

Để so sánh, tá thấy ở huyện Phước Chính có :

.~ Chợ Biên Hỏa (tinh ly)

- Thủ Đồn Sứ (Tân Uyên, phí là Đồn Sứ, thay vì

Vũng Tàu Tiếp giáp với vùng Thủ Dâu Một, có huyện Bình Long

với chợ Hốc Môn là huyện ly, thém chợ Thuận Kiểu Rạch

Tra, Bà Điểm, Bùng Bình Đức Hòa Quán Trc7, Phú Hòa Phía

Trảng Bảng, có chợ Trảng bàng, Gò Dẫu, Gia Lộc, Cái Cùng

Trong phạm vi tỉnh Biến Hỏa cũ, vùng Thủ Dầu Một đã

đóng vai trô quan trọng chỉ kém vùng Bà Rịa mà thôi

Cọp rừng mién Đông là tại họa lớn ấy thế mà đồng bào ta vẫn định cư Theo con số sơ lược, khí Pháp đến, vùng Hóc Môn cứ vài tuẩn,.phi 4 người bị cọp vổ; vùng Cầu An Hạ trong 3 tháng 12 người, vùng Thủ Dấu Một, trong vài tháng, báo cáo 8 người chết Và hàng ngày, luôn luôn nghc chuyện cọp về

xóm, về chợ để gây rối

Thực dân Pháp sau khi củng cố Sài Gòn đã vội cho chiến

thuyển đi ngược sông Sài Gòn, thám sát đến vàm rạch Thị Tinh Phía Tây Ninh, chúng chú trọng vùng Trảng Bàng Chợ

Thủ Dâu Một ở vị tí quan trọng, giặc đóng ngày một dén khá kiên cố Chiến ham Đuy-xảy-la (Duchayla) đậu túc trực để

335

Trang 7

đối phó Tháng 10 năm 1861, nghĩa quân đánh 2 lấn (ngày 15 và 31) Qua thing 11, lại khấy rối, ngày 19 và 21 Tháng 12 đánh lấn

đầu ngày 1; lấn sau quan trọng hơn, ngày 14 Nghĩa quân

dùng dấu chai (chai trếi ghc), tấm vào từng bó rơm đưa

đến sát đồn, nhưng không đạt ý đồ, vì gặp con mưa

cuối năm Thiếu tá Hảngy chỉ huy đồn Thủ Dâu Một

đã chuấn bị cho rút quân ra ngoài, phí Bùng Bính - Qua những lân tấn công của ta, địch thú nhận 2 sĩ quan Pháp, 3 lính Pháp, 5 thân bình có vũ trang và 2 viên chức, (có lẽ thông ngôn) người Việt bị git Phía nghĩa quân địch ghỉ nhận mất khoảng 150 người Những cuộc tấn công nói trên nhằm hưởng ứng

phong trào kháng Pháp xảy ra đểu khấp vùng đồng bằng sông Cửu

Long từ Cái Bè, Cai Lậy Rạch Gẩm phía Định Tường, qua Cân Giuộc Nhựt Tảo phía Gia Định (vụ Nguyễn Trung Trực đốt

tàu sất Ết-pê-räng) Ta tấn công vào chợ Thủ Dấu Một nhằm gây rối khi giặc chuẩn bị đánh thành Biên Hòa Ngày 15 tháng

12.1861, giặc chiếm thành này với 4 pháo bạm hạng (o và 3 pháo ham cỡ nhỏ Ta đấp 9 cản, thêm một công trình gọi "đá bàn,

lấp đá vào lòng sông Ưu thế của giặc là có đại bác ban tẩm xa trong khi loại thân công cha ta quá xưa, bấn gần, lắm khi bấn 10

phát không "đậu" được 3 Giặc cho 500 quân lên đường lộ, đánh bọc hậu Ta bỏ thành, sau khí đốt kho lương thực và đạn dược Mất Biên Hòa, ba nh miến Đông Nam bộ xem như lọt vào tay thực dân Những ngày cuối năm 1861, vang huyén Binh An ci của tỉnh Biên Hòa thời Tự Đức được nâng lên làm một hạt tham biện, tương đương với cấp tỉnh ly đóng tại chợ Thủ Đâu Một Vì đã bị đốt phá, người Pháp sấp đặt chợ mua bán

ở ven sông, cơ quan chính quyển ưu tiên nơi gô nổng, hạp vệ sinh

"Thủ" là chăm sóc, giữ gìn, còn có nghĩa một dén bình, đến tuẩn tra Ngự (còn gọi ngữ) là ngăn lại, chống lại Những thủ (đồn) thường

lấy tên người cai quản từ buổi đấu mà đặt, (Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Thừa), nhưng cũng lấy nét đặc trưng của quang cảnh; Thú Dầu Một, nơi có cây dấu đơn độc cao lớn từ xa để nhận ra

Các vị bô lão côn kể lại : địa điểm chợ Thủ Dấu Một là bến

336

Trang 8

xe trâu, thuận lợi để tấm trâu và rửa xe Gắn bến là quần

trà Huế, quán cơm, lấn hổi thành chợ Ở mé sông (ngang dinh chủ

tỉnh) thời xưa, có một cây dấu lớn, trốc gốc sau cơn bão,

ngọn cây gây cẩn trở tận giữa lòng sông Người Pháp phải huy động dân từ vùng lân cận đến làm xâu để giải tỏa, gốc to "đôi

ba người ôm" Ta thấy cây dâu này còn sống sau khi Pháp đến

một thời gian dài ˆ

Vì chưa đủ khả năng tự túc vể ngân sách (trả lương cho

giáo viên, lính mã tả) đến năm 1888, tinh Thủ Dấu Một bị

giải thể nhập vào tỉnh Biên Hòa Lại không ổn vì Biên Hòa quá rộng, trong khi vùng Thủ Dấu Một đang phát triển tiểm

năng về đổ mộc, gốm, hoa màu phụ, lam san Bay giờ cây cao su, chưa được thực dân chú ý Ngoài ra còn phải đối phó thường trực với người dân tộc mà thực dân cân thám sát để tìm kế hoạch bình định Ngày 27 tháng 12 năm 1892, tỉnh Thủ Dâu Một thành lập trở lại với ranh giới nói chung được dủy trì đến năm

1945, trước cách mạng tháng Tám, diện tích đứng hàng thứ tư của Nam bộ, sau Biến Hỏa, Bạc Liêu Rạch Giá, xấp xỉ với

Tây Ninh (4723 km2) Để có một ý thức về tỉnh Thủ Dầu Một xưa vào thời kỳ thành lập Đảng (1930), xin ghi vài chỉ dẫn,

- Năm 1930, diện tích đất canh tác (ruộng, hoa mâu của Thủ Dầu Một) 13.100 ha đứng gần hạng chót của Nam bộ, trước tỉnh

Hà Tiên (3.978 ha) Đứng đầu Nam bộ là Rạch Giá (358.900 ha)

- Năm 1910, điện tích trồng cây cao su của Thủ Dấu Một

là 550 hay đứng hạng ba Nam bộ, sau Biên Hỏa (1027 ha);

đứng đấu Híc bấy giờ là tỉnh Gia Định (2090 ha)

- KỂ từ năm 1920, tỉnh Thủ Dâu Một đứng đâu Nam

bộ về diện tích trồng cao su với 13399 ha, Biên Hòa đứng hạng nhì (8000 ha), hạng ba là tỉnh Gia Định (5.954)

- Năm 1929, Thủ Dấu Một vẫn đứng hàng đẩu về cao su với 35000 ha, Biên Hỏa hạng nhì với 27.000 ha, Gia Dinh hang ba

(8.000 ha)

337

Trang 9

II THỰC DẪN PHÁP THẤM SÁT VŨNG RỪNG GIÁ ˆ

_ Những năm cuối thế kỷ 19 qua đẩu'thế kỷ 20, thực dân

chú trọng đến Thủ Dâu Một VỀ mặt nổi vùng Dĩ An trở

thành địa điểm lý tưởng cho du khách đến săn bắn, nhứt là săn

nai Bên Âu Châu, giới qwý tộc và vua chúa xem săn bến là

"thí phong fưu bậc nhất : an thân hoặc khách quý được đón tiếp ở lâu đài riêng dành cho dòng hạ trong đổn điển trồng

lúa mì, trồng nho thường đành một khoảng rừng để nuôi nai,

hươu, trĩ Người quí phái luôn luôn có dưới trướng hàng chục con

chó sản “nỏ, thêm đám thợ săn chuyến nghiệp để duổi - bất, thổi còi điêu khiển cho bây chó theo dấu và gom con nai, con hẹp

rừng lại ở một điểm, thường là ao nhỏ Chủ nhà và thượng khách

cồi ngựa theo sau, khách được danh dự cẩm cây dao bén đâm nhát

đâu tiên vào con nai Rồi con thịt sẽ do gia nhân đưa về trước

lâu đài, trong buổi tiệc, chủ nhà đành cho khách miếng thị nướng -

_chấm muối tiêu

Thực dân ở Sài Gòn chú trọng khai thác ngành tiêu khiến

này Bọn công chức Pháp - ở bên Pháp là người kém địa: vị

- khi đến thuộc địa thích bày trò quí tộc nói trên Có sẵn

khu rừng quanh chợ Thủ Đức, nhưng khung cảnh Dĩ An hoang vu

‘hon, thinh thoảng có cọp Vị thượng khách mà giới thực dân thời

trước thường nhấc nhở làThái Tử-Nga (khi chưa lên ngồi, sau này

là $a Hoàng Nicôlai il bj truất phế vì cách mạng tháng Hai

1917) ghế chơi Sài Gòn, khoảng 1890 được tiếp rước trọng thể vì

Nga và Pháp là đổng mính thân thiết Bọn cấm quyển Sài Gòn mời thái tử đi sản nai ở Dĩ An Để rút ngấn thời gian: quí

báu - thái tử đang trên đường qua Nhật - chủ tỉnh Thủ Dâu Một lãnh- trách nhiệm dan cảnh ngẩm bảo tay sai cho hia một con

nai ông ta nuôi sẵn ở tư thất đến trước khán đài nhó, tại ven

rừng Khi vừa ra khỏi chuồng vì quen hơi chủ đã từng chấm sóc hàng ngây, con nai chạy đến khán đài, quơ md cin cải tii:

nhỏ đựng thuốc lế, (tên chủ tỉnh hút dọc tẩu, luôn luôn để sẵn trong tử) Nai bị đuổi ra xa để cho thấ tử ngấm bin dé dang

Trang 10

_ Một ông hoàng khác của nước Phấp, tuý _ dồng hộ bị true.” phế, vẫn cồn sống giàu sang đến biển Nha Trang ngoạn :cảnh, ˆ cho xây cất một ngôi biệt thự gọi "lấu ông hoàng” (được nhắc tối trong thơ Hàn Mặc Tử) là công tước Đờ Mông-păngxi-ê ' (dục:

de Monipemier) đã đến Dĩ An sắn bấn sau đó, bày chuyến hành trình tận điện Ảngko Đường bộ chưa có, phải mướn phú khiêng chiếc ô tô từng chặng Việc thái tử Nga săn bấn: được ghỉ trong quyển "xứ Nam kỳ thân yêu của tôi” (Ma chère Cochin- chine) in tại Pari năm 1911, tác giả là thẩm phán Dayéc-oen (Durrwell) sống nhiều nãm ở Nam kỷ

Năm 1900, lúc kỹ thuật xe ô tô còn thô sơ, một tay thực dân

là Ippô-litơ (Ippolis) đã thấu dịch vụ chở thư từ, công văn đi Thủ Dầu Một mỗi tuần: Công ty tàu thủy của Pháp thử mở tuyến

đi và về, 2 tuẩn một lấn, vào ngày thứ sáu, từ năm 1885; nhằm chở lính, gạo cho đổn bói, chuyến về thì kéo đoàn ghe

chở củi, cây súc

Nhà khách đành cho người Âu và công chức cao cấp du,

ngoạn gọi bun-ga-lô (Buagalow) ở Thủ Dầu Một mở sớm nhất

Nam kỷ, từ năm 1903

Năm 1895, có lập vườn tiêu, một người gốc Bắc Âu bỏ vốn ở

- Tân Uyên, nhưng bị phá sẩn Cây cà phê trồng thử nghiệm, cũng vào thời điểm ấy, linh mục A-dê-ma (Azémar) ở họ đạo Lái Thiêu thử du nhập cổ nuôi ngựa từ Hương Cảng, giống cổ nguyên sinh của xứ Guy-nê (Guinée) phía Tây Châu Phi, thuộc Pháp Giống này không thích hợp, kém hẳn cỏ ngựa (còn gọi có Tây), là thứ cổ

sinh sôi nảy nở nhanh chóng, trở thành tai họa cho nhà nông trồng lấn đấu tiên tại Tây Ninh, do chủ tỉnh Sê-+vin (Séville),

Rừng rậm bao la phía bắc chợ Thủ Dấu Một là mối quan tâm đối với bọn thực dân có tẩm nhìn xa, Vùng biên giới, giáp Campuchia và Tây Nguyên nổi tiếng ma thiêng nước độc, dân -

cư gồm người dân tộc nổi danh là khó tính, thích sống cô

lập Nguồn lợi quá lớn với cây rừng nhiệt đới những phẩn đất khai phá sẽ trở thành đổn điển dự kiến trống dừa, bông vải

339

Trang 11

Về hành chánh và an nỉnh, phía bắc chưa tổ chức được cơ sở

khả quan Quan lại của thời Tự Đức không cung cấp được tư liệu gì

chính xác Việc thấm sát vùng người dân tộc là trang sử liên quan đến Tây Nguyên, Biên Hỏa Thực dân lo sợ nhưng kế hoạch phải tiến hành Từ cuối thế kỷ thứ 19, vài tay thực dân phiêu lưu đã loan truyển nhiều huyển thoại nửa hư nửa thật trên rừng có mổ vàng ai đến trước thì giàu to ! Bọn sĩ quan va quan cai trị

Pháp rất sợ người dân tộc Suêng, vì quả thật hễ ai đến gần

"vùng cấm địa” thì bị những mũi tên tẩm thuốc độc từ hdc

đá, từ ngọn cây bấn xuống, của kẻ thù gần như vô hình Năm

1890, viên thẩm phán người Pháp là Đănggioi (D' Enjoy), trên tập san của Hội nghiên cứu Địa lý in tai Paris (Bulletin de la Société de Géographie) viét bai qua quyét ring đã gặp người thiểu

số "có đuôi" Chính ông ta đã rờ rẫm cái đuôi bằng xương bằng

thit ấy

Phải đợi 5 năm sau, cũng trên tập san nói trên, (số đệ

nhị lục cá nguyệt năm 1895), đăng bài của một tác giả khác phủ nhận, cho rằng láo khoét Sy thật như thế nào ? Phải chăng tên

thẩm phán nặng óc kỳ thị dân tộc đã thấy (từ xa một người dan tộc ngội chồm hổm, mang gùi với cây chà gạt rổi tưởng

tượng thêm, dựa vào lời đồn đại

Từ năm 1880, viên thống đốc dân sự đấu tiên của Nam kỳ (thay thế cho bọn đô đốc hải quân thời quân cảnh) la Mi-dd-vi-lc (Le Myre de Vilere) giao cho bác sĩ hải quan Né-it (Néis) trách nhiệm thám sát vùng rừng rậm phía bắc tỉnh Ba Ria Bay gid con lộ Sài Gòn - Bà Rịa chưa làm xong, khi hữu sự, thiếu phương tiện liên lạc Sau 1 tháng, bác sĩ trở vể bình an vô sự, ghỉ chép được chút ít phong tục, tập quán của người dân tộc Rồi

thiếu úy thủy quân lục chiến Gô-chê (Gauticr) mới 28 tuổi năm

1862, đi thám hiểm phía thượng nguồn sông Đổng Nai 6 tháng

sau trở về biên soạn quyển tự vựng về tiếng nối người đân tộc Hơn

năm sau Gô-chê trở lại địa bàn cũ, nhưng khi về trại giữa rừng,

bị beo vé Han ding cây dao săn cạy miệng con bco, rốt cuộc

người và beo đểu chết, nằm kể nhau Vùng Tây Nguyên có thêm

Trang 12

trang sử khôi hài tấm cỡ quốc tế Một hạ sĩ quan từng tham gia quân đội viễn chỉnh trong buổi đẩu (1862) được viên toàn quyển Đông Pháp giao trách nhiệm lên vùng Tây Nguyên (nay Gia

La-Kon Tum) lôi ouốn người dân tộc, lập vương quốc riêng, để

chận đứng âm mưu của thực dân Anh; bọn Anh từ Thái Lan đang dự thảo kế hoạch thôn tính vùng Tây Nguyên mà Pháp chưa nấm được nhân dân Đa+vit‹đờ Mây-rênna (Marie-David ‘de Mayróna) lên Tây nguyên xưng vương, bày ra hiến pháp, quốc kỳ, huy chương, con tem bưu điện riêng Bọn Anh dùng kế mỹ nhân

phát biện Để tránh rấc rối vể ngoại giao, thực dân Pháp ở Đông

Dương phủ nhận vương quốc ấy, truy tố hắn như kẻ bịp bợm, lạm

quyển Hấn tự sát Chiến lược lớn vẫn tiếp tục triển khai Tháng

2 năm 1884, thiếu úy hải quân Huy-Măng (Humann) từ Bà Rịa

đến sông La Ngà, đi ngược dòng khoảng 60 km để tìm hiểu nhân đân và đo đạc mực nước, dò xét lòng sông Sáu tuân lễ sau,

hắn trở về Sài Gòn, hoảng hốt Người dân tộc ẩn lánh, không chịu bán thức ăn, toán phu khuân vác được trả tiến trước rất hậu

đã lần hồi bỏ trốn

Năm 1899, hầu tước Đờ Báctêlêny (De Barthếlény) từ Tây Ninh hướng dẫn đoàn thám sác chuẩn bị chu đáo với lính mã tà dân phu, hướng về phía thượng nguồn Đồng Nai

để hợp đổng với một đoàn khác, do tên thực dân giữ chức chủ

tỉnh là U-rây (Outrey) tài trợ Với tấm nhìn rộng hơn, viên

hấu tước và tên chủ tỉnh muốn đến trưng khẩn vùng Đà-Lạt,

hai đoàn này thất bại, bị người dân tộc gây rối Cũng năm 1899; đại úy Gié-ne (Génin) đi thám sát rừng già dự kiến sẽ thiết lập đường sắt từ Biên Hòa ra Phan Thiết, rốt cuộc gặp khó khăn

Phải chờ đến năm 1904, tên U-trây (Outrey) tay sai đắc

lực của toàn quyển Đưme (Doumer) mới bất đầu thám sát phía bic tỉnh Thủ Dấu Một Trước khi được bổ nhiệm chủ

tỉnh Thủ Dấu Một hấn tùng là chủ tỉnh Vũng Tàu, vạch kế

hoạch thiết kế trung tâm nghỉ mát miển biển Hấn chuẩn bị kỹ lưỡng, chọn số tay sai thân tín, với âm mưu lâu dài trưng khẩn rừng già để lập đổn điển Trước đó phía rừng vừa lập được

341

Trang 13

một đổn lính, làm cốt lỗi cho quận Hón Quảng do (ên Guậc - Găng (Gour Gand) cẩm đẩu, tên này đã cố gắng mua chuộc -

người dân tộc từ 10 năm trước Tạ nhớ vùng Hớn Quảng đã có

xóm người Việt đến làm nghề rừng từ đời Tự Đức, nhưng chưa phát

triển Để nấm thế chủ động, chủ nh U-tâylập tức cho tay sai'

thân tín là Ghênô (Guếno) đến làm chủ quận, thay tên

_Guộc-Găng

Nhưng một tay phiêu lưu khác từ Pháp đến, toan giành phần

“ăn Đó là đại úy giải ngũ Pốn Páttê (Paul -Pattế), bạn thân từ hồi

côn bế rồi trở thành thư ký riêng của đương kim Tổng "thống ˆ

Pháp Phé-lit-Phd (Félix Faure), timg lưu ngụ nhiều năm ở biên

giới Lào - Thái Lan Páttê đến Sài Gòn với giấy giới thiệu đặc

biệt của Tổng thống Pháp, của Bộ thuộc địa Giới chức ở Nam

‘ky cho hắấn cư ngụ trong một nhà sang trọng tại Sài Gòn, nếu

' để mất lỏng, hấn có thể thưa gởi đến phủ Toàn quyển Nhà báo

"Lamaga từng là thư ký của hấn đã viết thiên hổi ký với khá nhiều chỉ tiết (Henri Lamagat Souvenirs đun vieux journaliste

;indochinols Quyển 3 Sài Gòn, 1943)

Phái đoàn gồm có : 1 bác sĩ 1 chuyên viên cẩu đường

ˆ (người Pháp lai khoảng 28 tuổi), 13 lính tập người Việt 1 viên đội người Pháp (vừa gia nhập đoàn là được thing lên thượng sĩ

' nhứt) Cuối tháng 1 năm 1904, đã chuẩn bị xong xuôi với vài

_ tấn muối, nhiểu món trang sức bằng thau, bằng đồng một mo hot chuỗi để làng quà cáp cho người dân tộc Mỗi người một ngựa,

ˆ bàng hóa thì chở xe bỏ Ngày 2 tháng 2 năm 1904, `Páttê và nhân :viên đến ra mất chủ tỉnh U-trây tại chợ Thủ Dấu Một U-trây

¬ đành thết đãi” theo lệ xã giao, trong thâm tâm thì tức giận: vì

.Páttê xen vào chuyện địa phương để giành phẩn béo bở Phải

` chăng hấn đến Thủ Dấu Một - Biên Hòa với mục đích thiển cận hơn : tìm những kho tàng của người dân tộc, rồi lại xưng wương,

-lập lãnh thể riêng thoát ngoài vòng kiểm soát của tỉnh Từ: trước, U-trây đã được Thống đốc Nam ikỳ, hứa cho độc quyển

thám sát vùng rừng già; nay Tổng thống Pháp và Bộ thuộc địa

“lợi dụng quyển thế để đưa đến một người chữa từng am hiểu -

Trang 14

dja phương ‘Sau bude tiệc, 'chủ nh, "tu Kì thế tục đđiao ngủ

- đã dùng ô tô tiễn đưa đến tận Bến Cất rồi chia tay Thống đốc Nam kỳ đã gổi cho trưởng đoàn Pá-t một lá thư mật Xin:

trích lại để thấy khả năng biểu biết của "nhà cẩm quyển Nam kỳ -

về người dân tộc Thư để ngày 26-6-1904, cách đây hơn 80- năm,

"Ong Pét-té ‘duge tôi giao trách nhiệm hướng dẫn đoàn thám

sát khu vực đông bấc tỉnh Biên Hòa và Thử Dấu Một Lộ trình ~

quy định như sau : khởi hành từ chợ Thử Dâu Một, đi '

"ngược dòng sông Bế đến núi Yum-Bra (biếu là núi Bà ' R4) Sau đó, qua ngọn sông Đồng Nai gần núi Suyt Linh (nguyen

văn Surling), réi xudi dong thdc Tri An, vé chg- Bién Hòa Doc đường, cẩn phi chép, thám sát hai bên bờ sông Bé và Đồng Nai Vùng này, nói chung là địa bàn cư trú của người Mọi (người dân tộc) thích sống riêng biết, tự lập Ông nên tiếp xúc, thuyết

phục họ chấp nhận sự cai trị của người Pháp Phải thận trọng

đến mức tối đa, đối xử dè đặt, không được có thái độ cứng rấn

lúc không cẩn thiế Cẩn nhớ kỹ đây là đoàn thám sát về

chính trị võ khí mà ta được sử: dụng là thuyết phục, thế

thôi Những nhóm người "rừng rú" này rất dị đoan, mê tín, sợ

„người lạ đa nghỉ; khí phong tục, tập quán bị xúc phạm thì họ

trở nên vô cùng nguy hiểm

"Khi nghỉ ngờ ta; ho báo động ngay, ta khó làm việc và:

bị đặt trong tình thế khó xử

*Họ có thể bổ thuốc độc trong giếng nước, họ rỉnh bắn

"nálẩy rấi giổ Người Mọi rất hùng hãn và mê tín, nên đối xử,

mểm mỏng Nếu thấy bị uy hiếp, họ sẽ dụ dỗ ta vào cam

bây dé giết, hoặc cô lập ta giữa rừng già Coi chừng họ lường gái,

đói láo Phải cương quyết đối phó với thủ đoạn của họ

"Những nhóm bộ lạc cố sơ: này thừ nghịch nhau, ˆ đánh

nhan liên tục Bởi vậy, họ có thể dụ dỗ, nói gạt để cho người Âu

đến một sốc mà họ thù nghịch, hy vọng người Âu (người

Pháp) này sẽ san bằng cả sóc kía với súng đạn khí bị khiêu

`

343

Trang 15

khích Như vậy, họ sẽ giết được người Pháp, đồng thời nhà câm quyển sẽ trả thù, giết những sóc mà họ không ưa

"Muốn vào sóc, nên giao thiệp trước với người tỘC trưởng,vÒng nếu chưa được mời thì không nên tự ý xâm nhập vong rao Vào đột ngộ, sẽ bị tàn sát ngay Có bộ lạc gợi là "Mọi Bí rất trọng việc kiếng cũ, khách chỉ được vào sóc khi gặp ngày lành

mà họ đã chọn bất tuân sẽ bị giết Nên tặng họ những món quà mà họ thích như dây đồng; kiếng soi mặt, hột chuỗi (hột chai có màu), vải, dù

"Họ cư trú ở những sốc rất xa nhau Nghề của họ là gây chiến, bắt người để trao đối, bán tù binh Tuy nhiên, lắm khi người

lạ mặt được họ tiếp đón nống hậu, nếu tôn trọng tục lệ,

"Phía tả ngạn sông Bé, gần núi YumBra (Bà Rá), ở vùng BùKa, có số người thích sống một mình một cõi theo tục cà răng, đốt tro để làm muối Theo tin tức mà ta thu lượm được thì

họ sẵn sàng quy thuận nhà nước Họ thích ăn muối cũng như

ta thích ăn đường Hai người tộc trưởng nhiều uy tín tên là Rấp

Pát-tê đi thẳng lên phía Hớn Quảng, nơi sẵn có an nỉnh, có

huyện ly Rời Hớn Quảng chừng 15 ngày, họ gặp một sóc khá to,

chung quanh là vỏng rào kiên cố để ngừa thú dữ và kẻ lạ mặt

Vào khoảng 7 giờ sáng Páttê (trưởng đoàn) và tên chuyện viên

cẩu đườzg trẻ tuổi lên tiếng gọi Hồi lâu cổng mở, phút ngỡ

ngàng trôi qua khi họ trao quà cho tộc trưởng, và chính người

này mời cả đoàn vào uống rượu cẩn l

Trang 16

& :

Lái Thiêu, từ năm 1910 trở về sau, nghệ nhân người Việt đã phỏng theo kỹ thuật vẽ kiếng ấy, lân hổi sáng tạo kiểu tranh thờ, định hình, hợp với cảm quan của đổng bao Nam bộ, đặc

biệt là người đi khẩn hoang ở đổng bing Hai câu liễn vẽ với

màu tươi tấn, mỗi chữ Hán trong một trái đào, hoặc đóa hoa

Loại kèm thêm hình con dơi ngậm cái tụi chậu bông, con hạc

theo môtp của mỹ nghệ Huế Loại tranh đất tiến thì dùng nước

sơn đỏ làm nến, câu liễn gắn ốc xà cừ Kiếng nhập cảng ở Sai Gon giá không cao; màu vec ni xanh (vernis cobalt) và nước sơn -

lừng danh thế giới hiệu Ri-pô-le (Ripoln) khiến cho tranh thờ của Lái Thiêu trở nên trang nghiêm, rực rỡ Nhờ nước sơn cao cấp, mà nay ta gặp vài tấm tranh thờ xưa, nếu chùi kiếng, xem như mới,

qua 70 năm

Để tài lân hồi định hình là "cây cội nước nguồn” Gốc

cây to, với cảnh lá xum xuê Phía xa có núi nước nguồn từ núi

chay ra, vai con chim bay trên nển trời Bên bờ sông, lắm khi vẽ cây điệp tây (phượng vì trổ bông, giống cây nhập từ Ma-đa-gát-xca

(Madagascar) thời Pháp mới đến Tranh thờ còn biểu hiện tước

mơ cải thiện đời sống; nhờ phước đức ông bà thời trước mà ngày nay và đời sau con cháu làm ăn phát đạt : nhà ngói nến đức, cửa lá sách, đôi khi có cô gái chèo thuyển, quẩn áo lành lẽ Nhà giàu bậc trung, không thấy vẽ thêm cái lim đựng lúa của giới điển

Nghể mộc, nghề vẽ tranh kiếng phát triển với tốc độ nhanh,

mãi đến trước năm 1945 Bấy giờ ở Gò Công vùng Đồng

Sơn, có thợ chuyên đóng tủ thờ, và ở chợ Thủ (Thủ Kiến Sai, An

Giang) bên bờ sông Tiển, gần biên giới với Campuchia có ưu thế

nhập gỗ súc tương đối nhẹ về sở phí chuyên chở nên đổ mộc

chợ Thủ (An Giang) bán với giá vừa phải, cho phía Rạch Giá -

Cà Mau, nhưng so với Lái Thiêu thì mỹ thuật không tỉnh vì bằng Dọc theo bờ rạch Lái Thiêu, có dãy nhà chuyên vẽ kiếng, thợ cái vẽ mô hình; phụ nữ, trẻ con thì tô nước sơn, rồi thợ

cá diéu chỉnh lấn chót Thợ cẩn, thợ tiện, thợ mộc từ Bắc bộ

vào sống ở quanh chợ

345

Trang 17

._ Theo ký ức của người trong cuộc, nay còn sống, thì nghề nấu -

: phở bò ở Sài Gòn đã phát sinh từ chợ Lái Thiêu Vài người về -`

, Hà Đông thăm quê xứ, khi trở vào, thử nấu phở được người BẮC :

; ưa thích sau đó, người địa phương, người Hoa cũng ham

- chưộng vì lạ miệng bổ khỏe, tô hủ tiếu tuy hoàn chỉnh nhưng ', thỉnh thoảng cẩn trở bữa, phở hổi trước năm 1945 ở Lái Thiêu

nấu (theo công thức "chính gốc", nước có cà chua, lí gừng,

_ không dùng rau Khi cách mạng tháng tám vừa nổi lên, ở Lái Thiêu

có tổ chức 4 xe phở Lấy phúc lợi để nuôi quân du kích, phương

- thức ấy gọi là "sinh sản tự túc" Đáng chú ý : Gọi "Nhợ Bắc"

từ miển Bấc đến hành nghề, không phải để phân biệt với địa phương, nhưng là để cao tay nghề, sự cẩn mẫn và việc làm hoàn chỉnh Ngược lại, nhiều người ở địa phương vì tay nghề kém,

được gọi khôi hài là "thợ bất theo nghia bất chước mô

phỏng theo thợ Bắc nhưng không đạt, vụng về: -

*

* *

Nghề gốm đã làm cho Thủ Dấu Một nổi danh trong cả nước về khối lượng không đâu sẵnh kịp Theo lời các: nghệ

nhân thì vào đời Tự Đức, thợ gốm từ miển Nam Trung Hoa đến -

Nam bộ, nghiên cứu đất đài, với trình độ khoa học bấy giờ,

đã kết luận đứt khoát : bên Campuchia nơi thuận lợi để sản xuất

và phân phối là vùng Phnông-Pênh không có đất làm đổ gốm tốt;

phía đổng bằng sông Cửu Long, nói chung do đất phèn, mặn,

“phi sa mới nên cũng thế, chỉ có miển Đông Nam bộ, với Biên - Hòa và Thủ Dâu Một, sẵn trữ lượng đất sét tốt, gần Sài

Gòn, để phân phối Xây lò gốm đòi hỏi đẩu tư vốn lớn, không

ˆ kếm một nhà mấy xay lúa, nặng vể quản lý nhân công Muốn

tạo ra mặt hàng, phải qua nhiều khâu, đòi hỏi kỹ thuật riêng, thêm '

việc phát hành đến thị trường gin xa

Ở Sài Gòn, đời Tự Đức đã Phát triển lồ gốm (hoặc xưa hơn, đời Gia Long) ở gỏ Cây Mai (chân gò Cây Mai Chợ

.Lớn) và còn dấu ấn kinh Lò Gốm gan Phú Lâm

346

Trang 18

\ ‘Tiong: thye tế Ở kinh Lỗ Gốm thuyên làm hụ với đất thủ,

thêm lỗ gạch ngói -Trước khi người Pháp đển, Lé Cay Mai phát -

đạt hàng hóa đưa ra thẹơ kinh Cây Gõ (Phú Lâm), đất lấy

_từ Thủ Dấu Một Sau khi chiếm 3 tỉnh miễn Đông Đờ Gra -

Mông (De Grammont) năm 1863 ghỉ : ở Biên Hòa (Tân Vạn)

đã có lò gốm, lỏ gạch ngói Ở Cây Mai, nổi tiếng nhất là những lò '-

_ Bửu Hung, ‘H6a 'Đông chuyên- về gốm trang trí, ngồi men xanh,

men vàng để gắn nóc chùá miểu, những tượng nhỏ, rời, boặc : kết

cấu như bức hoành trắng tả cảnh Tam Tạng thỉnh kinh, hoặc :

Tiế Nhơn Quý, Phan Lê Huê, Bát Tiên Tô chén dân dụng thời -

xưa phẩn lớn nhập từ Triểu Châu, Quảng Đông với giá không

cao cho lắm, đổ sành sứ cũng nhập từ Trung Hoa, thêm đổ sứ:

Nhật Bản, người Hoa đã phân chia thị trường, không muốn cạnh tranh nhau

Với đà khẩn hoang của đồng bằng sông Cửu Long và sự giao lưu tương đối dễ dàng với nước Campuchia: (nhờ tàu thủy), thêm dân số gia tăng, ngành gốm thừa khả năng phát triển, trong tương lai

khá xa Trong khỉ ở Cay: Mai’ chi trọng vào gốm trang trí,

siêu, lu thì nhiều tay kinh doanh người Hoa đến đấu tư vào

ngành gốm ở vùng Lái Thiêu

Thời Pháp mới đến, “chợ ` Lai Thiệu còn thu gọn ven bờ

rạch, nơi ranh giới giữa hai làng Bình Nhâm và Tân Thới Cách bờ

không xa là rừng thưa, rải rác những cây (to; một truông (người

lớn tuổi vẫn gọi vùng chợ Lái Thiêu là đấu truông), với gồ nổi cao thấp, khá ngoạn mục Đất làm gốm dễ tìm, quanh quấn trong phạm vì hơn 10 km Lò gốm lớn, thành hình từ năm nào? Đến nay, không ai nhớ chính xác, nhưng căn cứ vào ngôi chùa Bà

“(hờ bà Mã Hậu) thấy ghỉ sáng lập năm Dinh Mao (1867) có .lg đó là năm người Hoa kiểu đến khá đông đúc để muậ bán

Chùa Bà này được đại tu vào năm 1883, trang trí thêm năm

“1889 Ta có chi din đó là những năm mà lò gốm Lái Thiệu

bước vào "thời đại vàng son",

` Người trong nghề phân biệt những "trường phá” như sau :

- Lô Quảng (Quảng Đông) chuyên về tượng trang trí cớ

men nhiều màu sắc, thếm chậu trổng cây cảnh Kỹ thuật chủ

yếu là dòng khuôn, không dùng bàn xoay VỀ -sau, cũng với ky

347

Trang 19

thuật làm khuôn sản xuất voi đất, kiểu đôn để ngồi hoặc để

chưng chậu cây cảnh

- Lô Tiểu (Triểuú Châu) chú trọng vào chến, tô, bình cấm bông, đĩa, nền trắng vẽ men xanh, khá đa dạng gồm những mặt hàng cẩn thiết cho đời sống hàng ngày Dùng bàn xoay với những nghệ nhân tạo dáng chiếc độc bình trong thời gian kỷ lục, thêm những thợ chuyên vé rất nhanh, nào sơn thủy, cây tre, con Bà, cây

tùng, con rồng thợ vẽ có thể là phụ nữ

- Lò Phước Kiến chuyên vể men màu đen, da lươn sản xuất

các loại lu lớn nhỏ, vịm, hũ, khạp, chén đựng rượu cho người

dân tộc

Là gốm Lái Thiêu ngày càng phát đạt lấn hổi dùng

phương tiện bán cơ giới, bày ra máy chẻ củi máy kéo xoay tròn

tự động, thay vì dùng sức người Bàn xoay chỉ dùng khi sản xuất những mẫu mã đặc biệt,

Chén hứng mủ cao su là mặt hàng quan trọng, cung cấp với khối lượng rất lớn cho các đồn điển

Những lò xưa nhất là Anh Ký, Quảng Thái Xương, Thái Xương

Hòa, Hưng Long Thờ Phong Hỏa Thần, thờ Đào Công (Tức Phạm Lãi) Cơ cấu của lò gốm Lái Thiêu và vùng lân cận tuân thủ theo mô hình sẵn có, như ở trung tâm nổi tiếng bên Trung

Hoa là Cảnh Đức Trấn, Lò xây trên mặt bằng rộng, lợi dụng

địa hình gò nổi sẵn có hoặc đấp đất thêm, nghiêng nghiêng để ngọn lửa chạy từ căn thứ nhất đến căn chót, thông thương nhau, từ dưới thấp bốc lên cao Mỗi căn lò đểu bố trí một

lỗ nhỏ (gọi hỏa nhãn) để thợ chụm quan sát bên trong Nhìn khói bốc lên từ căn lồ chót, nhìn màu sắc của lửa, có thể biết được

độ nóng bên trong và thời điểm chính xác để dua dé gốm

ra khỏi lô

Công việc phức tạp có thêm khâu đào đất, chuyên chở, lọc

đất cho sạch cát, bụi bậm Thêm những khâu nhồi đất, tạo

dang, phơi vẽ trang trí Trước khỉ đưa vào lồ món hàng

được sắp vào hộp bằng đất, để lửa và khói không làm hư mcn Có

khâu chế biến men với bí quyết nhà nghề Thợ coi lò là chuyên viên riêng, thù lao khá cao Có thợ chuyên sắp đổ gốm trong

Trang 20

lò Sau cùng, cần khâu vận chuyển ra bến nước Sau khi kiểm tra chất lượng phải loại bỏ không ít những món nứt móp méo

Hàng được tổn trữ vào kho, chờ bán sỉ cho thương lá từ các nơi

đến Đô gốm Lái Thiêu bán ra miễn Nam Trung bộ, vùng người

dân tộc, vùng đồng bằng và qua nước Campuchia

Bóng dáng những lò gốm, trong dân gian còn gọi là lò

chến - từ một thế kỷ đã trở thành chân trời quen thuộc -cho ba

bốn thế hệ người Đại đa số công nhân người Hoa đã lấy vợ Việt,

lứa con cháu lấn hồi quen với tập tục địa phương Mỗi: lỏ theo kích thước cổ điển hơn 20 căn Trước năm 1945, rừng “chổi

còn nhiểu, khung cảnh ấy được nhà văn Bình Nguyên Lộc mô

tả trong truyện ngấn "Lò chén Chòm Sao",

"Bóng Chém Sao cổ thọ năm cây nằm đài và đề lên nóc

vài lò gốm Bóng các lò gốm cũng đua nhau mà bò ra xa Dưới kia, đầng xa, rừng trùng trùng điệp điệp nối tiếp nhau đi vể đâu

không biết Rừng đang mùa thay lá một mớ lá đã trổ vàng, Mấy mươi lồ gốm, nóc dài đen khói như cố trèo lén đốc Khối den, dày và đậm, trào lên khỏi đấu lộ, khói dày thành khối

cứ trào lên như nước mội, trào lên, trào lên cao, Gặp gió nhẹ, nó

nhảy thành những mạch khói cuốn cuộn đi xa Trong khi đó thì những lưỡi lửa cứ thỏ ra khỏi mấy lỗ thông hơi ở hông lò Đàn

bà, con gái lãng xăng vác những rui chén chưa hẩm, nhúm dịu

nhiểu trên vai họ Họ đi mau, lên đốc, xuống triển mà không làm rớ( một cái chén nào Mấy người con trai nhồi đất bên cạnh hồ

nước, rứt đấi sét chọi nhau Mình họ giống như hình đất mà trẻ chăn trâu vụng về nấn ra, một buổi trưa, : bên suối Dưới chân đổi nơi giáp giới của xóm lò gốm Chòm Sao và rừng một con khe uốn khúc Nghe cưỡng kêu phía sau lưng, chú Yểu lấy làm lạ rằng sao cũng thời con chim dé ma tiếng kêu buổi sáng nó lại

vui thế, còn tiếng kêu chiểu sao mà buổn như nhớ nhà Chú lấy

sáo thổi lên điệu Mạnh Lệ Quân Chú thích điệu này lắm Nó là lòng riêng của người Triểu Châu là chú day ”

Ngày nay ngoài những lò gốm xưa, mọc lên quá nhiều lỗ

lớn nhỏ, riêng ở huyện Thuận An, tính có hai tram

Với nghề mộc, tranh kiếng thêm nghề gốm, vùng chợ Lái Thiêu qui tụ số nhân công khá đông, tạo thêm việc làm cho

349

Trang 21

og bio ving tn cin NE chung, i ag neu lo động hấm: hiu, làm khoán: không bảo hiểm xã hội, tay làm hàm nhai đi về:

đường xa, trong mưa gió Những khâu quan trọng như nắm giữ t

bạc, giữ kho đểu giao cho người trong gia đình hoặc bạn bè thân

tín của chủ; kiểu phường hội, gia trưởng

Là tụ điểm giao lưu thủy bộ nên chợ phát triển nhanh, tiệm quán tấp nập, chè cháo, cà phê bán suốt đêm, với nhiều khách vãng lai, không kém một tỉnh ly Theo Niếm giấm Đông Dương

năm 1912 (Annuaire génénal pour FIndochine 1912), chợ Lái Thiêu

đứng đổng hạng với các chợ sung túc phía đổng bằng nhự

Ô-Môn, Bình Thủy (Cân Thơ) và đứng vào hàng thị tứ quan

trọng bậc 2, ngang với các tỉnh ly Tra Vinh Thủ Dấu Một,

Long Xuyên, Châu Đốc, Biên Hòa, sung túc hơn các tỉnh ly (thị tứ hạng 3) như Bà Rịa, Tây Ninh, Hà Tiên, Vũng Tàu Chợ

Búng cũng nhờ nghề gốm mà được đứng vào hạng 3 Tại Lải

Thiêu, có 3 nhà vựa cá đồng, phân phối cho các chợ lân cận, nhà

có ghe cá từ U Minh (Rạch Giá đến bán dip té, dau lại

đôi ngày chờ chở lu bũ, tô chến, bàn ghế về miển Tây Lại côn Ô

khu vực chợ Đường, với nhiều nhà vựa trữ khối lượng lớn Khoảng -

1945 về trước, đường cát trắng là xa xỉ phẩm; nông dân và lớp

nghco thành thị thích dùng đường thẻ, đường móng trâu, mầu sắc ~

“không đẹp nhưng rẻ tiển, phẩng phất hương vị của mật mía - Chợ Cây Me (Bình Nhâm) có thể gọi là tiền thân của chợ

Lai Thiêu, phát triển từ thời Tự Đức, đồng thời với chợ Búng Nhờ

con rạch mà ghe tải ra vào được từ Bình Nhâm Lần hổi

rạch này cạn dẩn Nhưng do có mạch suối khá đổi đào, nhờ

đó vườn tược phát triển Để giữ nước cho sạch, từ thời Tự Đức,

đổng bào bày sáng kiến : Đóng xuống đất những ống bộng :

bằng cây sao, ống ấy trở thành miệng giếng nhỏ, nước tụ lại, - vừa trong vừa mát, Nhiều ống xưa hơn trăm năm-hãy còn Một số -

học sinh trường Bá Nghệ (mộc) Thủ Dầu Một từng đến chợ Cây :

Me để lập trại cẩn xà cừ, đóng tủ, bàn ghế Có lỏ nhuộm,

“Jam gia công cho những lò lớn ở Gò Vấp Rạp hất Cây Me cất ˆ sớm hơn rạp Lái Thiêu; gánh hát bội Bâu Tảo khoảng 1920, néi -

danh với những cô đào "Thài thu hút khán giả từ Búng, Lái Thiêu

kếo đến xem Vùng phụ cần Cây Mẹ có vườn trổng thơm

(bấy giờ chưa có cây khóm) bẩm khai thác đá ong, lỗ búa, lồ

Trang 22

bánh tráng, bánh hổi (theo nghĩa xưa, ráo hỏi, tức là khô, không ướt *

mem), thêm lò hủ tiếu Chợ Dị An phát triển với Đếpô xe lửa,

bạn hàng qua Cây Me mua hàng với khối lượng đáng kể Một - thời, trước năm 1945, chợ Cay Me là trung tâm đụ ngoạn thu ~ hút những người khó dính nhất của Sài Gòn và vùng phụ cận, - người Pháp cũng ưa thích : Suối Đờn Bà con của Ông Ba và ông Tám Liếp đã bày ra sáng kiến dùng sức mạnh của suối nước

để làm chuyển động một hệ thống máy móc thủ công, đại khái

nhự kiểu guồng nước, tiếng chiêng, tiếng đần Nhạc trổi lên, vui

tai, trong khi trên nhà con rồng tự động phun nước xuống, và dưới lòng suối, con cá hóa long cũng tự động phun vỏi lên cao Gần mặt

bằng có quấn ăn, giải khát, Một người thân tộc trong nhóm lại

có thêm nghề làm khản đen, kiểu khăn đóng theo thời trang ở

Nam bộ, rất cẩn cho hương chức hội tế, thân hào, điển chủ

"khăn đen suối Đờn" do ông Nguyễn Văn Bút sản xuất và chào hang & Cấu Bông (Sài gòn) được quảng cáo trên các bio,’ tiếng đôn khấp nông thôn tận phía Cà Mau Chất lượng khăn này rất tốt, dùng the mỏng mua từ Sơn Tây, ở làng Bing (quê Phùng Khắc Khoan) nơi cố truyền thống dệt bùng

Võ Văn Vân đã gây tiếng vang, trong thời gian khá dài - và _còn đến nay - với cơ:sở sản xuất thuốc Võ Văn Vân hiệu "Thằng nhỏ che đù, thêm chữ Hán "Đồng tầng thương phiêu" (đứa nhỉ đổng che dù,

thương phiêu nghĩa là nhãn hiệu thương mãi) Xuất thân là y sĩ '

ở chợ Thủ Dâu Một, lấn hổi nhờ tay nghề cao, đã tung ra thị -

trường nhiều loại cao đơn hoàn tán, nổi danh nhứt là Hí Di Tỉnh -

Thân Hoàn (Trị bịnh suy nhược sinh lý đần ông) và Bá Đả Sơn

Quân Tán (Bịnh về vệ sinh phụ nữ) Từ trước năm 1930 ở Nam bộ

người Hoa nấm gắn nhự độc quyển thị trường đông y; nhà

thuốc Nhị Thiên Đường, Thiên Hòa Đường tổ chức mạng lưới

phát hành sâu rộng, quảng cáo giỏi Đến những năm trước 1940-

vài nhà thuốc người Việt ra đời (Nguyễn Văn Cung, Ông Tiên)

nhưng đứng vững trên thị trường và phát triển mạnh vẫn là hiệu Võ

Văn Vân Từ Thủ Dấu Một dời đến Sài Gòn, Võ Văn Vân mở ,

mang cơ sé để sản xuất với qui mô lớn, chú trọng bao bì và phát hành; ở bẩu hết các tinh Nam bộ, tận Trung bộ (Quảng Nam, Huế) Phuông - Pênh (Campuchia) đều có đại lý Xe của nhà” -thuốc đến giao hàng và thanh toán tiền bạc tận địa phương Ông

351.7

Trang 23

Võ Van Van cing đã tổ chức đội bóng đá "Vân Sanh", tẩm

cỡ nhỏ, góp phẩn vào phong trào _của tỉnh

IV CHUYỆN KẾ DÂN GIAN :

Cũng như những vùng xa xôi miển Đông hoặc phía Đồng

Tháp, U Minh, Cà Mau, ở Thủ Dâu Một từng phổ biến nhiêu giải

thoại về ma rừng, chuyện di đoan nửa hư nửa thật, kế lại cho

nhau để giải trí, lân hổi trở thành "chuyện dân gian" Xin ghi lại

Làng Bình Sơn (Rạch Bình Nhâm), xưa có ông thấy thuốc,

vừa là thấy bùa tên Viễn, chuyên trị "mắc xương" (xương cá,

xương gà, vị.) Nạn nhân đến, ông đốt 3 cây nhang, về bùa trên

chén nước cho uống từng hớp, cạn chén là xương biến mất, Ông còn khuyên bịnh nhân, nếu nhà quá xa, rủi mắc xương Gọi 3 lấn, múc chén nước, đốt ba cây nhang, gác lên miệng chén, vài phút sau, đem uống cũng công hiệu như khi ông có mặt Có lần,

người khách nọ đến chơi ăn nói số sàng chê bùa phếp khiến

ông thấy Viễn bực mình Đến chiểu, khách muốn về sớm, ông khuyên

ở lại và hứa sẽ giúp cho về nhanh chống Lát sau, khách nóng

ruột, ra vể, đi mội quãng, thấy con.rấn to rượt sát phía sau, khách hoảng chạy, chạy càng nhanh thì rấn càng tăng tốc độ, đến

kể bên, nhưng không cấn Đến nhà, khách mệt nhoài con rấn

mất dang Ching ấy mới hiểu con rấn nọ là ông thấy Viễn

hóa phép, để cảnh cáo kể ăn nói vô lễ, Có đứa cháu đến thăm,

đổi ăn măng cụt, ông thấy' Viễn bảo nên chờ Chừng vài phút, ông

ra trước bàn thiên, đem vô hàng chục trá, đứa chấu sừng sốt, dường như có lến đem trái cây đến, phải chăng là người khuất mặt ? Gặp tiết hạn hán, người bà con than phiển sẽ thất mùa, lúa trổ không được, ông vẽ lá bùa khuyên đem ra bờ ruộng

mà đối Đêm ấy, chẳng có sự gì lạ nhưng himg sáng lại thấy nước đẩy đồng Chuyện hư thật ra sao, chẳng ai rõ, có điểu là

trong thời gian đài ở những làng lân cận hễ-bị mắc xương thì nạn nhân ra trước sân réo to để kêu cứn : "Bớ ông thấy Viễn, có tên Giáp, tên Ất mắc kương" Về sau, lệ nảy không cỏn nữa

Trang 24

“Phas vara, hổi cuối thể kỹ thứ 19, vũng Lới Thiếu, Bình

Nhâm, côn rừng rậm, cọp thường xuất hiệm Có ông Huỳnh - '

Công Nhẫn (còn gọi Huỳnh Công Thới), làm thấy Pháp (phù thủy),

chẳng ham tiền bạc, nhà ở trong bung (bung bd) Chạng vạng tối

là chẳng ai dám tới lui sợ cop; viéc lam ăn trở ngại, nhiều

người tới nhờ ông Nhẫn giúp đỡ, ông cười, yêu câu khách ngửa bàn tay ra để ông nhổ vào một tí nước rhiếng Dưới mùi

đặc biệt của nước miếng ấy, hễể đánh hơi cọp phải lánh xa Khách tụ tập, xin gặp Ông khá đông, saư khi ông mất, nhiều người,

vẫn tới lui phẩn mộ, tuy chẳng nhận được bùa phép như khi

ông còn sống, nhưng hể có lòng thành đem nhang và trái, cây

tới cúng thì được bình an" Dân làng hùn tiến xây mỘ, Ông báo mộng khuyên đừng bày chuyện tốn kém, vì vậy, vôi đá, vẫn dé y nguyên phân mộ (Nguyễn Liêm Phong - Nam kỳ

Phong tục nhân vật diễn ca năm 1909), Cũng theo tư liệu nãy, vùng

Thủ Dấu Một, đã qui tụ nhiều thấy thuốc đông y nổi danh Các

thấy nầy khi xem mạch hốt thuốc, lấy tiến rất í, nhưng hàng

năm, việc cúng tổ, hể thân chủ nhận được thiệp mời thì phải

đến ơn cho thấy một số tiển, tủy hoàn: cnh từng người Ở suối Tham Miên, dan lò gốm đã kéo nhau tới lấy đất sét tốt trắng,

mịn, bỗng dung, gin bên suối mội nước chảy ra, khá mạnh,

gọi "nước tiên, đặt, tên là "Mội Bà" Bên cạnh lại cất miéu thờ

La Sơn: Thánh Mẫu (kiểu Bà nứi Bà Den) Vién xa trưởng địa

phương tức giận, bèn chơ Mp mạch, dan ‘fang kiện, xã trưởng

bị quở: trách, Chuyện xây ta trước năm 1909 (Kể theo Nguyễn Liệm-

| Phong)

Cọp miền “Đông nói chung, cọp Sông Bé nói tiêng đã

lừng danh; chuyện "cọp ba móng" viết lại theo hình thức tiểu

thuyết, hổi ký đã một thời thu hút được đa số độc giả yêu

"chuyện đường rừng", dưới bối cảnh thời kháng Pháp của ta Gọi bạ móng vì con cọp già, tỉnh khôn và lão luyện này bị mắc bẩy, để

tự giải cứu cọp đủ bản lĩnh dùng miệng mà cấn cho đứt một chân của mình để tẩu thoát Vì ghiến ăn thịt người cọp chẳng sợ bất

cứ ai, luôn cả- những nơi trú đóng của quân đội ta, cọp cũng

đến giỡn- mặt nhiều lấn, tránh nể tài tình Sau rốt, để trừ tai họa, nhân cọp vô được một người bị bao vậy, hoảng chạy, thay

vì lấy xác đem chồm, ta để y chỗ cũ; cọp trở lại ăn xác, ta bắn

`

353

Trang 25

Võ Văn Vân cũng đã tổ chức đội bóng đá "Vân Sanh, tấm

- cỡ nhỏ, góp phẩn vào phong trào _của tỉnh

IV CHUYỆN KẾ DÂN GIAN :

Cũng như những vùng xa xôi miễn Đông hoặc phí Đồng

Tháp, U Minh, Cà Mau, ở Thủ Dâu Một từng phổ biến nhiều giải thoại về ma rùng, chuyện dị đoan nửa hư nửa thật, kể lại cho

nhau để giải trí, lân hổi trở thành "chuyện dân gian" Xin ghỉ lại

Lang Binh Son (Rach Bình Nhâm), xưa có ông thấy thuốc,

vừa là thấy bùa tên Viễn, chuyên trị "mắc xương” (xương cá,

xương gà, vị.) Nạn nhân đến, ông đốt 3 cây nhang, vẽ bùa trên chén nước cho uống từng hớp, cạn chén là xương biến mất, Ông còn khuyên bịnh nhân, nếu nhà quá xa, rủi mắc xương Gọi 3 lần, múc chén nước, đốt ba cây nhang, gác lên miệng chén, vài phút sau, đem uống cũng công hiệu như khi ông có mặt Có lần,

người khách nọ đến chơi ăn nói số sàng chê bùa phếp khiến ông thấy Viễn bực mình Đến chiểu, khách muốn về sớm, ông khuyên

ở lại và hứa sẽ giúp cho về nhanh chóng Lát sau, khách nóng ruột, ra về, đi một quãng, thấy con.rắn to rượt sát phía sau, khách hoảng chạy, chạy càng nhanh thì rấn càng tăng tốc độ, đến

kể bén, nhưng không cắn Đến nhà, khách mệt nhoài con ran mất dạng Chừng ấy mới hiểu con rấn nọ là ông thấy Viễn hóa phép, để cảnh cáo kẻ ăn nói vô lễ Có đứa cháu đến thăm, đồi ăn măng cụt, ông thấy -Viễn bảo nên chờ Chừng vài phút, ông

ra trước bàn thiên, đem vô hàng chục trá, đứa chdu sửng sốt,

dường như có lén dem trái cây đến, phải chăng là người khuất mặt ? Gặp tiết hạn hán, người bà con than phiển sẽ thất mùa, lúa trổ không được, ông vẽ lá bùa khuyên đem ra bờ ruộng

mà đối Đêm ấy, chẳng có sự gì lạ nhưng hừng sáng, lại thấy nước đẩy đồng Chuyện hư thật ra sao, chẳng ai rõ, có điểu là

trong thời gian dài ở những làng lân cận hễ bị mắc xương thì nạn nhân ra trước sân réo to dé kéu cứu : "Bớ ông thấy Viễn, có tên

Giáp, tên Ất mắc-xương" VỀ sau, lệ này không côn nữa

Trang 26

.Thuở' xưa, hổi cuối thế kỷ thứ 19, vùng Lái Thiếu, Bình' Nhâm còn rừng rậm, cọp thường xuất hiện Có ông Huỳnh Công Nhẫn (còn gọi Huỳnh Công Thới) làm thấy Pháp (phù: thủy), chẳng ham tiển bạc, nhà ở trong bưng (bung bố) Chạng vạng tối

là chẳng ai dám tới lui sợ cop; việc làm ăn trở ngại, nhiều người tới nhờ ông Nhẫn giúp đỡ, ông cười yêu cầu khách ngửa bàn tay ra để ông nhế vào một tí nước miếng Dưới mùi đặc biệt của nước miếng ấy, hể đánh hơi cọp phải lánh xa Khách tụ tập, xin gặp Ông khá đông, sau khi ông mất, nhiểu người vẫn tới lui phẩn mộ, tuy chẳng nhận được bùa phép như khi

ông còn sống, nhưng hễ có lòng thành đem nhang và trái, cây tới cúng thì được bình an Dân làng hùn tiển xây mộ, ông báo mộng khuyên đừng bày chuyện tốn kém, vì vậy, vôi đá,

vẫn để y nguyên phẩn mộ (Nguyễn Liêm Phong - Nam kỳ

Phong tục nhân vật diễn ca năm 1909) Cũng theo tư liệu này, vùng

Thủ Dấu Một, đã qui tụ nhiều thấy thuốc đông y nổi danh Các

thấy nầy khi xem mạch hốt thuốc, lấy tiến rất í, nhưng hàng năm, việc cúng tổ, hểễ thân chủ nhận được thiệp mời thì phải

đến ơn cho thấy một số tiển, tầy hoàn cảnh từng người Ở suối Tham Miên, đân lò gốm đã kéo nhau tới lấy đất sét tốt trắng,

mịn, béng dung, gin bên sưối mội nước chảy ra, khá mạnh, gọi "nước tiện, đặt tên là "Mội Bà" Bên cạnh lại cất miếu thờ

La Sơn Thánh Mẫu (kiểu Ba ndi Ba Den) Viên xã trưởng địa

phương tức giận, bèn cho lấp mạch, dân làng kiện, xã trưởng

bị quở trách Chuyện xảy ra trước năm 1909 (Kể theo Nguyễn Liệm:

Cop miến Đông nói chung, cop Séng Bé noi riéng di lừng danh; chuyện "cọp ba móng' viết lại theo hình thức tiểu thuyết, hổi ký đã một thời thu húc được đa số độc giả yếu

"chuyện đường rừng”, dưới bối cảnh thời kháng Pháp của ta Gọi ba móng vì cơn cọp già, tính khôn và lão luyện này bị mắc bấy, để

tự giải cứu cọp đủ bản lĩnh dùng miệng mà cấn chọ đứt một chân của mình để tẩu thoát Vì ghiếểa ăn thịt người, cọp chẳng sợ bất

cứ ai, luôn cả những nơi trú đóng của quân đội ta; cọp cũng

đến giỡn mặt nhiều lân, tránh né tài tình Sau rốt, để trừ tai họa, nhân cọp vổ được một người bị bao vây, hoảng chạy, thay

vì lấy xác đem chôn, ta để y chỗ cũ; cọp trở lại ăn xác, ta bấn ˆ

`

353

Trang 27

Trong quyển "lịch sử chiến khu : ờ “đăng "bức ảnh ‹ quí ' giá: Một buổi liên hoan tại chiến khu Ð năm 1949, có: hàng ráo chông Cọp Ba Móng ở chung quanh, khá kiên cố, và ảnh Cop: Ba

Chuyện Cọp lộng hành đến chợ Thủ Dâu Một từng

được danh bào Vith-to Huy-gô (Victor Hugo, téc gid cla tac

phẩm "những kẻ khốn nạn", "Thằng gù”, "nhà thờ Dic Ba ", ké Jai nh

là chỉ tiết "đường xa xứ lạ” về cuộc đời phiêu lưu của tay thủy thủ gia, trong tiểu thuyết "Những người lao động miển biển" (Les

travaileurs dc la mcr) Phẩn thứ nhứt, chương 3 viết vào khoảng -

1864 - 1865, có lẽ lấy tư liệu qua tin tức báo chí bên Pháp :

"Chánh thống quản lãnh Quới bị Pháp xử tùng xẻéo (lốc ‘ting

miếng thị) về tội giết một chủ ấp (bù nhìn theo Pháp) Ở Thủ Đâu Một, có con sư tử (có lẽ là cọp) về bất một bà lão lúc

chợ đang nhóm khá đông" /

Từ xưa, ở khấp: miến Đông, nhân dân dùng kỹ thuật làm

bẩy hâm, đào hấm thật sâu, bên dưới để con mỗi, thường là

trâu, bò, nấp hầm dùng tấm vỉ tre, ngụy trang ky, day lại Khi đánh hơi, tìm mớổi cọp bị rơi xuống bẩm Nhưng thông thường

là "vi khai" Méi tấm khại giống như tấm đăng, cao khoảng 4

mét, dùng cau giả, chế ra, rúc cỡ 4 ngón tay, thui lửa cho cứng đẻo, kết lại như tấm vạt giường Hay tin cop xuất hiện trong đám rừng gần xóm thì báo động, đánh mõ đế dân làng đem ra từng tấm khai Mỗi lấm do 4 người sử dụng, họ cố ráp mối cho khai lién nhad, khoanh vùng, lúc đầu rộng, rổi thu hẹp dẩn, trong khi có vài người gan dạ hơn đứng bền trong để đốn bớt những cây

nhỏ, có thể gây chướng ngại Vòng vay của khai thu hẹp dan

Bị vậy, cọp bất đấu phẩn ứng, nhưng nhảy không cao bơn tấm

khai Người trong xóm cứ đánh mỡ, đánh vào mâm thau để

khủng bố tính thần Tới mức chót, dùng đáo có cán dải mà đâm, kỹ thuật này rất "chắc ăn" đây là dip để thao tác cho dân

trong xóm trở nên đạn dị tình đoàn kết thêm củng cố

Thực dân Pháp đến, những năm cuối thế kỷ 20, đã trang bị cho

Trang 28

“Cai tổng và bương quần trong làng kiểu súng nhỏ, để bắn nải bắn chim hoặc bấn bọn “cướp, sức công phá không mạnh, tay nghề giỏi mới mong hạ được cọp Thợ Bến Cát xưa thuộc tổng -; Bình Hưng, làng Lại Hưng; cách chợ phía đông bấc khoảng 10 km, đến tận câu Đồng Số là đường xe bồ xuyên rừng (trở thành quốc lộ

13) cầu Bến cui, ven suối mọc lên nhiều xóm : Bưng Cột nhà, Bến Tượng, Bén Cha - Vi, đân cự thưa thớt sinh sống bằng

nghề ruộng Hương quản làng Lại Hưng là ông Quan 'Tư, ông được

_ cấp 1 cây súng 2 nồng để giữ trật tự, trong thực tế là dùng để săn bấn, kiếm ăn Ông khỏe mạnh, tánh tình không đến đổi khó -khăn,

thêm biết chữ Hán, chữ nôm nên người trong xóm không thành kiến -Hừng sáng, gân Tết, rừng đẩy sương mù, ông mang súng

mặc áo "bành tô" kaki vàng đi rình bẩy heo rừng phá rẫy đêm trước, từ Bến Tượng, lấn hổi đến Bảng Cò - Kc (tấm bảngcủa

kiểm lâm ghi chữ rừng cấm, đóng trên gốc cây còke, gần vị trí

sân bay Lai Khê sau này) Không thấy gì lạ ông bền cất rừng (đi - tất), nhấm hướng ra Bưng Cột Nhà, theo suối, bổng gặp đống

lá khô bị đẫm nát đoán chừng có cơn thú lớn vừa đi ngang qua, ông ghìm sing Tir trong bong cây ruội phẩng phất mùi khót khét, trong khi tiếng mỗ trẻ bên xóm lân cận vang lên Nhìn

vào bọng cây, ông thấy vài con cọp con mới chào đời, chưa mở mắt Kinh nghiệm cho _ biết cọp mẹ còn đang lẩn quấn bên 6, lập tức ông trèo lên cây to gân bên, ngối ở cháng ba trên cao, rổi cổi áo tro ở cháng ba thấp hơn, gân mặt đất, để cho cọp

mẹ lạc mục tiêu Ông đoán chừng cọp mẹ vào xớm kiếm mối, bị phái biện sấp về, nếu nhảy lên thì không bao giờ chồm tới chỗ ` ông đang - ngồi được Cọp không biết trèo - nhự, méo, sức nhảy không hơn 4 mét, Tiếng mõ gần hơn, chổi cây xao động, , cop

mẹ tọ tướng đang tiến VỆ bong cây để buông con mỗi Đó là một thiếu phụ" mang thai, tóc xöa, che khuất mặt mày, quấn áo tả - tơi Cọp đánh hơi quanh gốc cây, nổi giận, bựơi đống lá vàng Súng nổ, cọp rống to (gội cọp) "hộ, nhảy lên chụp cái áo bành tô mấc ở dưới thấp: Súng nổ phát thứ nhì, rổi thứ ba:

355

Trang 29

Déng bào kéo tới đập đổu mấy con cọp con: để trừ hậu hoạn (theo lời ông Nguyễn Chói, thị xã: Thủ Dâu Mộp) ở

"Cop Bau Long, VS Tong Tân Khánh " giải thoại ' hào ©

hứng :của Thủ Dầu Một "Vô quýt dày, mồng tay nhọn" Xin tóm lược theo, bài đăng tạp chí Phố thông (Sài Gỏn, số 79 -ngày 1-.-

- # - 1962), cla Lam Linh Tử Tác giả bảo dim là chuyện thật sai

xẩy rạ khoảng năm 1889

Từ Thị xã Thủ Dâu Một lên Bến Cát phải qua Lai Khê, Bến Đông SỐ, Bầu Lông sau đó đến Chơn Thành Hớn Quảng `

cách Sài Gòn khoảng 80 km Thuở ấy, chưa có đổn điển : cao -ˆ

su, hương chức hội tế thì đã tổ chức tử lâu Dân nghèo đến pha = rừng, đốt rẫy, sau vài mùa trồng lúa khoại xóm nhà mọc lên, - thay cho những căn chồi nhỏ Mỗi gia đình sấm một đôi trâu hoặc

bò để kếo xe: (gọi xe bò): Người gia trưởng thường là đen ` đúa mạmh khỏe, vợ thì chí thú lầm ăn; tré con gây gd, không được đến (rường: Bịnh sốt rét hoành hành, "rừng thiêng nước độc" Dân trong xóm tầng nhanh thêm người từ địa phương ˆ- khác đến, lúc rảnh rang rủ nhau.di săn chôn; đuổi thỏ rừng với ` bẩy chớ nhỏ con (gọi chó cổ) đánh hơi giỏi tượt khá nhanh - Trẻ con rấp rào đánh lưới thổ, gài bẫy chim, đuổi cút rừng, Đêm ˆ`

trăng, bày ra giải trí : người lớn đẩy cây, kếo tay thử sức, hoặc

bể chân, trổ nhỏ chơi trò "u u bất mọi, nhảy chấn chậu Tết đến,

gặp nhau bên chén rượu, chung trả gân dân ngôi đình dàng B thành hình

Cọp về làng đã nhiều lần, bất bò, hẹo rối di mất hoặc

bị dân làng xua đuổi với tên tẩm thuốc độc, chó sẵn, -mỗ- tre, ˆ thùng thiếc Nhưng phen 46, cọp đến hằng đêm, dân: làng báo -

động mầ cọp không buông con mối hoặc hoáng chạy Các tay võ:°

si, thợ sẵn đểu lo sợ vì cọp lớn quá tâm vóc bình thường; chó thì im lặng, rên 'r] vài tiếng, sau khi chủi xuống bộ vấn Mỗi sáng, chờ khỉ mặt trời mọc khá cao, bọn đàn ông hú: nhau, cùng

di cho đông mang (héo mác, chồng, lao, roi lrường, đàn bà thấp: tùng theo, với đỗ tre thùng thiế Ông hương sự cố con: trâu

356

Trang 30

=> nổi danh, “traw bd: “trong - làng dược pn tụ ai căn, Ân một ah

` -Khể' nhất ® người đi, kéo xe ak học đành đó, tay Đã: “nhiều Ỹ

"` _ nghe: hoi cop, ‘bo ‘chay tr6i: “chết, mang: theo chiếc xe X€: gãy,

bò chay bất - kể ham bố chồng gai, chủ: xe tế nặng khi cố gắng điều khiển.' Hương chức làng hẹn, nhau đến gặp :cai tổng, xin thấy ch.”

mượn thêm súng Lại nhờ đến ' con trâu - Pháo nọ, chiếc” xe

dùng sức bỏ, phải đâm dối cho nấu thoá vào mũi bô để không: đánh được hơi cọp Thếm vài người dân lực lưỡng máng dáo máo, hai bên 'đường cỏn là rừng, hờ cai tổng bảo lãnh, viên chủ tỉnh -

cây súng và đạn tối, ấy thế mà hương quản run sợ: khỉ thấy con

cop (to: lớn: đến ,nhà.: Rủi bắn hụt, một; phát đạn mà không: bạ được - thì cop sé giết người cam súng drọng nhấy mất

Hương chức làng lại đến gặp cai tổng để xin chủ tỉnh cho thêm vài tên lính tập, bây giờ được xem như lính "chính: qui `, người bổn xứ Cai iổng không đồng ý, làm như thế, hóa ra lớn

chuyện, chủ tỉnh người Pháp sẽ: chệ: người Việt: hèn yếu; bất :tài

Thây nghề võ người Việt dư sức đánh cho cọp tổn tới chết,

Hương cả đành trở „về, hỏi han các vùng lấn cận, 'đem lễ vật đến- Giá Bẹ (veh tỉnh Thủ Đầu" Một) để gặp ông Tấm, một

võ sĩ từng: đánh nhiều cọp đữ Ông Tám lớn tuổi hãy côn -

mạnh khỏe, sống với nghề dạy võ: cho cơn em trong xóm Đến Bầu

Lòng, ông được dân làng thết đãi trọng hậu, đậi tất cả niềm tín Đang” buổi tiệc, vào lúc chạng vạng, ai nấy bằng xám ˆ

mặt vì ngoài sân đã có cọp to lớn ! Cọp ngồi chống tó (chống

hai chẩn trước), quo dụ i, Ong, Tam (ahdy võ vùng Gia Hẹ), ngối ` chết trân, rịn mổ hỏi trần, - “The đấu Dân làng bèn đồng

cửa, đánh mổ Cop vươn vai, bước khoan thai về rừng, sau khỉ

Trang 31

rống "cầ-um" Ông Tám phân trần : chưả bao giờ thấy con cọp to, mat may hung han đến thế Ông tuyên bố chịu thua Dân làng

thất vọng Thây hương quản đưa ông Tám về, dọc đường, ghế

quấn nước đọ hỏi rồi đến vùng Tân Long - Tan Khánh, sẵn dịp trình cho cai tổng biết sự việc Thấy cai tổng mỉm cười, bảo gia

nhân lập tức đi tìm ông Ất và ông Giá Hai ông này nổi danh bực

kỳ tài của vùng Tân Khánh, lồ đào tạo võ sĩ từ xưa Cai tổng

khuyên hai ông nên đi Bầu Lòng, rồi dem xác cop về cho bà con Tân Khánh xem chơi: Ông Ất, bấy giờ tuổi hơn 30, cao ráo, đa ngăm

đen, thiên hạ đổn dai ring bap tay chỉ có một cấi xương thay

vì 2 xương như mọi người Có tật có tài Sở trường của ông là sử

dụng roi trường bằng cây mật cật, to như cái chén uống rượu thời xưa, gọi chén mụn (bằng gỗ mun) Ông Giá trắng trẻo, mảnh khảnh hợn, cũng chuyên về roi trường, tuy người dưng, nhưng hai ông

yêu mến nhau thân thiết còn hơn anh em ruột, luôn luôn đi sát

để đánh, vì còn trở về để lo việc nhà Chưa chỉ đã nghe

tiếng động ở ngoài sân, tiếp theo là trẻ con kêu khóc, chó sửa

Người lớn tìm nơi ẩn nấp để xem, trong khi ông Ất cấp rơi ra sân, thủ thế, cồn ông Giá thì đứng bên cửa, tỉnh táo Cọp nhảy

tới, ông Giá tránh một bên, ding roi mà thọc vào hông cop Cop nhảy lên, gào thế Hai bên đánh "nhau, cát bụi bay mi” mịt Trận đánh kéo dài chừng hút tần điếu thuốc thì cọp- hộc lên 1 tiếng, nhảy ra xa, ngoài i khong trống, nằm giữa đưa bốn chân „

Theo tiếng lóng nhà nghề, đó là: miếng võ của cop nguy

hiểm vô cùng, gọi thế "râu dần" Nếu nống nấy, nhảy tới, cẩm roi

mà đánh, cọp sẽ dùng bốn chân 'mà kếm giữ cây roi Tại Người đánh nếu cẩm' giữ roi, sát _ bên cọp thì -bị mốc họng, chết tại

Trang 32

chỗ Còn ñhư buông roi mà chạy thì làm sao 'chạy nhanh hơn cọp

được.' : oe và pc Ta Sola

Ông Giá đã có kinh nghiệm, bèn đứng xa, chống roi cho khóc,

Hồi lâu, sau khi nghỉ mệt, cụp vùng dậy, tiếp tục chiến đấu, Lat sal, cọp thấm mệt lại nằm ngựa với thể "ân dần" lúc nầy Quả a con cop nay già dặn- kinh nghiệm, đã từng ăn thua với thấy- võ nhiều lần Ông Giá chống roi rổi cop đứng dậy, hai bên đánh nhau màn chót Bỗng dưng, cọp rống thật to, quay đầu chạy

Nhưng liển sau đồ cọp lại rống, thất thanh, nằm giấy tại chỗ, có ông Ất đứng bến cạnh Ai nấy ngạc nhiên, số là lúc nãy, ông Ất biết -

cop sắp chạy, tuy đứng dựa cửa, nhưng đã thấy thế trận ông vụt chạy ra đánh chận đường rit tui; cop đối phó không kịp

vào rừng, Sau khi giúp cọp cái sanh "mẹ trỏn con vuông”, cọp đực: '

đưa bà mụ về, hôm sau đến ơn con heo rừng Quanh quần băy

nhiêu chỉ tiế, khiến ta nghĩ ring tất cả cgiai thoại này dâu xuất phát từ miễn Trung bộ phổ biến vào

Chuyện khôi hài “liếu lâm" đã xuất hiện ở Thủ Dấu

Một Lựa chuyện tiêu biểu thật khó, vì trùng lặp voi dia phương khác Mỗi chuyện cđổu có thời gian tính Trong tình, hình ít sách báo, í giao lưu thời xưa thì cười được, nhựng chép lại trên giấy trắng mực đen, thiếu điệu bộ của người kể

chuyện, lắm ' khi: hóa ra lat lo, tróng bối cảnh tâm lý người đời nay

Chuyện ông Cheo, nhà ảo- thuậc một thời phổ biến Quế -

"ông ở quốc lộ 13/ trên đường về Bến Cát tạ Gò Mỗi, giấp tanh "Sở sáo nhà nước, xưa gọi xóm Mương Đía; đến nay,

nếu còn sống, ông cũng hơn-80 tuổi: Hàng ngày ông quấy gánh bán”

359

Trang 33

tạp hĩa, kim chỉ, kẹo bánh, thuốc bút, đi tới lui gẩn 30 km, ˆ đến tận rừng, tận ruộng để chào mời Một hơm, ghế vào căn, chịi quen, gặp lúc chủ nhà đi ving, ơng gọi trẻ nấu nước:

uống Lũ trẻ bảo là hốt củi Lập tức, ơng mượn cây bứa; đặt ` ống chân của ơng sát vào gốc cội nhà, rổi vật vào Ống chân, dâm: -

củi văng ra, lũ trẻ lẫy đĩ mà chụm bếp, Xong xuơi, ơng ngủ một-

giấc dài, ra đi Khi tố, chủ nhà trở về, thấy gốc cột đã tị

đềo mất một bên, hổi lại thì biết ngay là ơng Cheo bày trỏ ảo :

thuật, gạt lũ trẻ Chủ nhà đặn : các con hỄ gặp ơng Cheo thì

đừng ` bất ơng đếo giỏ mà nấu nước, cĩ ngày sập chéi, khơng

+ Ong Trim Pho ở Kiến Điển nổi danh "nĩi đốc, nĩi để cười, chẳng mảy may cĩ ác ý, châm chọc ai Ơng trùm Pho kể hơm

ấy, cùng với hai ba người bạn thân, đất chĩ vào :rừng, sẵn

- được một con' mễn Sẵn đĩi bụng, ơng và các bạn làm thịt mến,

bộ đổ lỏng ném cho chĩ ăn củn xác thì lột da lấy thị nướng lụi Gĩi muối ớt cĩ sẵn, mở ra để - trên cá Cả bon _tHống rượu, ăn hổi lâu gần hết con mễn, ngủ một giấc, chừng : thức dậy, xem lại thì gĩi muối ớt cịn nguyễn "với miếng - lá chuối; bên cạnh đĩ, cát bị khoếi một lỗ tọ bằng cái thúng

Tế ra cả bọn vì say rượu đã chấm thịt ,mễn xuống : cát mà

Mười Cơng, người đổng thời cùng nổi danh một cây tiểu lâm

ở Tân Lộg, Tân Khánh Nghề chính của ơng là trồng 'thuốc và -ˆ làm chút ruộng, Ơng kể rằng bà nội ơng hổi xa xưa, cĩ nuơi một

con cưỡng biết nĩi vành rẽ, chào khách -quen, mời 'khách- ngổi,`-

fa linh cho người ở nhà bếp rốt nước trà hoặc rẩy © chĩ, :

khơng cho sủa dai Xế chiểu, cưỡng nhắc nhớ người nhà vo gạo; nấu cơm kéo trời tối: Một hơm, cưỡng bay đi mất dang, ch nhà buổn rấu, tốn cồng tìm kiếm, nhựng vơ ích Gần nửa năm: sau, bỗng nhiên cưỡng trở về, kêu : " Má ơi con về: nề ! Má

mạnh giỏi khơng ?" Cưỡng độu lên vai chủ nhà mà nĩi tiếp : "Con

360

Trang 34

`.nhớ má quá, Bä chú bói đ “đầu tử: mấy {háng :nay, cưỡng trả -

lời : "Con để: :lấy - chồng, “lớn - rồi, phải kiếm chồng" - Hỏi chống -ở

` đâu `7 Cưỡng đáp : "Chồng của con là cưỡng rừng, nó đậu":

ở, ngoài ta,” khống dám vô nhà, sợ bj ry -Có ba: -đứa con của :

- - e0n đi theo nữa, con tập chờ tụi nó kêu má bằng bà 1" Ae

: Ha những cây trên đó có cây đa ký sinh bám vào, rễ bố than cay ching chit Ja nguy hiểm, khi ngả xuống cây bị vướng víu, lắm

ˆ khi ngã xuống không đúng hướng dự kiến; gây tại nạn chết nual: _ Khi đốn cây tœ mà có cây con mọc kế bên, nên để: phòng vướng

` nhau Có lẽ nên chú 'ý đến giải thoại mà- Trịnh Hoài Đức - chép lại trọng mục Sản: Vật của đất Gia Định : Tháng 7 năm :1780,:-

Nguyễn Ánh truyển cho quân sĩ đốn cây để đóng chiến thuyển, Ở:

rừng - Quang Hóa (hiểu là vùng Trắng Bàng) có một cây sao: lâu: :

“đời ban ngày thường thấy: có đửa sáng như hai “cây đèn, thấy, th ham nhưng: quân sĩ vừa chém nhát ru đâu tiên là lập tức:

hộc máu chết: Ai nấy Hoảng sợ nhưng tướng Đỗ Thành Nhơn,,

bèp đem linh 'trên đế ến, bảo ai sợ sệt thì bị xử -tử Quân at

bền hạ cây cổ thụ nọ Có tiếng nổ to, ánh sáng từ thân 'cây xet

ra, nhựa cây chảy lai láng như máu đỏ Gọi rừng Trảng Bàng,' khu vực:

rộng “thì có thể ăn đến bến kỉa sông, thuộc vùng Đẩu Tiếng,-

nhưng chỉ tiết khác: nói đó là cây dấu chứ không - phải cây sao

- Thợ từng - sợ nhất "trường hợp bat ‘nép bom", Cura nhậm -

gốc cấy bông, chưa, chỉ cây ngả, tố ngang từ dưới lên trên, bung ra:

một miếng tG, giống nhự kiểu nấp quan tài làm bằng thân cây - chế đôi, theo bể “đây Miếng nấp hỏm ấy chối ngược, đập vào:

người cưa Hoặc, trường đhợp vừa mới,cưa cây đã tết ra, kẹp chặt

lưỡi cựa: cũng gây “bật- nấp - hôm", nếu tàn cấy đụng đưa, ie

cơn gid maith “Đường bồm" là dấu ăn sâu trên đường rừng của

xi

Trang 35

bánh xe be, khì tải nặng; chạy xe đạp hoặc xe gắn may, nén di

theo dudng hém (ăn sâu dưới đất như ' cái nắp hồm - lật ngược) Ở rừng có chỗ thợ cưa các loại cây để hấm than, hẩm bằng những lò than nhỏ, để kiếm cơm qua ngày, gọi "lò cơm" "Nhà

tô" là nhà vách đất, kiểu thông dụng gồm hai cẩn, một chái Chái đâm đòn đông ra ngoài đường, chừa cửa khá to, hoặc khoét cửa

sổ, lắm khí khoét lỗ tròn, rổi trang trí xem lỗ ấy là cái nhụy

chung quanh có bốn hoặc năm cánh hoa đấp nổi như phù điều,

trông khá đẹp Ở gần rừng, đổng bào không cẩn trồng mai vàng

Dịp gần Tết, lên rừng tim gốc mai mọc hoang, lấy lá vào giữa tháng chạp, búp vừa nhú ra thì chặt, thui gốc, bán trong xóm

va tận Sài Gòn Qua khoảng đường thưa thớt nhà cửa, đất

đã bạc màu, thỉnh thoảng thấy treo tấm bảng "Bán tranh" hiểu là tranh lợp nhà Trên đồng khô cỏ chấy, nơi đã phá rừng, nhiều 6 méi- trang toát lắm khi bao quanh một gốc cây đã đốn; những

chướng ' ngại vật mà đồng bào chưa biết thanh toán kiểu nào,

cứ để vậy, xem nhự điểm may mắn, trời mửa thắng sấu sẽ có nẤm

mổi, ăn ngon ngọt,

Nhiều tiếng Khơ-Me, được người Kinh dùng, như cây thao lao (do tiếng Tho-lao), cay Bên (gọi bên) cây lỏng mức (gọi Khơ-mứt) Thời trước, xe bd gọi "xe bo" (tiếng Khơ-Me), không đống thùng, dùng tre dan cdi bé để chở hàng hóa Sau đổi ra kiểu xe "chà - rợ (tiếng Khơ-Mej, bánh xe yếu, cấy ví nhỏ (vi

là cây sất xổ qua tum xc, để kếm hai bánh cho cứng), có đồng thùng cây Từ bánh xe đặc, bằng cây xăm xe, đổi ra bánh 16 căm

với niềng sắ, căm bằng cây giáng hương Trong` đổn điển để chở cao su, người Pháp bày ra kiểu xe 14 căm loại to (chở 2 xte chi),

loại nhỏ (khoảng 1 xte) Người đánh xe bồ hoặc xe trâu vẫn giữ

vai trò quan trọng vể vận tải, nhọc nhằn và nguy hiểm nhứ( là khi

leo đốc (gọi giựt đốc), lắm khi đứng'40 độ, suốt khoảng đường" dốc hơn 500 mét xe chở nặng Có: đốc cao (vì lồng suối quá thấp vào mùa nắng) như ở suối Thôn (xã Tân Long) mức sai biệt giữa mùa lụt và mùa khô là trên dưới 10 mết,

Trang 36

` trách ai fin gly bd Bia + ‹

Khi thương, thường “i, khi fia, ha’ xa

Câu hát: trên thường được giải thích t- Ăn: giấy a xếp tờ,

ˆ giấy hứt thuốc lại thành từng "dụng" cỡ bể đài điểu thuốc, nếu,

quá dài thì cất bớt bìa chừng một phân tây Hoặc "ăn giấy là- tiếu dùng giấy "Bỏ bìa” là khi vấn xóng xế bồ - phần còn du,"

rồi sdân điếu thuốc cho chặt, nhiều giấy thì khót › :

ở Thủ Dầu ‘Mot, giải thích: nghe hợp W hơn Hễ ăn trấu với cau khô (thay vì cau tươi thì hương vị kém ngọn, nhổ chứng bạ, bốn lấn là mũi Vị phai lạt phải nha bã, tiếp: tục ăn miếng

khác Để cho lau phái; thường nhai với xác cau tươi, không có thì:

dùng vỏ của cây "Chùm bia’, dễ tìm ở rừng miền Đông Về saul,

người ãn trẩu chọn vỏ cây "giấy, ăn đểo lại thơm thay cho vỏ cây,

"chùm bìa "đã cứng lại chất Câu hát chẽ trách kế "tham phú:

phụ bart, ham vỗ cây "giấy", “bd rợi vỗ “chim bia"

Gió đưu - gió dây hông trang

Bồng búp về nàng, bông nở vỀ -ani.:

/ Bong trang moe khd nhigu ở rừng miễn Dong, nguyên sinh

trắng hoặc đổ, đẹp và nở bên, thêm loại màu vàng Theo 'tên chữ, -

còn gọi “trại mẫu đơn", rể bông trang trấng thường dùng trong ˆ y

dược dan tộc Bông trang trồng, làm cây cảnh, khá phổ biến, để chăm sóc |

Hông búp, không phải là kiểu bông tái của nhà trai đem lặ cho cô đâu tương lai, ngụ ý người dâu là gái chưa chồng, như đóa hoá còn búp, cha nở Đây là chùm bông nhân tạo dơ nhà trái mướn thợ rmmã- "bông" bằng giấy, theo hình dáng tám đóa hoa sen, còn - búp :Dịp đám hỏi, ngoài lễ vật trẩu cau, trà rượu, thời:

xưa, đàng trai phải mạng theo chùm hoa búp màu đỏ này, để nhà:

"gŸữi treo: trong nhà, làm dấu hiệu cho hàng xóm biết sắp gả com:

gái Đến ngấy cưới, nhà trai lại đem một- chùm -bông bằng giấy,

đổ nhự lấn trước, tim hoa sen, nhưng là hoa mãn khải

Trang 37

Đồng bào nhớ trước nằm ' 45 hãy còn thấy chim: quyên :

"Chim quyên xuống đất ăn trùng Anh hùng lỡ vận, lên nguồn (lên rừng) đốt than", Ngày nay, giống chim này không, còn nữa, Đặt tên quyên vì kêu nghe thành thốt, mường tượng _ tiếng

"huyện, huyện, huyện " Chim nảy VỐC cỡ con cường, con sáo, mô ˆ

đổ sâm, khá to; bai chân cũng đổ như son; lông từ đâu, thẹo' lưng đến duôi màu xanh tươi như lông kết, hai bên cánh có lông mau tím như chim sa sd (thang chai), byng mau văng: nghệ Mùa lúa chín khí đến ven rừng, bờ suối gặp toàn chim lớn chưa ai bật được chim còn, hoặc thấy ổ, thấy trứng nó bao giờ Giống nay’

“bay rất chậm, chỉ biết chuyển qua chuyển lại trên nhánh cây Lũ trẻ hể gặp là hồ hét lên đùng giàn thun, dùng đất ném, khiến

chìm phải dời chỗ đậu Lúc đuổi phải bố trí phương hướng, nhằm

“đưa chim ra ngoài đồng trống, Chim -bị đuổi, bay không nghỉ, đuổi sức, tế xuống đất nơi môi trường không thích hợp, đi đứng rất vụng vể, thường là bất, tỉnh Bắt được thổi hoặc hà hợi vào miệng cho thêm vài giọt nước suối, lát sau, chim sống lại Đưa vào lồng, chím sống ủ rũ, ít ăn, Người Hoà kiểu dấm mua chim

quyên với giá cao, nuôi cẩn thận để nghe tiếng hót, nhưng có kỹ

thuật và kiên nhẫn chăm sóc thì chim mới sống quen ong lổng Nhân lồng là loại dây rừng, trái nhỏ, -trỏn, gần: như, bộng

ruột, với vài hột khi chín, ăn ngọt, bên: ngoài có đài họa

khá rộng, như cái lổng, còn gọi trái chùm bao Dây nhãn lông sắc lại, uống thạy thể thuốc trợ tìm passiflorine Khác với loại nhần lổng hột nhỏ, cơm dày rất cuí ở xứ Huế (tư liệu của Nguyễn

Trang 38

= Nain’ bộ gởi đến.-

“TRẠI ÔNG YÊM ĐỂ | BON, ĐIỂN CAO SỦ :

‘Vig Bén- Cá, :dưới mất 3 người Pháp hồi “đu thế ký 20, l

cao Ñ “tưởng để mở nấững Trung tâm thử.nghiệm dành cho tả Nam- bộ” về tông lầm va đào tao lớp cán - sự chuyên ah, w các tinh:

AL TRUNG TAM THỨ NGHIỆM C CANH NÔNG: BỀN CAT

: ˆ Thành lập rất sớm, năm 1891, nhằm, thử nghiệm vài loai cay)

_,#nồ giới thực dẫn dự kiến sẽ trồng với quï vô lớn ở Nam kỳ, -

,„ đồng thời đưa vài loại cây nhiệt đới ở xứ khác đến, để thuần

hóa, lân hồi thích hợp với địa phương Trung, tam này: ở cách

Sài Gòn'57 km, bên triển một thung Hũng giữa quốc lộ 13 và on

suối Đông Sổ, thuận lợi về tiêu tưới Trọng bước đấu, trồng vài

2 “giống mía cố nămg suất cao, tiêu, Khoai lang, bông vải, thuốc ' lá cây lấy bột hoành tinh,:kết, quả và kinh nghiệm được 'Đáo: cáo, cụ thể,

_đăng tải lẫn lượt trên tập.;san' Kinh ;Tế Đông Dương (Bulletin

Économidue de 1? Indochine) Nói chung là không thực ,tế, trồng với qui mô nhỏ, làm cảnh, để báo cáo, ấn -lượng.:Năm sau (1898) -

nhằm vào trọng tâm cây cao su và cây cà phê Đất: xám,, kém

mâu mỡ, đòi hỏi kiên nhẫn và kỹ: thuật cáo, khi cây lớn lên,: cáo”

: mủ, dựng: nhà _máy sấy mil t nhỏ Năm 1920, sản xuất hơn ˆ8 ha Thủ khổ

suất khả Năm 4y, giống `cà phê AArahica, Rô-buýcia (Robusta) ©

*¿ côn -tợ, chưa ra trái Dây va-ni cho :bột thơm để làm bánh cũng - trồng thử, cho đây bấm trên cây rừng và léo lên nọc Đã tạo:

- được: chút ít, cây cà phê, cây cáo su con để bán cho giới trồng:

Ta người Âu Ngoài ra côn nuôi thử cừu, heo, thêm trâu bồ để

HN TRƯỜNG NÔNG LAM BEN CAT:

‘Thanh lập từ năm 1918 đối' diện với trung tâm - thử nghiệm : cây “con, cây 'giống - nói trên, chuyên đào: tạo cán sự canh nông Xã

Trang 39

lâm nghiệp để phân phối cho các Ty Kiểm Làm và Ty Canh

Nông : mặt bằng chiếm 25 héc-ta Hạc sinh từ các tỉnh đến dự thi tuyển phải có bằng cấp sơ học, Khóa học kếo dài 2 năm, đạy về trồng lứa, trổng bông hoa, trồng đâu nuôi tầm, trồng cây con để

gây rừng Ngoài ra dạy thêm về) đo đạc diện tích, chúc it

toán học và chữ Pháp để sau này làm việc với người ,Pháp Vừa bọc, vừa thực tập, học sinh phải chịu cực trồng cây giống, bón phân tưới nước Báy giờ, đa số học sinh tổ ra nản chí, tránh công

việc tay chân nặng nhọc Số học sinh rất ít, đỗ đạt chang ‘bao

nhiêu và giảm lấn Thí dụ như năm 1918, 16 học sinh dugc chấm đậu ra trường trong tổng số 28, đến năm 1221 bẻn- cho đậu

10 trong tổng số 10 !

3 TRẠI GIAM ÔNG YỆM :

Đây là nhà tù giành riêng cho trẻ phạm pháp, vị thành niên (dưới 18 tuổi, gân trường nói trên thành lập từ năm 1907-1908

Ngoài việc đan tre, đa số tù phạm phải chăm sóc vườn cao su, làm

cổ, cạo mũ Năm 1021, khu vườn này cố đến 8200 gốc, cho: 7 tấn mủ khô Ngoài vườn cao su bên cạnh trại giam còn thêm: khu vườn phụ, ở Bưng Câu Công việc khó nhọc, bọn cai tù hành

hạ trẻ con đánh đập tần nhẫn, Trong một thời gian khá dài,

ba tiếng "đi ông Yệm" trở thành lời hăm dọa, nguyễn rủa đối với trẻ con như là kiểu địa ngục trấn gian Thực dân gọi công khai là

trung tâm sửa trị trừng trị thậm chí gọi nhà tù khổ sai Ông

Yệm (Maison Correcuonnclle, Pénitenczir)

Đồn điển cao su (thời trước gọi Vườn cao su) lần đấu tiên

năm 1898, thành lập ở ngoại thành Sài Gòn (Hạnh Thông Tây,

Gà Vấp) rổi phát triển phía Tây Ninh, có sẵn lộ xe, vỂ sau trồng qua vùng đất đỏ Trải qua bao nhiêu biến cố, tỉnh Thủ Dấu Một vẫn đứng đấu về cao sự ở miễn Đồng Nam Bộ và cả nước

Trung tâm ông Yệm mở đổu việc trồng thử nghiệm Viện

Nghiên Cứu cây cao su ở Đông Dương (Pháp gọi tất IRCL -

: 306

Trang 40

— Insitut des Recherches Sur Le Caouichouc en ladochine) thành lập

năm 194! cũng lấy Thủ Đẩu Một làm thí điểm và đặt trụ sở

ở Lai Khê, với vườn thử nghiệm ở Lai Khê (220 ha), và Bù Nho-Ba Ra (130 ha)

Nhiều tư liệu chuyên để về cây cao su đã lấn lượt ấn

hành Nói là phát triển sớm, nhưng so với Anh và Hòa Lan thì thực dân Pháp chạy theo quá muộn màng, thoạt tiên là sáng kiến

cá nhân và vốn lếng nhỏ; đến sau đệ nhất thế chiến (1914 -

1918) mới bắt đấu phát triển mạnh, tạo chỗ đứng trên thị trường _

chứng khoán ở Pháp về việc mua bán, sang nhượng cổ phẩn Từ

1919 đến 1925, trồng được 25 phân trặm diện tích (so với 1945); `

75 phan tram diện tích còn lại trồng từ 1925 đến 1939 Day

là những công ty lớn, có phẩn hùn của vài ngân hàng bên Pháp, _

Hòa Lan, các nhóm tài phiệt Pháp Bọn thực dân "cá mập" này đã ' giựt dây bọn viên chức thuộc địa từ Phủ Toàn Quyển Đông

Dương đến Thống Đốc Nam Kỳ, chủ tinh, vì vậy, bao nhiêu

bất công áp bức xảy ra đổu được bao che, dung túng Mỗi công ty độn điển là vương quốc nhỏ, với quyển sát sỉnh, đánh đập Luật lệ của Thanh Tra Lao Động và Ngành Y Tế không

được: tôn trọng về hình thức lẫn nội dung

Phu cao sự thoại tiên là người Việt địa phương và người dân tộc Đến năm 1922 đồn điển cao su Lộc Ninh vẫn còn

sử dụng công nhân người Chàvà (Javanais), hiểu là phu mộ từ

In-đô-nê-si-a, nơi có đồn điển cao su mở sớm hơn ở Đông

Dương Bọn chủ Pháp cho tuyển mộ, vì đã có sẵn tay nghề

cao VỀ sau, họ trở về xứ, vì không quen được với môi trường xả

lạ, mặt khác thực dân Hà' Lan ở In-đô-nẻ-sia cấm xuất khẩu công

nhân cao su làm nghề để chống lại sự cạnh tranh của Pháp ở

` Việt Nam

Người dân tộc được sử dụng vào buổi đấu, vì phá rừng

giỏi Rừng we nguyên sinh của Thủ Dâu Một bị đốt bỏ, để lấy mặt bằng Vài du khách mô tả khung cảnh chấy rừng : tre nổ

đòn, lên tục ngày đêm, trong nhiểu tháng Thú rùng chạy trỐn -

tán- loạn, người dan không còn đất để làm rây và cư trú Bay”:

361

Ngày đăng: 18/07/2022, 14:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w